<?xml version="1.0" encoding="UTF-8"?><rss version="2.0"
	xmlns:content="http://purl.org/rss/1.0/modules/content/"
	xmlns:wfw="http://wellformedweb.org/CommentAPI/"
	xmlns:dc="http://purl.org/dc/elements/1.1/"
	xmlns:atom="http://www.w3.org/2005/Atom"
	xmlns:sy="http://purl.org/rss/1.0/modules/syndication/"
	xmlns:slash="http://purl.org/rss/1.0/modules/slash/"
	>

<channel>
	<title>Thích Minh Châu Archives - Tàng Kinh Các</title>
	<atom:link href="https://tangkinhcac.org/category/thich-minh-chau/feed/" rel="self" type="application/rss+xml" />
	<link>https://tangkinhcac.org/category/thich-minh-chau/</link>
	<description>Sưu Tầm và Chia Sẻ Kinh Sách</description>
	<lastBuildDate>Tue, 01 Sep 2026 16:36:52 +0000</lastBuildDate>
	<language>en</language>
	<sy:updatePeriod>
	hourly	</sy:updatePeriod>
	<sy:updateFrequency>
	1	</sy:updateFrequency>
	<generator>https://wordpress.org/?v=7.1.3</generator>

<image>
	<url>https://tangkinhcac.org/wp-content/uploads/2026/02/cropped-banh-xe-phap-luan-vector-3-removebg-preview-32x32.png</url>
	<title>Thích Minh Châu Archives - Tàng Kinh Các</title>
	<link>https://tangkinhcac.org/category/thich-minh-chau/</link>
	<width>32</width>
	<height>32</height>
</image> 
	<item>
		<title>Kinh Tiểu Bộ Khuddaka Nikaya &#124; Bộ Mới</title>
		<link>https://tangkinhcac.org/kinh-tieu-bo-khuddaka-nikaya-bo-moi/</link>
		
		<dc:creator><![CDATA[admin]]></dc:creator>
		<pubDate>Tue, 17 Feb 2026 07:48:51 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Kinh]]></category>
		<category><![CDATA[Kinh Tạng Nam Truyền]]></category>
		<category><![CDATA[KInh Tiểu Bộ]]></category>
		<category><![CDATA[Pdf]]></category>
		<category><![CDATA[Thích Minh Châu]]></category>
		<category><![CDATA[KHUDDAKA NIKAYA]]></category>
		<category><![CDATA[pdf]]></category>
		<category><![CDATA[TỲ KHƯU INDACANDA]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://tangkinhcac.org/?p=1065</guid>

					<description><![CDATA[<p>VIỆN&#160;NGHIÊN CỨU&#160;PHẬT HỌC&#160;VIỆT NAM TAM TẠNG&#160;THÁNH ĐIỂN&#160;PHẬT GIÁO VIỆT NAM KINH&#160;TIỂU BỘ KHUDDAKA NIKAYA&#160; DỊCH GIẢ:&#160;TỲ KHƯU INDACANDA NHÀ XUẤT BẢN HỒNG ĐỨC 2022 LỜI&#160;CHỨNG MINH Nam-mô&#160;Bản Sư&#160;Thích-ca Mâu-ni&#160;Phật Trong Kỉnh&#160;Hoa Nghiêm&#160;có ghi: &#8220;Phật dĩ&#160;nhất nhất&#160;thân, xứ xứ chuyển pháp /沥〃&#8221;（佛以一一身，處處轉法輪）,nghía là&#160;đức Phật&#160;luôn dùng tất cả&#160;hóa thân&#160;của mình, ở&#160;mọi nơi&#160;mọi chốn&#160;chuyển bánh xe pháp. Thật&#160;hoan [&#8230;]</p>
<p>The post <a href="https://tangkinhcac.org/kinh-tieu-bo-khuddaka-nikaya-bo-moi/">Kinh Tiểu Bộ Khuddaka Nikaya | Bộ Mới</a> appeared first on <a href="https://tangkinhcac.org">Tàng Kinh Các</a>.</p>
]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[
<p class="has-text-align-center wp-block-paragraph">VIỆN&nbsp;NGHIÊN CỨU&nbsp;PHẬT HỌC&nbsp;VIỆT NAM</p>



<p class="has-text-align-center wp-block-paragraph">TAM TẠNG&nbsp;THÁNH ĐIỂN&nbsp;PHẬT GIÁO VIỆT NAM</p>



<p class="has-text-align-center wp-block-paragraph"><strong><mark style="background-color:rgba(0, 0, 0, 0);color:#cf2e2e" class="has-inline-color">KINH&nbsp;TIỂU BỘ</mark></strong></p>



<p class="has-text-align-center wp-block-paragraph"><strong><mark style="background-color:rgba(0, 0, 0, 0);color:#cf2e2e" class="has-inline-color">KHUDDAKA NIKAYA&nbsp;</mark></strong></p>



<p class="has-text-align-center wp-block-paragraph">DỊCH GIẢ:&nbsp;<strong><em>TỲ KHƯU INDACANDA</em></strong></p>



<p class="has-text-align-center wp-block-paragraph">NHÀ XUẤT BẢN HỒNG ĐỨC 2022</p>



<figure class="wp-block-image aligncenter size-full"><img fetchpriority="high" decoding="async" width="300" height="422" src="https://tangkinhcac.org/wp-content/uploads/2026/02/kinh-tieu-bo.jpg" alt="" class="wp-image-1046" srcset="https://tangkinhcac.org/wp-content/uploads/2026/02/kinh-tieu-bo.jpg 300w, https://tangkinhcac.org/wp-content/uploads/2026/02/kinh-tieu-bo-213x300.jpg 213w" sizes="(max-width: 300px) 100vw, 300px" /></figure>



<p class="has-text-align-center wp-block-paragraph"><a href="https://thuvienhoasen.org/images/file/WC1wv87L2ggBADo9/kinh-tieu-bo.jpg"></a></p>



<p class="wp-block-paragraph"><strong>LỜI&nbsp;CHỨNG MINH</strong></p>



<p class="wp-block-paragraph">Nam-mô&nbsp;Bản Sư&nbsp;Thích-ca Mâu-ni&nbsp;Phật</p>



<p class="wp-block-paragraph">Trong Kỉnh&nbsp;Hoa Nghiêm&nbsp;có ghi: &#8220;Phật dĩ&nbsp;nhất nhất&nbsp;thân, xứ xứ chuyển pháp /沥〃&#8221;（佛以一一身，處處轉法輪）,nghía là&nbsp;đức Phật&nbsp;luôn dùng tất cả&nbsp;hóa thân&nbsp;của mình, ở&nbsp;mọi nơi&nbsp;mọi chốn&nbsp;chuyển bánh xe pháp. Thật&nbsp;hoan hỷ,&nbsp;tinh thần&nbsp;chuyển bánh xe pháp&nbsp;của&nbsp;đức Phật&nbsp;đã và đang được&nbsp;chư Tôn&nbsp;đức&nbsp;Hội đồng&nbsp;Tri sự&nbsp;Giáo hội Phật giáo Việt Nam&nbsp;triển khai&nbsp;một cách&nbsp;hiệu quả.&nbsp;Đặc biệt, trên&nbsp;phương diện&nbsp;hoăng truyên kinh điên,&nbsp;chư Tôn&nbsp;đức đã có những định hướng&nbsp;đúng đắn&nbsp;cho Viện&nbsp;Nghiên cứu&nbsp;Phật học&nbsp;Việt Nam&nbsp;tiến hành&nbsp;phiên dịch, san định, ấn tống Kinh, Luật, Luận, Sớ giải có nguồn gốc&nbsp;từ tạng&nbsp;Pali, Sanskrit, Hán cổ và các&nbsp;ngôn ngữ&nbsp;khác&#8230;</p>



<p class="wp-block-paragraph">Khi&nbsp;nghiên cứu, hoằng&nbsp;truyền kinh&nbsp;điển, nhà Phật&nbsp;thường có&nbsp;câu: Dĩ&nbsp;Thánh giáo&nbsp;vi minh cảnh chiêu kiên&nbsp;tự tâm, dĩ&nbsp;tự tâm&nbsp;vi trí đăng chiêu kinh u chr （以 聖教爲明鏡照見自心，以自心爲智燈照經幽旨）,nghĩa là lấy&nbsp;Phật pháp&nbsp;làm tâm&nbsp;gương sáng&nbsp;soi vào&nbsp;tự tâm, lây&nbsp;tự tâm&nbsp;làm&nbsp;ngọn đèn&nbsp;trí soi tỏ chô&nbsp;thâm sâu&nbsp;của kinh điên. Những&nbsp;Phật sự&nbsp;được&nbsp;chư Tôn&nbsp;đức trong Viện&nbsp;Nghiên cứu&nbsp;Phật học&nbsp;Việt Nam&nbsp;đã và đang&nbsp;thực hiện, thực sự là những&nbsp;việc làm&nbsp;trân quý. Việc ấy không chỉ làm sáng&nbsp;bản tâm&nbsp;của mỗi&nbsp;hành giả&nbsp;nghiên cứu&nbsp;mà còn&nbsp;chuyển hóa&nbsp;lời Phật dạy&nbsp;một cách&nbsp;dễ hiểu, dễ học, dễ hành, gần gũi với cuộc sống đời thường. Thông qua đó, môi&nbsp;hành giả&nbsp;có được cách tiêp cận,&nbsp;tu tập,&nbsp;thực hành&nbsp;lời Phật dạy,&nbsp;thành tựu&nbsp;nhiều kết quả hơn.</p>



<p class="wp-block-paragraph">Từ việc&nbsp;nghiên cứu&nbsp;kinh điển, nhìn lại&nbsp;Phật giáo Việt Nam,&nbsp;chúng ta&nbsp;mới thấy,&nbsp;Phật giáo Việt Nam&nbsp;với chiều dài&nbsp;lịch sử&nbsp;trên dưới 2000 năm&nbsp;đồng hành&nbsp;cùng dân&nbsp;tộc, đã tạo nên những&nbsp;giá trị&nbsp;Phật giáo&nbsp;đặc biệt, đóng&nbsp;vai trò&nbsp;trụ cột trong việc&nbsp;gìn giữ&nbsp;nền&nbsp;văn hóa&nbsp;Việt&nbsp;thời kỳ&nbsp;1000 năm Bắc thuộc, làm cho dân tộc&nbsp;Việt Nam&nbsp;trở nên vĩ đại nhất&nbsp;trong lịch sử&nbsp;phong kiến&nbsp;nước nhà vào&nbsp;thời đại&nbsp;Lý &#8211; Trần, vẫn đang&nbsp;tiếp tục&nbsp;đồng hành&nbsp;cùng đất nước trong&nbsp;thời kỳ&nbsp;hội nhập với&nbsp;phương châm&nbsp;&#8220;Đạo pháp &#8211; Dân tộc.&#8221; Chính vì vậy? những&nbsp;Phật sự&nbsp;của&nbsp;chư Tôn&nbsp;đức trong Viện&nbsp;Nghiên cứu&nbsp;Phật học&nbsp;Việt Nam&nbsp;đang&nbsp;thực hiện&nbsp;có&nbsp;ý nghĩa&nbsp;hét sức quan trọng trong việc “<em>kế vãng khai lai, truyên trì đạo mạch</em>&#8220;, không chỉ làm cho&nbsp;Phật pháp&nbsp;xương minh, trường ton ở the gian mà còn góp phan làm cho&nbsp;Phật giáo Việt Nam&nbsp;tiếp nối&nbsp;truyền thống&nbsp;tốt đẹp&nbsp;từ ngàn xua, phát triển lên một tầm cao mới.&nbsp;Hy vọng&nbsp;mỗi&nbsp;hành giả&nbsp;chúng ta&nbsp;nỗ lực&nbsp;hơn nữa để&nbsp;thành tựu&nbsp;giải thoát&nbsp;và&nbsp;hoàn thành&nbsp;sứ mệnh &#8220;<em>Tác&nbsp;Như Lai sứ, hành&nbsp;Như Lai&nbsp;sự</em>.&#8221;</p>



<p class="wp-block-paragraph">Nguyện câu&nbsp;Phật nhật&nbsp;tăng huy,&nbsp;Pháp luân&nbsp;thường chuyên, thê giới hòa bình,&nbsp;nhân dân&nbsp;an lạc.</p>



<p class="wp-block-paragraph">Nam-mố&nbsp;Hoan Hỷ&nbsp;Tạng Bồ-tát, tác&nbsp;đại chứng&nbsp;minh.</p>



<p class="wp-block-paragraph">VesakLiên Hợp Quốc, PL.2563 &#8211; DL.2019<br><strong>Trưởng lão&nbsp;Hòa thượng&nbsp;THÍCH PHỔ TUỆ</strong><br>(Pháp chủ&nbsp;Giáo hội Phật giáo Việt Nam</p>



<p class="wp-block-paragraph"><br><a href="https://thuvienhoasen.org/images/file/yej8bJCf2QgBAFdC/pdf-icon-4-.jpg"></a></p>



<p class="wp-block-paragraph">TẬP 1<br></p>



<p class="wp-block-paragraph"><a href="https://tangkinhcac.org/wp-content/uploads/2026/02/00-phan-mo-dau-2.pdf">00.-Phần-Mở-Đầu</a><br><a href="https://tangkinhcac.org/wp-content/uploads/2026/02/01-tieu-tung-khuddakap-ha-.pdf">01.-TIỂU-TỤNG-(Khuddakapāṭha)</a><br><a href="https://tangkinhcac.org/wp-content/uploads/2026/02/02-phap-cu-dhammapada-.pdf">02.-PHÁP-CÚ-(Dhammapada)</a><br><a href="https://tangkinhcac.org/wp-content/uploads/2026/02/03-kinh-phat-tu-thuyet-ud-na-.pdf">03.-KINH-PHẬT-TỰ-THUYẾT-(Udāna)</a><br><a href="https://tangkinhcac.org/wp-content/uploads/2026/02/04-kinh-phat-thuyet-nhu-vay-itivuttaka-.pdf">04.-KINH-PHẬT-THUYẾT-NHƯ-VẬY-(Itivuttaka)</a><br><a href="https://tangkinhcac.org/wp-content/uploads/2026/02/05-kinh-tap-suttanip-ta-.pdf">05.-KINH-TẬP-(Suttanipāta)</a><br><a href="https://tangkinhcac.org/wp-content/uploads/2026/02/06-chuyen-thien-cung-vim-navatthu-.pdf">06.-CHUYỆN-THIÊN-CUNG-(Vimānavatthu)</a><br><a href="https://tangkinhcac.org/wp-content/uploads/2026/02/07-chuyen-nga-quy-petavatthu-.pdf">07.-CHUYỆN-NGẠ-QUỶ-(Petavatthu)</a><br><a href="https://tangkinhcac.org/wp-content/uploads/2026/02/08-truong-lao-tang-ke-therag-th-.pdf">08.-TRƯỞNG-LÃO-TĂNG-KỆ-(Theragāthā)</a><br><a href="https://tangkinhcac.org/wp-content/uploads/2026/02/09-truong-lao-ni-ke-ther-g-th-.pdf">09.-TRƯỞNG-LÃO-NI-KỆ-(Therīgāthā)</a><br><a href="https://tangkinhcac.org/wp-content/uploads/2026/02/phu-luc-4.pdf">Phụ-Lục</a><br></p>



<p class="wp-block-paragraph">TẬP 2<br></p>



<p class="wp-block-paragraph"><a href="https://thuvienhoasen.org/images/file/OyUt98HL2ggQAHJk/00-phan-mo-dau.pdf">00.-Phần-Mở-Đầu<br></a><a href="https://tangkinhcac.org/wp-content/uploads/2026/02/10-chuyen-tien-than-j-taka-chuong-i-mot-ke-ekanip-ta-1-150-.pdf">10 -CHUYỆN-TIỀN-THÂN-(Jātaka)-Chương-I-Một-Kệ-(Ekanipāta)-(1-150)</a><br><a href="https://tangkinhcac.org/wp-content/uploads/2026/02/11-chuyen-tien-than-j-taka-chuong-ii-hai-ke-dukanip-ta-151-250-.pdf">11 -CHUYỆN-TIỀN-THÂN-(Jātaka)-Chương-II-Hai-Kệ-(Dukanipāta)-(151-250)<br></a><a href="https://tangkinhcac.org/wp-content/uploads/2026/02/12-chuyen-tien-than-j-taka-chuong-iii-ba-ke-tikanip-ta-251-300-.pdf">12 -CHUYỆN-TIỀN-THÂN-(Jātaka)-Chương-III-Ba-Kệ-(Tikanipāta)-(251-300)<br></a><a href="https://tangkinhcac.org/wp-content/uploads/2026/02/13-chuyen-tien-than-j-taka-chuong-iv-bon-ke-catukkanip-ta-301-350-.pdf">13 -CHUYỆN-TIỀN-THÂN-(Jātaka)-Chương-IV-Bốn-Kệ-(Catukkanipāta)-(301-350)<br></a><a href="https://tangkinhcac.org/wp-content/uploads/2026/02/14-chuyen-tien-than-j-taka-chuong-v-nam-ke-pa-canip-ta-351-375-.pdf">14 -CHUYỆN-TIỀN-THÂN-(Jātaka)-Chương-V-Năm-Kệ-(Pañcanipāta)-(351-375)<br></a><a href="https://tangkinhcac.org/wp-content/uploads/2026/02/15-chuyen-tien-than-j-taka-chuong-vi-sau-ke-chanip-ta-375-395-.pdf">15 -CHUYỆN-TIỀN-THÂN-(Jātaka)-Chương-VI-Sáu-Kệ-(Chanipāta)-(375-395)<br></a><a href="https://tangkinhcac.org/wp-content/uploads/2026/02/16-chuyen-tien-than-j-taka-chuong-vii-bay-ke-sattanip-ta-396-416-.pdf">16 -CHUYỆN-TIỀN-THÂN-(Jātaka)-Chương-VII&#8211;Bảy-Kệ-(Sattanipāta)-(396-416)<br></a><a href="https://tangkinhcac.org/wp-content/uploads/2026/02/17-chuyen-tien-than-j-taka-chuong-viii-tam-ke-a-hanip-ta-417-426-.pdf">17 -CHUYỆN-TIỀN-THÂN-(Jātaka)-Chương-VIII-Tám-Kệ-(Aṭṭhanipāta)-(417-426)<br></a><a href="https://tangkinhcac.org/wp-content/uploads/2026/02/18-chuyen-tien-than-j-taka-chuong-ix-chin-ke-navanip-ta-427-438-.pdf">18 -CHUYỆN-TIỀN-THÂN-(Jātaka)-Chương-IX-Chín-Kệ-(Navanipāta)-(427-438)<br></a><a href="https://tangkinhcac.org/wp-content/uploads/2026/02/phu-luc-5.pdf">Phụ-Lục</a><br></p>



<p class="wp-block-paragraph">TẬP 3<br><a href="https://thuvienhoasen.org/images/file/SBp8m8TL2ggQAJFC/phu-luc.pdf"></a></p>



<p class="wp-block-paragraph"><a href="https://tangkinhcac.org/wp-content/uploads/2026/02/00-phan-mo-dau-4.pdf">00.-Phần-Mở-Đầu<br></a><a href="https://tangkinhcac.org/wp-content/uploads/2026/02/19-chuyen-tien-than-j-taka-chuong-x-muoi-ke-dasanip-ta-439-454-.pdf">19 -CHUYỆN-TIỀN-THÂN-(Jātaka)-Chương-X-Mười-Kệ-(Dasanipāta)-(439-454)<br></a><a href="https://tangkinhcac.org/wp-content/uploads/2026/02/20-chuyen-tien-than-j-taka-chuong-xi-muoi-mot-ke-ek-dasanip-ta-455-463-.pdf" data-type="link" data-id="https://tangkinhcac.org/wp-content/uploads/2026/02/20-chuyen-tien-than-j-taka-chuong-xi-muoi-mot-ke-ek-dasanip-ta-455-463-.pdf">20 -CHUYỆN-TIỀN-THÂN-(Jātaka)-Chương-XI-Mười-Một-Kệ-(Ekādasanipāta)-(455-463)</a><br><a href="https://tangkinhcac.org/wp-content/uploads/2026/02/10-12-chuyen-tien-than-j-taka-chuong-xii-muoi-hai-ke-dv-dasanip-ta-464-473-.pdf" data-type="link" data-id="https://tangkinhcac.org/wp-content/uploads/2026/02/10-12-chuyen-tien-than-j-taka-chuong-xii-muoi-hai-ke-dv-dasanip-ta-464-473-.pdf">21 -CHUYỆN-TIỀN-THÂN-(Jātaka)-Chương-XII-Mười-Hai-Kệ-(Dvādasanipāta)-(464-473)</a><br><a href="https://tangkinhcac.org/wp-content/uploads/2026/02/22-chuyen-tien-than-j-taka-chuong-xiii-muoi-ba-ke-terasanip-ta-474-483-.pdf" data-type="link" data-id="https://tangkinhcac.org/wp-content/uploads/2026/02/22-chuyen-tien-than-j-taka-chuong-xiii-muoi-ba-ke-terasanip-ta-474-483-.pdf">22 -CHUYỆN-TIỀN-THÂN-(Jātaka)-Chương-XIII-Mười-Ba-Kệ-(Terasanipāta)-(474-483)<br></a><a href="https://tangkinhcac.org/wp-content/uploads/2026/02/23-chuyen-tien-than-j-taka-chuong-xiv-tap-ke-paki-akanip-ta-484-496-.pdf">23 -CHUYỆN-TIỀN-THÂN-(Jātaka)-Chương-XIV-Tạp-Kệ-(Pakiṇṇakanipāta)-(484-496)<br></a><a href="https://tangkinhcac.org/wp-content/uploads/2026/02/24-chuyen-tien-than-j-taka-chuong-xv-hai-muoi-ke-v-satinip-ta-497-510-.pdf">24 -CHUYỆN-TIỀN-THÂN-(Jātaka)-Chương-XV-Hai-Mươi-Kệ-(Vīsatinipāta)-(497-510)<br></a><a href="https://tangkinhcac.org/wp-content/uploads/2026/02/25-chuyen-tien-than-j-taka-chuong-xvi-ba-muoi-ke-ti-sanip-ta-511-520-.pdf">25 -CHUYỆN-TIỀN-THÂN-(Jātaka)-Chương-XVI-Ba-Mươi-Kệ-(Tiṁsanipāta)-(511-520)<br></a><a href="https://tangkinhcac.org/wp-content/uploads/2026/02/26-chuyen-tien-than-j-taka-chuong-xvii-bon-muoi-ke-catt-l-sanip-ta-521-525-.pdf">26 -CHUYỆN-TIỀN-THÂN-(Jātaka)-Chương-XVII-Bốn-Mươi-Kệ-(Cattālīsanipāta)-(521-525)<br></a><a href="https://tangkinhcac.org/wp-content/uploads/2026/02/27-chuyen-tien-than-j-taka-chuong-xviii-nam-muoi-ke-pa-sanip-ta-526-528-.pdf">27 -CHUYỆN-TIỀN-THÂN-(Jātaka)-Chương-XVIII-Năm-Mươi-Kệ-(Paṇṇāsanipāta)-(526-528)<br></a><a href="https://tangkinhcac.org/wp-content/uploads/2026/02/28-chuyen-tien-than-j-taka-chuong-xix-sau-muoi-ke-cha-hinip-ta-529-530-.pdf">28 -CHUYỆN-TIỀN-THÂN-(Jātaka)-Chương-XIX-Sáu-Mươi-Kệ-(Chaṭṭhinipāta)-(529-530)<br></a><a href="https://tangkinhcac.org/wp-content/uploads/2026/02/29-chuyen-tien-than-j-taka-chuong-xx-bay-muoi-ke-sattatinip-ta-531-532-.pdf">29 -CHUYỆN-TIỀN-THÂN-(Jātaka)-Chương-XX-Bảy-Mươi-Kệ-(Sattatinipāta)-(531-532)<br></a><a href="https://tangkinhcac.org/wp-content/uploads/2026/02/30-chuyen-tien-than-j-taka-chuong-xxi-tam-muoi-ke-as-tinip-ta-533-537-.pdf">30 -CHUYỆN-TIỀN-THÂN-(Jātaka)-Chương-XXI-Tám-Mươi-Kệ-(Asītinipāta)-(533-537)<br></a><a href="https://tangkinhcac.org/wp-content/uploads/2026/02/31-chuyen-tien-than-j-taka-chuong-xxii-dai-pham-mah-nip-ta-538-547-.pdf">31 -CHUYỆN-TIỀN-THÂN-(Jātaka)-Chương-XXII-Đại-Phẩm-(Mahānipāta)-(538-547)</a><a href="https://thuvienhoasen.org/images/file/82QYRcTL2ggQABZd/10-22-chuyen-tien-than-j-taka-chuong-xxii-dai-pham-mah-nip-ta-538-547-.pdf"></a><a href="https://thuvienhoasen.org/images/file/82QYRcTL2ggQABZd/10-22-chuyen-tien-than-j-taka-chuong-xxii-dai-pham-mah-nip-ta-538-547-.pdf"></a></p>



<p class="wp-block-paragraph"><br>TẬP 4<br></p>



<p class="wp-block-paragraph"><a href="https://tangkinhcac.org/wp-content/uploads/2026/02/11-a1-dai-dien-giai-mah-niddesap-i-1-dien-giai-kinh-ve-duc.pdf">32 -ĐẠI-DIỄN-GIẢI-(Mahāniddesapāḷi)-1.-Diễn-Giải-Kinh-Về-Dục<br></a><a href="https://tangkinhcac.org/wp-content/uploads/2026/02/11-a2-dai-dien-giai-mah-niddesap-i-2-dien-giai-kinh-nhom-tam-ve-hang.pdf">33 -ĐẠI-DIỄN-GIẢI-(Mahāniddesapāḷi)-2.-Diễn-Giải-Kinh-Nhóm-Tám-Về-Hang<br></a><a href="https://tangkinhcac.org/wp-content/uploads/2026/02/11-a3-dai-dien-giai-mah-niddesap-i-3-dien-giai-kinh-nhom-tam-ve-xau-xa.pdf">34 -ĐẠI-DIỄN-GIẢI-(Mahāniddesapāḷi)-3.-Diễn-Giải-Kinh-Nhóm-Tám-Về-Xấu-Xa<br></a><a href="https://tangkinhcac.org/wp-content/uploads/2026/02/11-a4-dai-dien-giai-mah-niddesap-i-4-dien-giai-kinh-nhom-tam-ve-trong-sach.pdf">35 -ĐẠI-DIỄN-GIẢI-(Mahāniddesapāḷi)-4.-Diễn-Giải-Kinh-Nhóm-Tám-Về-Trong-Sạch<br></a><a href="https://tangkinhcac.org/wp-content/uploads/2026/02/11-a5-dai-dien-giai-mah-niddesap-i-5-dien-giai-kinh-nhom-tam-ve-toi-thang.pdf">36 -ĐẠI-DIỄN-GIẢI-(Mahāniddesapāḷi)-5.-Diễn-Giải-Kinh-Nhóm-Tám-Về-Tối-Thắng<br></a><a href="https://tangkinhcac.org/wp-content/uploads/2026/02/11-a6-dai-dien-giai-mah-niddesap-i-6-dien-giai-kinh-ve-su-gia.pdf">37 -ĐẠI-DIỄN-GIẢI-(Mahāniddesapāḷi)-6.-Diễn-Giải-Kinh-Về-Sự-Già<br></a><a href="https://tangkinhcac.org/wp-content/uploads/2026/02/11-a7-dai-dien-giai-mah-niddesap-i-7-dien-giai-kinh-ve-tissa-metteyya.pdf">38 -ĐẠI-DIỄN-GIẢI-(Mahāniddesapāḷi)-7.-Diễn-Giải-Kinh-Về-Tissa-Metteyya<br></a><a href="https://tangkinhcac.org/wp-content/uploads/2026/02/11-a8-dai-dien-giai-mah-niddesap-i-8-dien-giai-kinh-ve-pas-ra.pdf">39 -ĐẠI-DIỄN-GIẢI-(Mahāniddesapāḷi)-8.-Diễn-Giải-Kinh-Về-Pasūra<br></a><a href="https://tangkinhcac.org/wp-content/uploads/2026/02/11-a9-dai-dien-giai-mah-niddesap-i-9-dien-giai-kinh-ve-m-gandiya.pdf">40 -ĐẠI-DIỄN-GIẢI-(Mahāniddesapāḷi)-9.-Diễn-Giải-Kinh-Về-Māgandiya</a><br><a href="https://tangkinhcac.org/wp-content/uploads/2026/02/11-a10-dai-dien-giai-mah-niddesap-i-10-dien-giai-kinh-truoc-khi-hoai-ra.pdf">41 -ĐẠI-DIỄN-GIẢI-(Mahāniddesapāḷi)-10.-Diễn-Giải-Kinh-Trước-Khi-Hoại-Rã<br></a><a href="https://tangkinhcac.org/wp-content/uploads/2026/02/11-a11-dai-dien-giai-mah-niddesap-i-11-dien-giai-kinh-cai-co-va-tranh-cai.pdf">42 -ĐẠI-DIỄN-GIẢI-(Mahāniddesapāḷi)-11.-Diễn-Giải-Kinh-Cãi-Cọ-Và-Tranh-Cãi</a></p>



<p class="wp-block-paragraph"><a href="https://tangkinhcac.org/wp-content/uploads/2026/02/11-a12-dai-dien-giai-mah-niddesap-i-12-dien-giai-kinh-su-dan-tran-nho.pdf">43 -ĐẠI-DIỄN-GIẢI-(Mahāniddesapāḷi)-12.-Diễn-Giải-Kinh-Sự-Dàn-Trận-Nhỏ<br></a><a href="https://tangkinhcac.org/wp-content/uploads/2026/02/11-a13-dai-dien-giai-mah-niddesap-i-13-dien-giai-kinh-su-dan-tran-lon.pdf">44 </a><a href="https://tangkinhcac.org/wp-content/uploads/2026/02/11-a13-dai-dien-giai-mah-niddesap-i-13-dien-giai-kinh-su-dan-tran-lon.pdf">-ĐẠI-DIỄN-GIẢI-(Mahāniddesapāḷi)-13.-Diễn-Giải-Kinh-Sự-Dàn-Trận-Lớn<br></a><a href="https://tangkinhcac.org/wp-content/uploads/2026/02/11-a14-dai-dien-giai-mah-niddesap-i-14-dien-giai-kinh-mot-cach-nhanh-chong.pdf">45 </a><a href="https://tangkinhcac.org/wp-content/uploads/2026/02/11-a14-dai-dien-giai-mah-niddesap-i-14-dien-giai-kinh-mot-cach-nhanh-chong.pdf">-ĐẠI-DIỄN-GIẢI-(Mahāniddesapāḷi)-14.-Diễn-Giải-Kinh-Một-Cách-Nhanh-Chóng<br></a><a href="https://tangkinhcac.org/wp-content/uploads/2026/02/11-a15-dai-dien-giai-mah-niddesap-i-15-dien-giai-kinh-ue-hanh-cua-ban-than.pdf">46 </a><a href="https://tangkinhcac.org/wp-content/uploads/2026/02/11-a15-dai-dien-giai-mah-niddesap-i-15-dien-giai-kinh-ue-hanh-cua-ban-than.pdf">-ĐẠI-DIỄN-GIẢI-(Mahāniddesapāḷi)-15.-Diễn-Giải-Kinh-Uế-Hạnh-Của-Bản-Thân<br></a><a href="https://tangkinhcac.org/wp-content/uploads/2026/02/11-a16-dai-dien-giai-mah-niddesap-i-16-dien-giai-kinh-ve-s-riputta.pdf" data-type="link" data-id="https://tangkinhcac.org/wp-content/uploads/2026/02/11-a16-dai-dien-giai-mah-niddesap-i-16-dien-giai-kinh-ve-s-riputta.pdf">47 </a><a href="https://tangkinhcac.org/wp-content/uploads/2026/02/11-a16-dai-dien-giai-mah-niddesap-i-16-dien-giai-kinh-ve-s-riputta.pdf" data-type="link" data-id="https://tangkinhcac.org/wp-content/uploads/2026/02/11-a16-dai-dien-giai-mah-niddesap-i-16-dien-giai-kinh-ve-s-riputta.pdf">-ĐẠI-DIỄN-GIẢI-(Mahāniddesapāḷi)-16.-Diễn-Giải-Kinh-Về-Sāriputta</a><br><a href="https://tangkinhcac.org/wp-content/uploads/2026/02/11-b1-tieu-dien-giai-cullaniddesap-i-pham-duong-di-den-bo-kia-p-r-yanavaggo-.pdf" data-type="link" data-id="https://tangkinhcac.org/wp-content/uploads/2026/02/11-b1-tieu-dien-giai-cullaniddesap-i-pham-duong-di-den-bo-kia-p-r-yanavaggo-.pdf">48 -TIỂU-DIỄN-GIẢI-(Cullaniddesapāḷi)-Phẩm-Đường-Đi-Đến-Bờ-Kia-(Pārāyanavaggo)<br></a><a href="https://tangkinhcac.org/wp-content/uploads/2026/02/11-b2-tieu-dien-giai-cullaniddesap-i-dien-giai-pham-duong-di-den-bo-kia-p-r-yanavaggo-.pdf">49 </a><a href="https://tangkinhcac.org/wp-content/uploads/2026/02/11-b2-tieu-dien-giai-cullaniddesap-i-dien-giai-pham-duong-di-den-bo-kia-p-r-yanavaggo-.pdf">-TIỂU-DIỄN-GIẢI-(Cullaniddesapāḷi)-Diễn-Giải-Phẩm-Đường-Đi-Đến-Bờ-Kia-(Pārāyanavaggo)<br></a><a href="https://tangkinhcac.org/wp-content/uploads/2026/02/11-b3-tieu-dien-giai-cullaniddesap-i-dien-giai-kinh-sung-te-nguu-khaggavis-asuttaniddeso-.pdf">50 </a><a href="https://tangkinhcac.org/wp-content/uploads/2026/02/11-b3-tieu-dien-giai-cullaniddesap-i-dien-giai-kinh-sung-te-nguu-khaggavis-asuttaniddeso-.pdf">-TIỂU-DIỄN-GIẢI-(Cullaniddesapāḷi)-Diễn-Giải-Kinh-Sừng-Tê-Ngưu-(Khaggavisāṇasuttaniddeso)<br></a><a href="https://tangkinhcac.org/wp-content/uploads/2026/02/12-1-phan-tich-dao-pa-isambhid-magga-a-pham-chinh-yeu-mah-vaggo-.pdf">51 </a><a href="https://tangkinhcac.org/wp-content/uploads/2026/02/12-1-phan-tich-dao-pa-isambhid-magga-a-pham-chinh-yeu-mah-vaggo-.pdf">-PHÂN-TÍCH-ĐẠO-(Paṭisambhidāmagga)-A.-Phẩm-Chính-Yếu-(Mahāvaggo)<br></a><a href="https://tangkinhcac.org/wp-content/uploads/2026/02/12-2-phan-tich-dao-pa-isambhid-magga-b-pham-ket-hop-chung-yuganaddhavagga-.pdf">52 </a><a href="https://tangkinhcac.org/wp-content/uploads/2026/02/12-2-phan-tich-dao-pa-isambhid-magga-b-pham-ket-hop-chung-yuganaddhavagga-.pdf">-PHÂN-TÍCH-ĐẠO-(Paṭisambhidāmagga)-B.-Phẩm-Kết-Hợp-Chung-(Yuganaddhavagga)<br></a><a href="https://tangkinhcac.org/wp-content/uploads/2026/02/12-3-phan-tich-dao-pa-isambhid-magga-c-pham-tue-pa-vaggo-.pdf">53 </a><a href="https://tangkinhcac.org/wp-content/uploads/2026/02/12-3-phan-tich-dao-pa-isambhid-magga-c-pham-tue-pa-vaggo-.pdf">-PHÂN-TÍCH-ĐẠO-(Paṭisambhidāmagga)-C.-Phẩm-Tuệ-(Paññāvaggo)</a><br></p>



<p class="wp-block-paragraph">TẬP 5<br><a href="https://thuvienhoasen.org/images/file/nJjIP8vL2ggQAFs2/13-4-thanh-nhan-ky-su-apad-na-d-truong-lao-ni-ky-su-ther-apad-na-.pdf"><br></a><a href="https://tangkinhcac.org/wp-content/uploads/2026/02/13-thanh-nhan-ky-su-apad-na-.pdf">13.-THÁNH-NHÂN-KÝ-SỰ-(Apadāna)<br></a><a href="https://tangkinhcac.org/wp-content/uploads/2026/02/14-phat-su-buddhava-sa-.pdf">14.-PHẬT-SỬ-(Buddhavaṃsa)<br></a><a href="https://thuvienhoasen.org/images/file/hftItsvL2ggQAA5T/15-hanh-tang-cariy-pi-aka-.pdf" data-type="link" data-id="https://thuvienhoasen.org/images/file/hftItsvL2ggQAA5T/15-hanh-tang-cariy-pi-aka-.pdf">15.-HẠNH-TẠNG-(Cariyāpiṭaka)</a></p>



<p class="wp-block-paragraph"><a href="https://tangkinhcac.org/wp-content/uploads/2026/02/16-milinda-van-dao-milindapa-ha-.pdf" data-type="link" data-id="https://tangkinhcac.org/wp-content/uploads/2026/02/16-milinda-van-dao-milindapa-ha-.pdf">16 &#8211; Milinda Vấn Đạo</a><br></p>


<div class="wp-block-ub-divider ub_divider ub-divider-orientation-horizontal" id="ub_divider_23673199-5242-4777-96e8-8123753f76c4"><div class="ub_divider_wrapper" style="position: relative; margin-bottom: 2px; width: 100%; height: 2px; " data-divider-alignment="center"><div class="ub_divider_line" style="border-top: 7px solid #ccc; margin-top: 2px; "></div></div></div>


<p class="wp-block-paragraph"></p>



<p class="has-text-align-center wp-block-paragraph">Link Google driver đầy đủ hơn </p>



<p class="has-text-align-center wp-block-paragraph"><a href="https://drive.google.com/drive/folders/100NHCBnn0Ecu3zvWMeJCa1gnLAUc9nrE?usp=drive_link">https://drive.google.com/drive/folders/100NHCBnn0Ecu3zvWMeJCa1gnLAUc9nrE?usp=drive_link</a></p>



<p class="wp-block-paragraph"></p>
<p>The post <a href="https://tangkinhcac.org/kinh-tieu-bo-khuddaka-nikaya-bo-moi/">Kinh Tiểu Bộ Khuddaka Nikaya | Bộ Mới</a> appeared first on <a href="https://tangkinhcac.org">Tàng Kinh Các</a>.</p>
]]></content:encoded>
					
		
		
			</item>
		<item>
		<title>Kinh Tăng Chi Bộ Anguttara Nỉkãya &#124; Bộ Mới &#8211; Tam Tạng Thánh Điển Phật Giáo Việt Nam</title>
		<link>https://tangkinhcac.org/kinh-tang-chi-bo-anguttara-nikaya-bo-moi/</link>
		
		<dc:creator><![CDATA[admin]]></dc:creator>
		<pubDate>Sun, 15 Feb 2026 07:35:45 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Kinh Tăng Chi Bộ]]></category>
		<category><![CDATA[Kinh Tạng Nam Truyền]]></category>
		<category><![CDATA[Tam Tạng Thánh Điển Phật Giáo VIệt Nam]]></category>
		<category><![CDATA[Thích Minh Châu]]></category>
		<category><![CDATA[tam tạng thánh điển phật giáo Việt Nam]]></category>
		<category><![CDATA[Tam Tạng Thượng Toạ Bộ]]></category>
		<category><![CDATA[thích minh châu]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://tangkinhcac.org/?p=836</guid>

					<description><![CDATA[<p>VIỆN&#160;NGHIÊN CỨU&#160;PHẬT HỌC&#160;VIỆT NAMTAM TẠNG&#160;THÁNH ĐIỂN&#160;PHẬT GIÁO VIỆT NAMKINH&#160;TĂNG CHI BỘANGUTTARA NỈKÃYADỊCH GIẢ:&#160;HÒA THƯỢNG&#160;THÍCH&#160;MINH CHÂUNHÀ XUẤT BẢN HỒNG ĐỨC 2022 &#160;LỜI&#160;CHỨNG MINH Nam-mô&#160;Bản Sư&#160;Thích-ca Mâu-ni&#160;Phật Trong Kỉnh&#160;Hoa Nghiêm&#160;có ghi: &#8220;Phật dĩ&#160;nhất nhất&#160;thân, xứ xứ chuyển pháp /沥〃&#8221;（佛以一一身，處處轉法輪）,nghía là&#160;đức Phật&#160;luôn dùng tất cả&#160;hóa thân&#160;của mình, ở&#160;mọi nơi&#160;mọi chốn&#160;chuyển bánh xe pháp. Thật&#160;hoan hỷ,&#160;tinh thần&#160;chuyển bánh xe [&#8230;]</p>
<p>The post <a href="https://tangkinhcac.org/kinh-tang-chi-bo-anguttara-nikaya-bo-moi/">Kinh Tăng Chi Bộ Anguttara Nỉkãya | Bộ Mới &#8211; Tam Tạng Thánh Điển Phật Giáo Việt Nam</a> appeared first on <a href="https://tangkinhcac.org">Tàng Kinh Các</a>.</p>
]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[
<p class="wp-block-paragraph"></p>



<p class="has-text-align-center wp-block-paragraph">VIỆN&nbsp;NGHIÊN CỨU&nbsp;PHẬT HỌC&nbsp;VIỆT NAM<br>TAM TẠNG&nbsp;THÁNH ĐIỂN&nbsp;PHẬT GIÁO VIỆT NAM<br><strong><mark style="background-color:rgba(0, 0, 0, 0);color:#cf2e2e" class="has-inline-color">KINH&nbsp;TĂNG CHI BỘ<br>ANGUTTARA NỈKÃYA</mark></strong><br>DỊCH GIẢ:&nbsp;HÒA THƯỢNG&nbsp;THÍCH&nbsp;MINH CHÂU<br>NHÀ XUẤT BẢN HỒNG ĐỨC 2022<br><br><a href="https://thuvienhoasen.org/images/file/gSbRJ0vK2ggBAMwy/kinh-trung-bo-.jpg"></a><a href="https://thuvienhoasen.org/images/file/bRMt7VLL2ggBAKtW/kinh-tang-chi-bo.jpg"></a><br></p>



<figure class="wp-block-image aligncenter size-full is-resized is-style-default"><img decoding="async" width="300" height="426" src="https://tangkinhcac.org/wp-content/uploads/2026/02/kinh-tang-chi-bo.jpg" alt="" class="wp-image-834" style="width:467px;height:auto" srcset="https://tangkinhcac.org/wp-content/uploads/2026/02/kinh-tang-chi-bo.jpg 300w, https://tangkinhcac.org/wp-content/uploads/2026/02/kinh-tang-chi-bo-211x300.jpg 211w" sizes="(max-width: 300px) 100vw, 300px" /></figure>



<p class="has-text-align-center wp-block-paragraph"><strong>&nbsp;LỜI&nbsp;CHỨNG MINH</strong></p>



<p class="wp-block-paragraph">Nam-mô&nbsp;Bản Sư&nbsp;Thích-ca Mâu-ni&nbsp;Phật</p>



<p class="wp-block-paragraph">Trong Kỉnh&nbsp;Hoa Nghiêm&nbsp;có ghi: &#8220;Phật dĩ&nbsp;nhất nhất&nbsp;thân, xứ xứ chuyển pháp /沥〃&#8221;（佛以一一身，處處轉法輪）,nghía là&nbsp;đức Phật&nbsp;luôn dùng tất cả&nbsp;hóa thân&nbsp;của mình, ở&nbsp;mọi nơi&nbsp;mọi chốn&nbsp;chuyển bánh xe pháp. Thật&nbsp;hoan hỷ,&nbsp;tinh thần&nbsp;chuyển bánh xe pháp&nbsp;của&nbsp;đức Phật&nbsp;đã và đang được&nbsp;chư Tôn&nbsp;đức&nbsp;Hội đồng&nbsp;Tri sự&nbsp;Giáo hội Phật giáo Việt Nam&nbsp;triển khai&nbsp;một cách&nbsp;hiệu quả.&nbsp;Đặc biệt, trên&nbsp;phương diện&nbsp;hoăng truyên kinh điên,&nbsp;chư Tôn&nbsp;đức đã có những định hướng&nbsp;đúng đắn&nbsp;cho Viện&nbsp;Nghiên cứu&nbsp;Phật học&nbsp;Việt Nam&nbsp;tiến hành&nbsp;phiên dịch, san định, ấn tống Kinh, Luật, Luận, Sớ giải có nguồn gốc&nbsp;từ tạng&nbsp;Pali, Sanskrit, Hán cổ và các&nbsp;ngôn ngữ&nbsp;khác&#8230;</p>



<p class="wp-block-paragraph">Khi&nbsp;nghiên cứu, hoằng&nbsp;truyền kinh&nbsp;điển, nhà Phật&nbsp;thường có&nbsp;câu: DĩThánh giáo vi minh cảnh chiêu kiên&nbsp;tự tâm, dĩ&nbsp;tự tâm&nbsp;vi trí đăng chiêu kinh u chr （以 聖教爲明鏡照見自心，以自心爲智燈照經幽旨）,nghĩa là lấy&nbsp;Phật pháp&nbsp;làm tâm&nbsp;gương sáng&nbsp;soi vào&nbsp;tự tâm, lây&nbsp;tự tâm&nbsp;làm&nbsp;ngọn đèn&nbsp;trí soi tỏ chô&nbsp;thâm sâu&nbsp;của kinh điên. Những&nbsp;Phật sự&nbsp;được&nbsp;chư Tôn&nbsp;đức trong Viện&nbsp;Nghiên cứu&nbsp;Phật học&nbsp;Việt Nam&nbsp;đã và đang&nbsp;thực hiện, thực sự là những&nbsp;việc làm&nbsp;trân quý. Việc ấy không chỉ làm sáng&nbsp;bản tâm&nbsp;của mỗi&nbsp;hành giả&nbsp;nghiên cứu&nbsp;mà còn&nbsp;chuyển hóa&nbsp;lời Phật dạy&nbsp;một cách&nbsp;dễ hiểu, dễ học, dễ hành, gần gũi với cuộc sống đời thường. Thông qua đó, môi&nbsp;hành giả&nbsp;có được cách tiêp cận,&nbsp;tu tập,&nbsp;thực hành&nbsp;lời Phật dạy,&nbsp;thành tựu&nbsp;nhiều kết quả hơn.</p>



<p class="wp-block-paragraph">Từ việc&nbsp;nghiên cứu&nbsp;kinh điển, nhìn lại&nbsp;Phật giáo Việt Nam,&nbsp;chúng ta&nbsp;mới thấy,&nbsp;Phật giáo Việt Nam&nbsp;với chiều dài&nbsp;lịch sử&nbsp;trên dưới 2000 năm&nbsp;đồng hành&nbsp;cùng dân&nbsp;tộc, đã tạo nên những&nbsp;giá trị&nbsp;Phật giáo&nbsp;đặc biệt, đóng&nbsp;vai trò&nbsp;trụ cột trong việc&nbsp;gìn giữ&nbsp;nền&nbsp;văn hóa&nbsp;Việt&nbsp;thời kỳ&nbsp;1000 năm Bắc thuộc, làm cho dân tộc&nbsp;Việt Nam&nbsp;trở nên vĩ đại nhất&nbsp;trong lịch sử&nbsp;phong kiến&nbsp;nước nhà vào&nbsp;thời đại&nbsp;Lý &#8211; Trần, vẫn đang&nbsp;tiếp tục&nbsp;đồng hành&nbsp;cùng đất nước trong&nbsp;thời kỳ&nbsp;hội nhập với&nbsp;phương châm&nbsp;&#8220;Đạo pháp &#8211; Dân tOc.&#8221; Chính vì vậy? những&nbsp;Phật sự&nbsp;của&nbsp;chư Tôn&nbsp;đức trong Viện&nbsp;Nghiên cứu&nbsp;Phật học&nbsp;Việt Nam&nbsp;đang&nbsp;thực hiện&nbsp;có&nbsp;ý nghĩa&nbsp;hét sức quan trọng trong việc “kế vãng khai lai, truyên trì đạo mạch&#8221;, không chỉ làm cho&nbsp;Phật pháp&nbsp;xương minh, trường ton ở the gian mà còn góp phan làm cho&nbsp;Phật giáo Việt Nam&nbsp;tiếp nối&nbsp;truyền thống&nbsp;tốt đẹp&nbsp;từ ngàn xua, phát triển lên một tầm cao mới.&nbsp;Hy vọng&nbsp;mỗi&nbsp;hành giả&nbsp;chúng ta&nbsp;nỗ lực&nbsp;hơn nữa để&nbsp;thành tựu&nbsp;giải thoát&nbsp;và&nbsp;hoàn thành&nbsp;sứ mệnh &#8220;Tác&nbsp;Như Lai sứ, hành&nbsp;Như Lai&nbsp;sự.&#8221;</p>



<p class="wp-block-paragraph">Nguyện câu&nbsp;Phật nhật&nbsp;tăng huy,&nbsp;Pháp luân&nbsp;thường chuyên, thê giới hòa bình,&nbsp;nhân dân&nbsp;an lạc.</p>



<p class="wp-block-paragraph">Nam-mố&nbsp;Hoan Hỷ&nbsp;Tạng Bồ-tát, tác&nbsp;đại chứng&nbsp;minh.</p>



<p class="has-text-align-right wp-block-paragraph">VesakLiên Hợp Quốc, PL.2563 &#8211; DL.2019<br><strong><em>Trưởng lão&nbsp;Hòa thượng&nbsp;THÍCH PHỔ TUỆ</em></strong><br>(Pháp chủ&nbsp;Giáo hội Phật giáo Việt Nam<br><br><a href="https://thuvienhoasen.org/images/file/sUZyajzK2ggBArAW/screenshot-248-.png"></a><a href="https://thuvienhoasen.org/images/file/iACRdTzK2ggBAq4N/screenshot-249-.png"></a></p>



<p class="wp-block-paragraph"><strong>LỜI&nbsp;GIỚI THIỆU</strong></p>



<p class="wp-block-paragraph"><br>Thay mặt&nbsp;Hội đồng&nbsp;Trị&nbsp;sự Giáo&nbsp;hội&nbsp;Phật giáo Việt Nam, tôi&nbsp;tán dương&nbsp;Hội đồng&nbsp;Quản trị Viện&nbsp;Nghiên cứu&nbsp;Phật học&nbsp;Việt Nam,&nbsp;đặc biệt&nbsp;là Ban&nbsp;Biên tập&nbsp;<em>Tam tạng&nbsp;Thánh điển&nbsp;Phật giáo Việt Nam</em>&nbsp;đã&nbsp;hoan hỷ&nbsp;đảm&nbsp;trách nhiệm&nbsp;vụ&nbsp;phiên dịch,&nbsp;biên tập&nbsp;và&nbsp;ấn hành&nbsp;bộ&nbsp;Thánh điển&nbsp;thiêng liêng&nbsp;này.<br>Phiên dịch&nbsp;Kinh, Luật, Luận từ các&nbsp;ngôn ngữ&nbsp;Phật học&nbsp;(Pāli, Sanskrit, Hán cổ) ra tiếng Việt là&nbsp;trách nhiệm&nbsp;cao quý của Viện&nbsp;Nghiên cứu&nbsp;Phật học&nbsp;Việt Nam&nbsp;(VNCPHVN) do&nbsp;Trưởng lão&nbsp;Hòa thượng&nbsp;Thích&nbsp;Minh Châu&nbsp;thành lập&nbsp;năm 1989, nhằm&nbsp;đáp ứng&nbsp;nhu cầu&nbsp;nghiên cứu,&nbsp;học hỏi&nbsp;và&nbsp;thực tập&nbsp;Phật pháp&nbsp;của hàng triệu&nbsp;Tăng Ni,&nbsp;Phật tử&nbsp;Việt Nam&nbsp;trong và ngoài nước.<br><br><strong>1. Về&nbsp;thuật ngữ</strong><br><br>Tôi tán đồng cách&nbsp;Hội đồng&nbsp;Quản trị VNCPHVN thay đổi cụm từ “Đại&nbsp;tạng kinh&nbsp;Việt Nam”, vốn chịu&nbsp;ảnh hưởng&nbsp;từ cách đặt tựa&nbsp;tác phẩm&nbsp;của&nbsp;Phật giáo Trung Quốc, thành “<em>Tam tạng&nbsp;Thánh điển&nbsp;Phật giáo Việt Nam</em>”, nhằm&nbsp;thể hiện&nbsp;bản sắc&nbsp;văn học&nbsp;Phật giáo Việt Nam,&nbsp;đồng thời&nbsp;thích ứng&nbsp;với cách đặt tên&nbsp;phổ biến&nbsp;của&nbsp;cộng đồng&nbsp;Phật giáo&nbsp;thế giới&nbsp;hiện nay.<br><br>Khái niệm “Đại tạng kinh” chỉ đề cập đến “Kinh tạng” (P.&nbsp;<em>Sutta</em>&nbsp;<em>Piṭaka</em>, H. 經蔵) tức kho tàng&nbsp;Chân lý, trong khi khái niệm “Tam tạng&nbsp;Thánh điển&nbsp;Phật giáo” có nội hàm rộng hơn, bao quát hơn; đó là ngoài kho tàng&nbsp;Chân lý&nbsp;còn có kho tàng&nbsp;Đạo đức&nbsp;(P.&nbsp;<em>Vinaya</em>&nbsp;<em>Piṭaka</em>, H. 律蔵,&nbsp;Luật tạng), kho tàng&nbsp;Triết học&nbsp;tâm (P.&nbsp;<em>Abhidhamma</em>&nbsp;<em>Piṭaka</em>, H. 論蔵,&nbsp;Luận tạng),&nbsp;Văn học&nbsp;Chú giải&nbsp;(P.&nbsp;<em>Aṭṭhakathā</em>),&nbsp;Văn học&nbsp;Phụ&nbsp;chú giải&nbsp;(P.&nbsp;<em>Ṭīkā</em>),&nbsp;Văn học&nbsp;Tục tạng và các&nbsp;tác phẩm&nbsp;Phật học&nbsp;Việt Nam.<br><br><em>Tam tạng&nbsp;Thánh điển&nbsp;Phật giáo Việt Nam</em>&nbsp;bao gồm&nbsp;các tuyển tập&nbsp;Tam tạng&nbsp;Phật giáo&nbsp;Thượng Tọa bộ&nbsp;(ảnh hưởng&nbsp;các nước&nbsp;Ấn Độ,&nbsp;Tích Lan, Miến Điện, Thái Lan, Lào, Campuchia),&nbsp;Tam tạng&nbsp;Phật giáo&nbsp;Bộ phái,&nbsp;Tam tạng&nbsp;Phật giáo&nbsp;Đại thừa&nbsp;(ảnh hưởng&nbsp;Việt Nam,&nbsp;Trung Quốc,&nbsp;Nhật Bản,&nbsp;Đại Hàn,&nbsp;Tây Tạng),&nbsp;Văn học&nbsp;Sớ giải,&nbsp;Văn học&nbsp;Tông phái&nbsp;Phật giáo&nbsp;và&nbsp;Văn học&nbsp;Phật giáo Việt Nam, v.v&#8230;<br><br><strong>2. Về&nbsp;Văn học sử&nbsp;Phật giáo</strong><br><br>“Thánh điển Phật giáo” là khái niệm chỉ cho tuyển tập những lời dạy của&nbsp;đức Phật&nbsp;trong 45 năm (theo&nbsp;Phật giáo&nbsp;Nam truyền) hay 49 năm (theo&nbsp;Phật giáo&nbsp;Bắc truyền)&nbsp;truyền bá&nbsp;Chân lý&nbsp;(P.&nbsp;<em>Dhamma</em>, S.&nbsp;<em>Dharma</em>, H. 法, Pháp),&nbsp;Đạo đức&nbsp;(P=S.&nbsp;<em>Vinaya</em>, H. 戒律,&nbsp;Giới luật), và Các&nbsp;pháp siêu&nbsp;việt (P.&nbsp;<em>Abhidhamma</em>, S.&nbsp;<em>Abhidharma</em>, H. 無比法,&nbsp;Vô tỷ pháp).<br><br>Thánh điển&nbsp;Phật giáo&nbsp;được&nbsp;truyền thừa&nbsp;qua&nbsp;hình thức&nbsp;khẩu truyền, được cho là bằng&nbsp;ngôn ngữ&nbsp;Pāli từ thời&nbsp;đức Phật&nbsp;(khoảng thế kỷ VI-V TTL) và&nbsp;lưu truyền&nbsp;qua ba lần&nbsp;kết tập kinh điển&nbsp;tại&nbsp;Ấn Độ. Đến&nbsp;đại hội kết tập&nbsp;kinh điển&nbsp;lần thứ tư tại&nbsp;Tích Lan&nbsp;(khoảng thế kỷ I TTL),&nbsp;Thánh điển&nbsp;được viết trên&nbsp;lá bối&nbsp;và&nbsp;lưu truyền&nbsp;đến ngày nay. Hai&nbsp;tác phẩm&nbsp;Đảo sử&nbsp;(<em>Dīpavaṃsa</em>) và&nbsp;Đại sử&nbsp;(<em>Mahāvaṃsa</em>) đều&nbsp;ghi nhận&nbsp;rằng trong&nbsp;triều đại&nbsp;Valagamba (29-17 TTL) tại Anuradhapura,&nbsp;Tích Lan, các&nbsp;cao Tăng&nbsp;thuộc làu&nbsp;Tam tạng&nbsp;Pāli bắt đầu viết kinh Phật trên&nbsp;lá bối&nbsp;để&nbsp;giữ gìn&nbsp;và&nbsp;truyền bá&nbsp;lời Phật dạy&nbsp;một cách&nbsp;hiệu quả&nbsp;hơn.<br><br>Theo các nhà&nbsp;Đại thừa, cũng vào thế kỷ I (TTL) trở đi,&nbsp;kinh điển Đại thừa&nbsp;bằng tiếng Sanskrit&nbsp;lần lượt&nbsp;ra đời. Ngoài các&nbsp;bản kinh&nbsp;Đại thừa&nbsp;quan trọng&nbsp;tồn tại&nbsp;với ấn bản Sanskrit, phần lớn&nbsp;văn học&nbsp;Phật giáo&nbsp;Đại thừa&nbsp;được lưu giữ qua các bản dịch Hán cổ, được các vua chúa,&nbsp;đại tín&nbsp;chủ&nbsp;lưu bố&nbsp;qua các bản chép tay, khắc trên đá, khắc trên gỗ, và về sau&nbsp;biên tập&nbsp;thành các&nbsp;Đại tạng kinh&nbsp;mang tầm vóc&nbsp;quốc gia&nbsp;ở Trung Hoa; còn tiếng&nbsp;Tây Tạng&nbsp;cổ, được&nbsp;biên tập&nbsp;thành Kinh&nbsp;điển&nbsp;Phật giáo Tây Tạng&nbsp;(<em>Tibetan</em>&nbsp;<em>Buddhist</em>&nbsp;<em>Canon</em>) gồm hai tạng Kangyur (Kinh &#8211;&nbsp;Luật tạng&nbsp;gồm 100 bộ) và Tengyur (Luận tạng&nbsp;gồm 213 bộ).<br><br><strong>3. Về&nbsp;phương diện&nbsp;lịch sử</strong><br><br>Hơn 10 thế kỷ (từ thế kỷ I-X) bị&nbsp;Trung Quốc&nbsp;đô hộ, người&nbsp;Việt Nam&nbsp;đã&nbsp;sử dụng&nbsp;Đại tạng kinh&nbsp;Trung Hoa bằng Hán cổ và&nbsp;cho đến&nbsp;những thế kỷ sau. Giai đoạn 80 năm Pháp thuộc (1867-1945), người Việt lại buộc phải&nbsp;sử dụng&nbsp;tiếng Việt La-tinh hóa nên chữ Hán Nôm mất dần&nbsp;vị trí&nbsp;ngôn ngữ&nbsp;chính thống. Đứng trước nhu cầu&nbsp;thích nghi&nbsp;với quốc ngữ mới, các&nbsp;cao Tăng&nbsp;Việt Nam&nbsp;quyết định&nbsp;phiên dịch&nbsp;kinh điển&nbsp;từ Hán cổ ra tiếng Việt La-tinh để&nbsp;phổ biến&nbsp;lời Phật dạy&nbsp;rộng rãi&nbsp;hơn, vì&nbsp;đại đa số&nbsp;người Việt trong thời Pháp thuộc không đọc được chữ Hán Nôm.<br><br><em>Tam tạng&nbsp;Thánh điển&nbsp;Phật giáo Việt Nam</em>&nbsp;được hình thành qua 3 giai đoạn:<br>Giai đoạn 1 bắt đầu từ 1950 đến 1975, với đỉnh cao là sự ra đời của&nbsp;Hội đồng&nbsp;Phiên dịch&nbsp;Kinh điển&nbsp;của&nbsp;Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất&nbsp;(GHPGVNTN) vào năm 1973 và ngưng&nbsp;hoạt động&nbsp;vào năm 1975. Các bậc&nbsp;Tôn túc&nbsp;đóng góp&nbsp;nổi bật&nbsp;trong việc&nbsp;phiên dịch&nbsp;kinh điển&nbsp;từ Hán cổ sang tiếng Việt trong giai đoạn này có&nbsp;Hòa thượng&nbsp;Thích&nbsp;Trí Tịnh&nbsp;(Ma-ha Bát-nhã,&nbsp;Hoa Nghiêm,&nbsp;Đại Bảo&nbsp;Tích, Niết-bàn,&nbsp;Pháp Hoa);&nbsp;Hòa thượng&nbsp;Thích&nbsp;Trí Nghiêm&nbsp;(Đại Bát-nhã); và chư vị&nbsp;Hòa thượng&nbsp;Thích Thanh Từ,&nbsp;Hòa thượng&nbsp;Thích Bửu Huệ,&nbsp;Hòa thượng&nbsp;Thích&nbsp;Thiền Tâm&nbsp;(Trung A-hàm, Tăng nhất A-hàm),&nbsp;Hòa thượng&nbsp;Thích Thiện Siêu,&nbsp;Hòa thượng&nbsp;Thích Tuệ Sỹ,&nbsp;Thượng tọa&nbsp;Thích&nbsp;Trí Thành&nbsp;(Trường A-hàm, Tạp A-hàm), v.v…<br><br>Giai đoạn 2 bắt đầu từ 1975 đến 2017, với sự ra đời của các bản dịch từ Pāli sang tiếng Việt. Đóng góp nổi trội của&nbsp;Hòa thượng&nbsp;Thích&nbsp;Minh Châu&nbsp;là&nbsp;phiên dịch&nbsp;hầu hết&nbsp;Kinh tạng&nbsp;Pāli.&nbsp;Hòa thượng&nbsp;Hộ Tông,&nbsp;Hòa thượng&nbsp;Bửu Chơn,&nbsp;Hòa thượng&nbsp;Giới Nghiêm&nbsp;phiên dịch&nbsp;Luật tạng&nbsp;Pāli và&nbsp;Hòa thượng&nbsp;Tịnh Sự dịch&nbsp;Luận tạng&nbsp;Pāli.&nbsp;Gần đây,&nbsp;Thượng tọa&nbsp;Chánh Thân đã dịch mới một số kinh trong&nbsp;Tiểu bộ&nbsp;và&nbsp;Luật tạng&nbsp;Pāli.<br><br>Sau ba thập niên&nbsp;phiên dịch&nbsp;độc lập, đến năm 1991,&nbsp;Hội đồng&nbsp;Chỉ đạo&nbsp;Phiên dịch&nbsp;và&nbsp;Ấn hành&nbsp;Đại tạng kinh&nbsp;Việt Nam&nbsp;chính thức&nbsp;được&nbsp;Giáo hội Phật giáo Việt Nam&nbsp;(GHPGVN)&nbsp;thành lập. Từ đó&nbsp;đến nay, VNCPHVN chỉ tái bản được&nbsp;Kinh tạng&nbsp;Nam truyền, gồm 13 tập và một vài tập A-hàm. Trong&nbsp;thời gian&nbsp;này và trước đó,&nbsp;Hòa thượng&nbsp;Thích&nbsp;Trí Quang&nbsp;đã dịch hơn 25 tập Kinh, Luật, Luận;&nbsp;Hòa thượng&nbsp;Thích Đỗng Minh đã dịch một số bộ Luật và hướng dẫn, khuyến khích&nbsp;chư Tăng&nbsp;Ni tại Nha Trang&nbsp;phiên dịch&nbsp;các bộ Luật của các&nbsp;bộ phái Phật giáo, góp phần làm&nbsp;phong phú&nbsp;kho tàng&nbsp;Luật tạng&nbsp;Phật giáo Việt Nam.<br><br>Trong hai thập niên, 1994-2014,&nbsp;Hội đồng&nbsp;Dịch thuật do&nbsp;Hòa thượng&nbsp;Thích&nbsp;Tịnh Hạnh&nbsp;khởi xướng và&nbsp;bảo trợ, có công tổng hợp,&nbsp;biên tập&nbsp;và xuất bản các&nbsp;công trình&nbsp;dịch thuật đã có,&nbsp;đồng thời&nbsp;dịch mới các Kinh, Luật, Luận quan trọng khác để hình thành&nbsp;Linh Sơn&nbsp;Pháp bảo&nbsp;Đại tạng kinh.<br><br>Giai đoạn 3 từ năm 2017 trở đi. Vào giữa năm 2018,&nbsp;Hội đồng&nbsp;Quản trị VNCPHVN&nbsp;thành lập&nbsp;Ban&nbsp;Biên tập&nbsp;<em>Tam tạng&nbsp;Thánh điển&nbsp;Phật giáo Việt Nam</em>, tiến hành&nbsp;đối chiếu&nbsp;văn bản song ngữ,&nbsp;biên tập&nbsp;tiếng Việt, làm tổng&nbsp;mục lục&nbsp;mới, với&nbsp;mục tiêu&nbsp;phiên dịch&nbsp;hoàn tất,&nbsp;biên tập&nbsp;và xuất bản&nbsp;<em>Tam tạng&nbsp;Thánh điển&nbsp;Phật giáo Việt Nam</em>, gồm Ba tạng&nbsp;Thượng Tọa bộ, Ba tạng&nbsp;Bộ phái&nbsp;và Ba tạng&nbsp;Đại thừa.&nbsp;Đồng thời,&nbsp;Văn học&nbsp;Sớ giải, Tục tạng,&nbsp;Văn học&nbsp;tông phái&nbsp;Phật giáo Trung Quốc,&nbsp;Nhật Bản&nbsp;và&nbsp;Văn học&nbsp;Phật giáo Việt Nam&nbsp;cũng sẽ được&nbsp;thực hiện&nbsp;tiếp theo.&nbsp;Công trình&nbsp;sưu tầm,&nbsp;phiên dịch, hiệu chú và&nbsp;ấn hành&nbsp;này&nbsp;dự kiến&nbsp;sẽ&nbsp;hoàn thành&nbsp;trong vòng&nbsp;10 năm hoặc lâu hơn nữa.<br><br><strong>4. Về bản sắc&nbsp;quốc gia</strong><br><br>Thánh điển&nbsp;Phật giáo&nbsp;được xem là&nbsp;quốc bảo&nbsp;của nhiều&nbsp;quốc gia&nbsp;theo&nbsp;đạo Phật. Các&nbsp;quốc gia&nbsp;thuộc hai&nbsp;truyền thống&nbsp;Phật giáo&nbsp;Nam truyền và Bắc truyền đều có&nbsp;Thánh điển&nbsp;Phật giáo&nbsp;bằng tiếng mẹ đẻ của họ từ lâu. Tại các nước&nbsp;Phật giáo&nbsp;Nam truyền như&nbsp;Tích Lan, Miến Điện, Thái Lan, Lào, Campuchia, ngoài ấn bản&nbsp;Tam tạng&nbsp;Thánh điển&nbsp;Pāli, đều có bản dịch&nbsp;Thánh điển&nbsp;Phật giáo&nbsp;bằng quốc ngữ của họ.<br><br>Trong các nước&nbsp;Phật giáo&nbsp;Đại thừa,&nbsp;Trung Quốc&nbsp;là nước đầu tiên có Khai&nbsp;Bảo tạng&nbsp;được khắc gỗ từ năm 971 đến 983 thời nhà Bắc Tống. Các nước&nbsp;Phật giáo&nbsp;Đại thừa&nbsp;chịu&nbsp;ảnh hưởng&nbsp;từ&nbsp;Phật giáo Trung Quốc&nbsp;đều có ấn bản&nbsp;Đại tạng kinh&nbsp;chữ Hán theo phong cách riêng.<br><br>Đại Hàn&nbsp;(1011-1082) có ấn bản Cao Ly&nbsp;Đại tạng kinh&nbsp;(高麗大蔵經), hay còn gọi là&nbsp;Bát vạn&nbsp;Đại tạng kinh&nbsp;(八萬大蔵經), có cấu trúc&nbsp;mục lục&nbsp;khác với các&nbsp;Đại tạng kinh&nbsp;Trung Quốc, gồm&nbsp;Tam tạng&nbsp;Đại thừa&nbsp;(các bản văn 1-646),&nbsp;Tam tạng&nbsp;Tiểu thừa&nbsp;(các bản văn 647-978),&nbsp;Thánh Hiền&nbsp;Phật ký&nbsp;lục (các bản văn 979-1087) và các&nbsp;tác phẩm&nbsp;khác (1088-1498), trong đó, các bản văn 1402-1405 là các trước tác của&nbsp;Phật giáo&nbsp;Đại Hàn.<br><br>Nhật Bản&nbsp;có&nbsp;Thiên Hải&nbsp;tạng (天海蔵)đầu tiên được&nbsp;thực hiện&nbsp;từ năm 1637 đến 1648. Đến đầu thế kỷ XX, Đại Chánh tân tu&nbsp;Đại tạng kinh&nbsp;(大正新脩大蔵經, 1924-1934) do các&nbsp;học giả&nbsp;Takakusu Junjiro, Watanabe Umiakira và Ono Genmyo&nbsp;biên tập, gồm 100 tập, 3.493 bộ, 13.520 quyển, trong đó, 55 tập đầu gồm Kinh, Luật, Luận, Sớ giải, các&nbsp;tông phái&nbsp;Phật giáo Trung Quốc,&nbsp;Nhật Bản. Đây là ấn bản&nbsp;Đại tạng kinh&nbsp;bằng chữ Hán hoàn chỉnh nhất, có tính&nbsp;hệ thống&nbsp;về phân loại và chấm câu tốt nhất.<br><br>Phật giáo Tây Tạng&nbsp;cũng có&nbsp;Đại tạng kinh&nbsp;riêng khá sớm, từ năm 1290 đến 1364.&nbsp;Đại tạng&nbsp;này bao hàm hầu hết các bản luận Sanskrit của các&nbsp;bộ phái Phật giáo&nbsp;Ấn Độ, có nguồn gốc từ Trường&nbsp;Đại học&nbsp;Nalanda&nbsp;nổi tiếng&nbsp;và một số bản dịch từ tiếng Hán.&nbsp;Đại tạng&nbsp;này được hiệu chỉnh qua các&nbsp;thời kỳ&nbsp;và&nbsp;trở thành&nbsp;kho tàng&nbsp;Pháp bảo Tạng&nbsp;truyền đặc thù, vì nó chứa nhiều bộ&nbsp;mật chú&nbsp;và&nbsp;pháp môn&nbsp;tu&nbsp;bí truyền&nbsp;mà ngày nay không&nbsp;tìm thấy&nbsp;trong các&nbsp;Đại tạng&nbsp;Trung Hoa và các nước khác.<br><br>Tính từ thời điểm Pháp thuộc năm 1867 đến 2019, khi tiếng Hán &#8211; Việt&nbsp;trở thành&nbsp;tiếng Việt La-tinh hóa, 152 năm đã&nbsp;trôi qua, hoặc tính từ thời điểm&nbsp;Hội đồng&nbsp;Phiên dịch&nbsp;Kinh điển&nbsp;của GHPGVNTN hình thành từ năm 1973 cũng đã&nbsp;trải qua&nbsp;46 năm,&nbsp;<em>Tam tạng&nbsp;Thánh điển&nbsp;Phật giáo Việt Nam</em>&nbsp;chỉ mới&nbsp;hoàn tất&nbsp;một nửa chặng đường&nbsp;phiên dịch.<br><br>Bên cạnh việc&nbsp;trân trọng&nbsp;những&nbsp;thành quả&nbsp;dịch thuật của các bậc Tôn đức hữu công thuộc các&nbsp;thế hệ&nbsp;trước, GHPGVN cần có&nbsp;<em>Tam tạng&nbsp;Thánh điển&nbsp;Phật giáo Việt Nam</em>&nbsp;hoàn chỉnh, không chỉ&nbsp;thể hiện&nbsp;bản sắc&nbsp;văn hóa&nbsp;Phật giáo Việt Nam&nbsp;mà còn giúp cho người&nbsp;Việt Nam&nbsp;không biết các&nbsp;cổ ngữ&nbsp;Phật giáo, có thể tiếp cận&nbsp;lời Phật dạy&nbsp;bằng tiếng Việt, nhằm&nbsp;đạt được&nbsp;trí tuệ&nbsp;do nghe&nbsp;chân lý&nbsp;Phật (P.&nbsp;<em>Sutamayapaññā</em>,&nbsp;Văn tuệ),&nbsp;trí tuệ&nbsp;do&nbsp;nghiền ngẫm&nbsp;chân lý&nbsp;Phật (P.&nbsp;<em>Cintāmayapaññā</em>,&nbsp;Tư tuệ) và trên nền tảng này,&nbsp;tiếp tục&nbsp;đạt được&nbsp;trí tuệ&nbsp;do&nbsp;thực hành&nbsp;thiền chỉ,&nbsp;thiền quán&nbsp;(P.&nbsp;<em>Bhāvanāmayapaññā</em>, Tu tuệ).<br><br>Để tạo nên bản sắc&nbsp;văn hóa&nbsp;tâm linh&nbsp;Phật giáo Việt Nam&nbsp;qua&nbsp;<em>Tam tạng&nbsp;Thánh điển&nbsp;Phật giáo Việt Nam</em>, tôi tha thiết kêu gọi quý&nbsp;Tăng Ni&nbsp;và&nbsp;Phật tử&nbsp;tham gia&nbsp;vào Ban&nbsp;Phiên dịch&nbsp;và Ban&nbsp;Biên tập&nbsp;<em>Tam tạng&nbsp;Thánh điển&nbsp;Phật giáo Việt Nam</em>, góp phần&nbsp;phiên dịch&nbsp;và xuất bản hoàn chỉnh&nbsp;<em>Tam tạng&nbsp;Thánh điển&nbsp;Phật giáo Việt Nam</em>.&nbsp;Đồng thời, tôi tha thiết kêu gọi quý mạnh thường quân và quý&nbsp;Phật tử&nbsp;phát tâm&nbsp;đóng góp&nbsp;tịnh tài&nbsp;để&nbsp;công trình&nbsp;phiên dịch,&nbsp;biên tập&nbsp;và xuất bản&nbsp;<em>Tam tạng&nbsp;Thánh điển&nbsp;Phật giáo Việt Nam</em>&nbsp;sớm&nbsp;thành tựu&nbsp;mỹ mãn.<br><br>Xuất bản&nbsp;<em>Tam tạng&nbsp;Thánh điển&nbsp;Phật giáo Việt Nam</em>&nbsp;không chỉ là niềm mơ ước của&nbsp;Tăng Ni&nbsp;và&nbsp;Phật tử&nbsp;Việt Nam&nbsp;mà còn tạo&nbsp;thuận duyên&nbsp;cho 97 triệu người&nbsp;Việt Nam&nbsp;trong nước và hơn 5 triệu người&nbsp;Việt Nam&nbsp;ở hải ngoại có cơ hội học Phật,&nbsp;tu Phật&nbsp;bằng tiếng Việt, để&nbsp;diệt trừ&nbsp;tham ái,&nbsp;sân hận,&nbsp;si mê,&nbsp;chấp thủ, vốn là nhân khổ đau,&nbsp;đồng thời, trải nghiệm an vui,&nbsp;hạnh phúc&nbsp;bây giờ và tại đây, góp phần làm cho Tổ quốc&nbsp;Việt Nam&nbsp;ngày càng giàu, mạnh và phát triển&nbsp;bền vững.<br></p>



<p class="wp-block-paragraph">Vesak Liên Hợp Quốc, PL.2563 – DL.2019<br><strong><em>Hòa thượng&nbsp;THÍCH THIỆN NHƠN</em></strong><br>(Chủ tịch&nbsp;Hội đồng&nbsp;Trị sự GHPGVN)<br></p>



<h2 class="wp-block-heading">DẪN&nbsp;LUẬN KINH&nbsp;TĂNG CHI BỘ</h2>



<p class="wp-block-paragraph"><em>Tăng chi bộ</em>&nbsp;(<em>Aṅguttara Nikāya</em>) là&nbsp;bộ kinh&nbsp;thứ tư trong năm bộ thuộc&nbsp;hệ thống&nbsp;Kinh tạng&nbsp;Nikāya của&nbsp;Phật giáo&nbsp;Thượng Tọa bộ&nbsp;(Theravāda). Theo&nbsp;tác phẩm<em>Diệu pháp&nbsp;yếu lược&nbsp;</em>(<em>Saddhammasaṅgaha</em>) của Ngài Dhammakitti Mahāsāmi, việc&nbsp;giữ gìn&nbsp;và&nbsp;truyền tụng<em>Tăng chi bộ</em>&nbsp;là do&nbsp;Tôn giả&nbsp;Anuruddha và&nbsp;Tăng chúng&nbsp;thuộc nhóm của Ngài&nbsp;thực hiện.<br>Trong Tổng quan về 5&nbsp;bộ kinh&nbsp;Pāli, Ngài&nbsp;Ấn Thuận&nbsp;chủ trương rằng cả 5&nbsp;bộ kinh&nbsp;này, trong đó có&nbsp;<em>Tăng chi bộ</em>, được&nbsp;bảo tồn&nbsp;và&nbsp;lưu truyền&nbsp;bởi&nbsp;Đồng Diệp bộ.<a href="http://vncphathoc.com/dai-tang-kinh-viet-nam/kinh-tang-chi-bo/dan-luan-kinh-tang-chi-bo.html#_ftn1"><sup>[1]</sup></a>Chi tiết&nbsp;hơn, Ngài&nbsp;Ấn Thuận&nbsp;trích dẫn theo Ngài Buddhaghosa về việc có 4&nbsp;hệ thống&nbsp;phụ trách&nbsp;4&nbsp;bộ kinh&nbsp;chính như sau:</p>



<p class="wp-block-paragraph">(1)Hệ thống&nbsp;Ānanda&nbsp;phụ trách&nbsp;<em>Trường bộ</em>;<br>(2)&nbsp;Hệ thống&nbsp;Sāriputta&nbsp;phụ trách&nbsp;<em>Trung bộ</em>;<br>(3)&nbsp;Hệ thống&nbsp;Mahākassapa&nbsp;phụ trách&nbsp;<em>Tương ưng bộ</em>;<br>(4)&nbsp;Hệ thống&nbsp;Anuruddha&nbsp;phụ trách&nbsp;<em>Tăng chi bộ</em>.</p>



<p class="wp-block-paragraph"><em>Tăng chi bộ</em>&nbsp;có một cấu trúc rất đặc thù vì&nbsp;bộ kinh&nbsp;vừa giống như một bản khái quát cô đọng,&nbsp;tóm tắt&nbsp;những&nbsp;giáo lý&nbsp;cơ bản, những đề tài quan trọng đã được trình bày&nbsp;rộng rãi&nbsp;ở trong&nbsp;<em>Trường bộ</em>&nbsp;(<em>Dīgha</em><em>Nikāya</em>) và cả&nbsp;<em>Trung bộ</em>&nbsp;(<em>Majjhima</em><em>Nikāya</em>). Không những vậy,&nbsp;<em>Tăng chi bộ</em>&nbsp;còn chuyển tải những nội dung vừa&nbsp;phong phú&nbsp;vừa rất mực&nbsp;chi tiết&nbsp;về những điều khoản giống với&nbsp;Luật tạng&nbsp;như&nbsp;vấn đề&nbsp;Tám pháp&nbsp;trọng yếu&nbsp;(<em>Aṭṭhagarudhamma</em>) của Tỳ-kheo-ni.&nbsp;&nbsp;<br>Tương tự&nbsp;truyền thống&nbsp;pháp số&nbsp;đi từ thấp lên cao như hai&nbsp;bản kinh&nbsp;cuối cùng&nbsp;trong&nbsp;<em>Trường bộ</em>,<sup>2</sup><em>Tăng chi bộ</em>&nbsp;có cấu trúc từ Một pháp (<em>Ekakanipāta</em>)&nbsp;cho đến&nbsp;Mười một pháp (<em>Ekādasakanipāta</em>). Cấu trúc này cũng được&nbsp;thiết lập&nbsp;trong&nbsp;bộ kinh&nbsp;Hán tạng tương đương là&nbsp;<em>Tăng nhất A-hàm&nbsp;</em>(<em>Ekottarikāgama</em>),&nbsp;tuy nhiên&nbsp;trật tự&nbsp;pháp số&nbsp;cũng như sự sắp xếp về nội dung giữa hai&nbsp;bộ kinh&nbsp;này có nhiều điểm khác biệt nhau.&nbsp;<em>Tăng nhất A-hàm</em>&nbsp;được Ngài Saṃgharaksa (Tăng Hộ)&nbsp;khẩu truyền&nbsp;cho Ngài Saṃghadeva (Tăng-già-đề-bà) và được dịch sang tiếng Hán vào năm 397-98. Cả hai Ngài đều là người Kasmir (Kế-tân). Khi&nbsp;phiên dịch, dường như Ngài Saṃghadeva cũng&nbsp;sử dụng&nbsp;một phiên bản xưa hơn do Ngài Dharmanandi (Đàm-ma-nan-đề) người Tokharian (Khương-cư)&nbsp;truyền khẩu&nbsp;lại. Rất tiếc, những bản gốc tiếng Sanskrit đều không còn, ngoài những&nbsp;bài kinh&nbsp;rời tìm được ở miền Đông Thổ Nhĩ Kỳ (Turkestan).<a href="http://vncphathoc.com/dai-tang-kinh-viet-nam/kinh-tang-chi-bo/dan-luan-kinh-tang-chi-bo.html#_ftn2"><sup>[2]</sup></a>Truyền thống&nbsp;thiết lập&nbsp;nội dung&nbsp;dựa trên&nbsp;trật tự&nbsp;pháp số&nbsp;trong&nbsp;<em>Tăng chi bộ</em>&nbsp;cũng như&nbsp;<em>Tăng nhất A-hàm</em>&nbsp;là một trong những&nbsp;phương cách&nbsp;phổ biến&nbsp;để ghi nhớ và&nbsp;truyền bá&nbsp;kinh điển. Vì lẽ, trong thư tịch&nbsp;cổ văn&nbsp;của&nbsp;Ấn Độ,&nbsp;vấn đề&nbsp;này còn được phát hiện trong&nbsp;tác phẩm&nbsp;kinh điển<strong>&nbsp;</strong><em>Sthānāṅgasūtra</em>&nbsp;và&nbsp;<em>Samavāyānga</em><a href="http://vncphathoc.com/dai-tang-kinh-viet-nam/kinh-tang-chi-bo/dan-luan-kinh-tang-chi-bo.html#_ftn3"><sup>[3]</sup></a>&nbsp;của Kỳ-na giáo (<em>Jain</em>) và cả trong chương&nbsp;<em>Udyoga Parva</em>&nbsp;của trường ca<em>&nbsp;Mahābhārata.</em><a href="http://vncphathoc.com/dai-tang-kinh-viet-nam/kinh-tang-chi-bo/dan-luan-kinh-tang-chi-bo.html#_ftn4"><em><sup><strong><sup>[4]</sup></strong></sup></em></a>&nbsp;Điều khác biệt là những nhà&nbsp;biên tập<em>Tăng chi bộ</em>&nbsp;cũng như&nbsp;<em>Tăng nhất A-hàm</em>&nbsp;đã đưa&nbsp;truyền thống&nbsp;pháp số&nbsp;vốn có trong nền&nbsp;văn học&nbsp;cổ đại&nbsp;Ấn Độ&nbsp;làm cấu trúc chủ đạo, xuyên suốt và&nbsp;chi phối&nbsp;toàn bộ.<sup>6</sup><br>Vấn đề&nbsp;số lượng các kinh trong&nbsp;<em>Tăng chi bộ</em>&nbsp;cũng là một&nbsp;vấn đề&nbsp;nan giải, vì mãi đến hôm nay vẫn chưa có được một con số thống nhất.&nbsp;Quan điểm&nbsp;truyền thống&nbsp;dựa trên&nbsp;tuyên bố&nbsp;của Ngài Dhammakitti Mahāsāmi viết trong&nbsp;tác phẩm<em>Diệu pháp&nbsp;yếu lược&nbsp;</em>cho rằng có 9.557 kinh. Ấn bản&nbsp;hiện có&nbsp;của&nbsp;Tam tạng&nbsp;Tích Lan&nbsp;(<em>Sri Lanka Tipiṭaka</em>) chỉ&nbsp;ghi nhận&nbsp;có 8.777 kinh.<a href="http://vncphathoc.com/dai-tang-kinh-viet-nam/kinh-tang-chi-bo/dan-luan-kinh-tang-chi-bo.html#_ftn5"><sup>[5]</sup></a>&nbsp;Trong&nbsp;tác phẩm<em>Phân tích&nbsp;Kinh tạng&nbsp;Pāli</em>&nbsp;(<em>An Analysis of the Pāli Canon</em>),<em>&nbsp;</em>tác giả<em>&nbsp;</em>Russell Webb đã thống kê có 3.208 kinh.<a href="http://vncphathoc.com/dai-tang-kinh-viet-nam/kinh-tang-chi-bo/dan-luan-kinh-tang-chi-bo.html#_ftn6"><sup>[6]</sup></a>&nbsp;Trong bản dịch&nbsp;<em>Tăng chi bộ</em>&nbsp;từ Pāli sang Anh ngữ với tên gọi&nbsp;<em>The</em><em>Numerical Discourses of the Buddha,</em>&nbsp;Bhikkhu Bodhi đã đếm được&nbsp;tổng số&nbsp;là 8.122 kinh. Trong số đó, có 4.250 kinh bị trùng lặp, thế nên&nbsp;thực tế&nbsp;chỉ có 3.872 kinh.<sup>9</sup>&nbsp;Con số&nbsp;tối thiểu&nbsp;mà&nbsp;học giả&nbsp;Maurice Winternitz đưa ra là 2.308 kinh.<a href="http://vncphathoc.com/dai-tang-kinh-viet-nam/kinh-tang-chi-bo/dan-luan-kinh-tang-chi-bo.html#_ftn7"><sup>[7]</sup></a><em>&nbsp;</em>Cách tính của Edmund Hardy lại cho ra con số 2.344,<a href="http://vncphathoc.com/dai-tang-kinh-viet-nam/kinh-tang-chi-bo/dan-luan-kinh-tang-chi-bo.html#_ftn8"><sup>[8]</sup></a>&nbsp;con số này được<em>&nbsp;Bách khoa Từ điển&nbsp;Phật giáo&nbsp;</em>(<em>Encyclopaedia of Buddhism</em>) xuất bản tại Tích<br>Lan&nbsp;tiếp nhận.<sup>12</sup>&nbsp;Trong bản dịch tiếng Việt&nbsp;<em>Tăng chi bộ</em>&nbsp;của&nbsp;Hòa thượng&nbsp;Thích&nbsp;Minh Châu,&nbsp;chúng tôi&nbsp;đếm được 7.231 kinh. Trên&nbsp;thực tế&nbsp;chỉ có 2.202 kinh, còn lại là những kinh giống như kinh trước nhưng chỉ khác một&nbsp;thuật ngữ&nbsp;hoặc một khái niệm nhỏ.<br>Truyền bản&nbsp;<em>Tăng chi bộ</em>&nbsp;được ghi lại đầu tiên bằng&nbsp;ngôn ngữ&nbsp;Sinhala do một nhóm các vị Tỳ-kheo tại Alu Vihāra gần Mātale&nbsp;thực hiện&nbsp;vào năm 454 sau khi&nbsp;đức Phật&nbsp;nhập Niết-bàn (35-32 BC.).<a href="http://vncphathoc.com/dai-tang-kinh-viet-nam/kinh-tang-chi-bo/dan-luan-kinh-tang-chi-bo.html#_ftn9"><sup>[9]</sup></a>&nbsp;Đến cuối thế kỷ XIX, vào năm 1885, Hội&nbsp;Thánh điển&nbsp;Pali (PTS) đã tổ chức&nbsp;ấn hành&nbsp;bản&nbsp;<em>Tăng chi bộ</em>&nbsp;từ&nbsp;ngôn ngữ&nbsp;Pāli chuyển thể sang mẫu tự La-tinh do Richard Morris (1833-1894)&nbsp;biên tập.<br>Sau đó, Hội PTS đã&nbsp;lần lượt&nbsp;ấn hành&nbsp;bản dịch Anh ngữ&nbsp;<em>Tăng chi bộ</em>&nbsp;với tựa đề&nbsp;<em>The Book of the Gradual Sayings</em>&nbsp;do&nbsp;tác giả&nbsp;F. L. Woodward (1871-1952) dịch tập I, tập II, tập V và&nbsp;tác giả&nbsp;E. M. Hare (1893-1955) dịch tập III và tập IV. Đến năm 2012, Bhikkhu Bodhi đã dịch lại&nbsp;<em>Tăng chi bộ</em>&nbsp;từ Pāli sang Anh ngữ với tựa đề&nbsp;<em>The Numerical Discourses of the Buddha</em>. Vào năm 2018, Bhikkhu Sujato dịch&nbsp;bản kinh&nbsp;này từ Pāli sang Anh ngữ với tựa đề&nbsp;<em>Numerical Discourses</em>.&nbsp;<em>Bách khoa Từ điển&nbsp;Phật giáo&nbsp;</em>tại&nbsp;Tích Lan&nbsp;cho rằng những tựa đề trên đều&nbsp;xuất phát&nbsp;từ tựa đề rất dài mà Max Müller trước kia đã&nbsp;sử dụng<em>Collection of Discourses in Divisions the Length of Which Increases by One</em>.<a href="http://vncphathoc.com/dai-tang-kinh-viet-nam/kinh-tang-chi-bo/dan-luan-kinh-tang-chi-bo.html#_ftn10"><sup>[10]</sup></a>&nbsp;Tính đến ngày nay,&nbsp;<em>Tăng chi bộ</em>&nbsp;đã được dịch sang nhiều&nbsp;ngôn ngữ&nbsp;trên&nbsp;thế giới&nbsp;như Pháp, Đức, Ý, Tây Ban Nha,&nbsp;Bồ Đào Nha, Nga, Hoa, Thái Lan, Indonesia… và gồm cả tiếng Việt.<br><em>Tăng chi bộ</em>&nbsp;gồm những&nbsp;bài kinh&nbsp;ngắn và rất ngắn,&nbsp;tuy nhiên, cũng có nhiều&nbsp;bài kinh&nbsp;dài, thường được hỗ trợ bởi các đoạn&nbsp;kệ tụng.<a href="http://vncphathoc.com/dai-tang-kinh-viet-nam/kinh-tang-chi-bo/dan-luan-kinh-tang-chi-bo.html#_ftn11"><sup>[11]</sup></a>&nbsp;Tất cả những&nbsp;bài kinh&nbsp;dù ngắn hay dài đều được sắp xếp theo&nbsp;hệ thống&nbsp;một cách&nbsp;cẩn thận.<a href="http://vncphathoc.com/dai-tang-kinh-viet-nam/kinh-tang-chi-bo/dan-luan-kinh-tang-chi-bo.html#_ftn12"><sup>[12]</sup></a>&nbsp;Bimala Churn Law cho rằng,&nbsp;bộ kinh&nbsp;này từ&nbsp;<em>Trường</em><em>bộ</em>&nbsp;và&nbsp;<em>Trung bộ</em>&nbsp;chia nhỏ mà có. Nhờ ngắn gọn nên có&nbsp;tác dụng&nbsp;giúp ích cho việc ghi nhớ,&nbsp;thuận tiện&nbsp;cho việc&nbsp;đọc tụng&nbsp;cũng như truyền dạy từ thầy xuống trò. Mặt khác, nhờ ngắn gọn nên từng đề tài nhỏ trong kho tàng&nbsp;giáo pháp&nbsp;được&nbsp;nhấn mạnh&nbsp;đầy đủ,<a href="http://vncphathoc.com/dai-tang-kinh-viet-nam/kinh-tang-chi-bo/dan-luan-kinh-tang-chi-bo.html#_ftn13"><sup>[13]</sup></a>cụ thể&nbsp;như&nbsp;trường hợp&nbsp;mỗi một&nbsp;triền cái&nbsp;trở thành&nbsp;đề tài của một&nbsp;bài kinh.&nbsp;<br>Nội dung của&nbsp;<em>Tăng chi bộ</em>vô cùng&nbsp;đa dạng,&nbsp;phong phú, ngoài&nbsp;giáo pháp&nbsp;còn có những mảng&nbsp;liên quan đến&nbsp;triết học,&nbsp;đạo đức&nbsp;học,<a href="http://vncphathoc.com/dai-tang-kinh-viet-nam/kinh-tang-chi-bo/dan-luan-kinh-tang-chi-bo.html#_ftn14"><sup>[14]</sup></a>văn hóa,&nbsp;luật pháp<a href="http://vncphathoc.com/dai-tang-kinh-viet-nam/kinh-tang-chi-bo/dan-luan-kinh-tang-chi-bo.html#_ftn15"><sup>[15]</sup></a>&nbsp;và&nbsp;công ích&nbsp;xã hội.<a href="http://vncphathoc.com/dai-tang-kinh-viet-nam/kinh-tang-chi-bo/dan-luan-kinh-tang-chi-bo.html#_ftn16"><sup>[16]</sup></a><em>Tăng chi bộ</em>&nbsp;không chỉ hàm chứa nội dung có&nbsp;giá trị&nbsp;rất riêng,&nbsp;soi sáng&nbsp;về&nbsp;lịch sử&nbsp;phát triển của&nbsp;Phật giáo,<a href="http://vncphathoc.com/dai-tang-kinh-viet-nam/kinh-tang-chi-bo/dan-luan-kinh-tang-chi-bo.html#_ftn17"><sup>[17]</sup></a>&nbsp;mà còn có nhiều nội dung tương thông với&nbsp;Luật tạng, nhất là với&nbsp;<em>Suttavibhaṅga</em><a href="http://vncphathoc.com/dai-tang-kinh-viet-nam/kinh-tang-chi-bo/dan-luan-kinh-tang-chi-bo.html#_ftn18"><sup>[18]</sup></a>&nbsp;và&nbsp;Luận tạng,&nbsp;đặc biệt&nbsp;với bộ&nbsp;<em>Puggalapaññatti&nbsp;</em>(Nhân chế định),<a href="http://vncphathoc.com/dai-tang-kinh-viet-nam/kinh-tang-chi-bo/dan-luan-kinh-tang-chi-bo.html#_ftn19"><sup>[19]</sup></a>&nbsp;nhưng nhiều nhất vẫn là sự tương thông với các&nbsp;bộ kinh&nbsp;khác. Về mặt&nbsp;ngôn ngữ&nbsp;và văn phong,&nbsp;<em>Tăng chi bộ</em>&nbsp;gần&nbsp;như không&nbsp;có gì khác biệt với 3&nbsp;bộ kinh&nbsp;trước vì cả 4&nbsp;bộ kinh&nbsp;này đều có chung một nguồn tư liệu là nền&nbsp;văn học&nbsp;Phật giáo Nguyên thủy<a href="http://vncphathoc.com/dai-tang-kinh-viet-nam/kinh-tang-chi-bo/dan-luan-kinh-tang-chi-bo.html#_ftn20"><sup>[20]</sup></a>&nbsp;trong dạng&nbsp;truyền khẩu. Ngài&nbsp;Ấn Thuận&nbsp;đã&nbsp;liệt kê&nbsp;215&nbsp;trường hợp&nbsp;của&nbsp;<em>Tăng chi bộ</em>&nbsp;có cùng nội dung với&nbsp;<em>Trung A-hàm kinh</em>.<a href="http://vncphathoc.com/dai-tang-kinh-viet-nam/kinh-tang-chi-bo/dan-luan-kinh-tang-chi-bo.html#_ftn21"><sup>[21]</sup></a>&nbsp;Nhiều&nbsp;trường hợp&nbsp;khác,&nbsp;<em>Tăng chi bộ</em>&nbsp;có cùng nội dung với&nbsp;<em>Tăng nhất A-hàm kinh</em>,&nbsp;<em>Như thị&nbsp;ngữ</em><em>kinh</em>&nbsp;và&nbsp;<em>Bổn sự&nbsp;kinh</em>.<a href="http://vncphathoc.com/dai-tang-kinh-viet-nam/kinh-tang-chi-bo/dan-luan-kinh-tang-chi-bo.html#_ftn22"><sup>[22]</sup></a></p>



<p class="wp-block-paragraph">Cả Bimala Churn Law và Kanai Lal Hazra<a href="http://vncphathoc.com/dai-tang-kinh-viet-nam/kinh-tang-chi-bo/dan-luan-kinh-tang-chi-bo.html#_ftn23"><sup>[23]</sup></a>&nbsp;đều chia sẻ một bản&nbsp;liệt kê&nbsp;giống nhau về việc phân bố của các phần (<em>nipāta</em>), phẩm (<em>vagga</em>), quyển (<em>nikāya</em>) và trang của ấn bản PTS như sau:<br>&nbsp;</p>



<figure class="wp-block-table"><table class="has-fixed-layout"><tbody><tr><td>Stt</td><td>&nbsp;Phần</td><td>Phẩm</td><td>Quyển</td><td>Trang</td></tr><tr><td>1</td><td>&nbsp;Một pháp</td><td>&nbsp;21</td><td>&nbsp;I</td><td>&nbsp;01 – 46</td></tr><tr><td>2</td><td>&nbsp;Hai pháp</td><td>&nbsp;16</td><td>&nbsp;I</td><td>&nbsp;47 – 100</td></tr><tr><td>3</td><td>&nbsp;Ba pháp</td><td>&nbsp;16</td><td>&nbsp;I</td><td>&nbsp;101 – 304</td></tr><tr><td>4</td><td>&nbsp;Bốn pháp</td><td>&nbsp;26</td><td>&nbsp;II</td><td>&nbsp;01 – 257</td></tr><tr><td>5</td><td>&nbsp;Năm pháp</td><td>&nbsp;26</td><td>&nbsp;III</td><td>&nbsp;01 – 278</td></tr><tr><td>6</td><td>&nbsp;Sáu pháp</td><td>&nbsp;12</td><td>&nbsp;III</td><td>&nbsp;279 – 452</td></tr><tr><td>7</td><td>&nbsp;Bảy pháp</td><td>&nbsp;09</td><td>&nbsp;IV</td><td>&nbsp;01 – 149</td></tr><tr><td>8</td><td>&nbsp;Tám pháp</td><td>&nbsp;09</td><td>&nbsp;IV</td><td>&nbsp;150 – 350</td></tr><tr><td>9</td><td>&nbsp;Chín pháp</td><td>&nbsp;09</td><td>&nbsp;IV</td><td>&nbsp;351 – 466</td></tr><tr><td>10</td><td>&nbsp;Mười pháp</td><td>&nbsp;22</td><td>&nbsp;V</td><td>&nbsp;01 – 310</td></tr><tr><td>11</td><td>&nbsp;Mười một pháp</td><td>&nbsp;03</td><td>&nbsp;V</td><td>&nbsp;311 – 361</td></tr></tbody></table></figure>



<p class="wp-block-paragraph"><br>Bản dịch tiếng Việt&nbsp;<em>Tăng chi bộ</em>&nbsp;do&nbsp;Hòa thượng&nbsp;Thích&nbsp;Minh Châu&nbsp;thực hiện&nbsp;vào năm 1976 và đã&nbsp;ấn hành&nbsp;lần đầu tiên vào năm 1980 trong&nbsp;hình thức&nbsp;lưu hành&nbsp;nội bộ.&nbsp;Trải qua&nbsp;nhiều lần&nbsp;hiệu đính&nbsp;được&nbsp;thực hiện&nbsp;bởi chính dịch giả và các vị được&nbsp;giao phó,&nbsp;<em>Tăng chi bộ</em>&nbsp;trong bản in năm 2020 có bổ sung một số phụ chú&nbsp;tham chiếu&nbsp;Pāli, Hán cổ và bản tiếng Anh mà Ngài đã&nbsp;sử dụng&nbsp;tham khảo&nbsp;trong quá trình dịch thuật.<br>Ấn bản lần này gom thành 1 tập và có số phẩm, số trang như sau:<br>&nbsp;</p>



<figure class="wp-block-table"><table class="has-fixed-layout"><tbody><tr><td>Stt</td><td>&nbsp;Phần</td><td>Phẩm</td><td>Trang</td></tr><tr><td>1</td><td>&nbsp;Một pháp</td><td>&nbsp;20</td><td>&nbsp;01 – 47</td></tr><tr><td>2</td><td>&nbsp;Hai pháp</td><td>&nbsp;19</td><td>&nbsp;49 – 92</td></tr><tr><td><a href="https://thuvienhoasen.org/images/file/9y2BGTds3AgBAE8O/banner-kinh-mung-phat-dan.jpg"></a>3</td><td>&nbsp;Ba pháp</td><td>&nbsp;18</td><td>&nbsp;93 – 267</td></tr><tr><td>4</td><td>&nbsp;Bốn pháp</td><td>&nbsp;28</td><td>&nbsp;269 – 497</td></tr><tr><td>5</td><td>&nbsp;Năm pháp</td><td>&nbsp;29</td><td>&nbsp;499 – 710</td></tr><tr><td>6</td><td>&nbsp;Sáu pháp</td><td>&nbsp;13</td><td>&nbsp;711 – 827</td></tr><tr><td>7</td><td>&nbsp;Bảy pháp</td><td>&nbsp;11</td><td>&nbsp;829 – 929</td></tr><tr><td>8</td><td>&nbsp;Tám pháp</td><td>&nbsp;11</td><td>&nbsp;931 – 1053</td></tr><tr><td>9</td><td>&nbsp;Chín pháp</td><td>&nbsp;10</td><td>&nbsp;1055 – 1131</td></tr><tr><td>10</td><td>&nbsp;Mười pháp</td><td>&nbsp;23</td><td>&nbsp;1133 – 1319</td></tr><tr><td>11</td><td>&nbsp;Mười một pháp</td><td>&nbsp;04</td><td>&nbsp;1321 – 1350</td></tr></tbody></table></figure>



<p class="wp-block-paragraph">Nội dung của&nbsp;<em>Tăng chi bộ</em>&nbsp;được&nbsp;tóm tắt&nbsp;như sau:</p>



<p class="wp-block-paragraph"><strong>1. Chương Một pháp</strong>&nbsp;(<em>Ekakanipāta</em>) gồm những&nbsp;chủ đề:&nbsp;Sức mạnh&nbsp;và&nbsp;tai hại&nbsp;của&nbsp;ngũ dục; Các&nbsp;trạng thái&nbsp;thiền định;&nbsp;Bản chất&nbsp;và&nbsp;sức mạnh&nbsp;của tâm khi được&nbsp;tu tập&nbsp;cũng như xác định đúng hướng và ngược lại; Những&nbsp;thành tựu&nbsp;đúng nghĩa và những mất mát&nbsp;vô nghĩa; Những&nbsp;lợi ích&nbsp;và&nbsp;bất lợi; Những bậc Thánh&nbsp;tiêu biểu&nbsp;trong&nbsp;giáo pháp, từ&nbsp;đức Phật&nbsp;đến&nbsp;Thánh chúng&nbsp;và các&nbsp;vị cư&nbsp;sĩ&nbsp;tại gia; Những&nbsp;sự kiện&nbsp;không xảy ra và có xảy ra; Sự đặc thù của&nbsp;chánh kiến&nbsp;và&nbsp;tà kiến;&nbsp;Sức mạnh&nbsp;của không&nbsp;phóng dật,&nbsp;tinh tấn&nbsp;và&nbsp;thiền định.</p>



<p class="wp-block-paragraph">“<em>Tâm này, này các Tỷ-kheo, là sáng chói, nhưng tâm này bị&nbsp;ô nhiễm&nbsp;bởi các&nbsp;cấu uế&nbsp;từ ngoài vào</em>” (<em>A</em>. I. 10).</p>



<p class="wp-block-paragraph"><strong>2. Chương Hai pháp</strong>&nbsp;(<em>Dukanipāta</em>) gồm những&nbsp;chủ đề:&nbsp;Nhân quả&nbsp;và&nbsp;tội báo; Nền tảng&nbsp;đạo đức; Hai loại&nbsp;sức mạnh; Hai cách&nbsp;thuyết pháp;&nbsp;Vai trò&nbsp;của&nbsp;văn cú&nbsp;và nội dung&nbsp;ý nghĩa;&nbsp;Tri ân&nbsp;và&nbsp;báo ân;&nbsp;Định danh&nbsp;Trưởng lão;&nbsp;Các loại&nbsp;hội chúng;&nbsp;Các loại&nbsp;hỷ lạc;&nbsp;Các loại&nbsp;hy vọng;&nbsp;Các loại&nbsp;bố thí; Bậc Thánh và sự&nbsp;giác ngộ;&nbsp;Thanh tịnh&nbsp;thì không&nbsp;sợ hãi; Hiền trí và kẻ ngu;&nbsp;Thiền định&nbsp;và các tâm&nbsp;hộ trì;&nbsp;Phẫn nộ&nbsp;và hiềm hận;&nbsp;Nguyên nhân&nbsp;chế giới.</p>



<p class="wp-block-paragraph">“<em>Hai pháp trắng này, này các Tỷ-kheo,&nbsp;che chở&nbsp;cho&nbsp;thế giới. Thế nào là hai? Tàm và quý</em>” (<em>A</em>. I. 51).</p>



<p class="wp-block-paragraph"><strong>3. Chương Ba pháp</strong>&nbsp;(<em>Tikanipāta</em>) gồm những&nbsp;chủ đề: Kẻ ngu và người trí; Ba thời điểm cần ghi nhớ; Bài học từ người đóng bánh xe; Bài học từ người buôn bán; Những loại người&nbsp;xuất hiện&nbsp;trên đời, những loại người nên và không nên gần gũi; Nghệ thuật giao tiếp; Con cái&nbsp;tôn kính&nbsp;cha mẹ&nbsp;như&nbsp;Phạm thiên; Thế nào gọi là&nbsp;an lạc;&nbsp;Gia đình&nbsp;hiền thiện;&nbsp;Điều kiện&nbsp;sống của&nbsp;đức Phật&nbsp;trước khi&nbsp;xuất gia; Ba minh của Bà-la-môn và Ba minh của bậc Thánh; Ba loại&nbsp;thần thông;&nbsp;Biện minh&nbsp;về tạo hóa;&nbsp;Sư tử&nbsp;và&nbsp;dã can; Tự biết rõ rồi hãy tin;&nbsp;Sơ khởi&nbsp;về&nbsp;Nhân minh luận;&nbsp;Các loại&nbsp;trai giới;&nbsp;Các loại&nbsp;hương;&nbsp;Tăng thượng&nbsp;tam học; Vải thô và lụa là; Nắm muối và chén nước; Lọc tâm như lọc vàng; Ba hạng&nbsp;Đạo sư; Tự ngã&nbsp;thối nát; Ba loại&nbsp;chữ viết; Chiến sĩ và Tỳ-kheo;&nbsp;Tam pháp ấn;&nbsp;Thuần hóa&nbsp;ngựa rừng;&nbsp;Các loại&nbsp;đạo lộ.</p>



<p class="wp-block-paragraph">“<em>Như vậy, này Ānanda, nghiệp là thửa ruộng, thức là&nbsp;hạt giống, ái là sự nhuận ướt</em>” (<em>A</em>. I. 223).</p>



<p class="wp-block-paragraph"><strong>4. Chương Bốn pháp</strong>&nbsp;(<em>Catukkanipāta</em>) gồm những&nbsp;chủ đề: Giới, Định, Tuệ và&nbsp;Giải thoát; Bậc&nbsp;trí tuệ&nbsp;và&nbsp;đa văn&nbsp;như&nbsp;vàng ròng&nbsp;ở cõi Diêm-phù; Bốn&nbsp;vô sở&nbsp;úy;&nbsp;Bốn chánh cần;&nbsp;Tôn trọng&nbsp;và nương tựa pháp; Bốn pháp&nbsp;tác thành&nbsp;bậc&nbsp;Trưởng lão;&nbsp;Mục đích&nbsp;của&nbsp;Phạm hạnh; Bốn&nbsp;Thánh chủng; Bốn nhiếp pháp;&nbsp;Đức Phật&nbsp;là ai; Bốn cách&nbsp;trả lời; Nguồn cội của&nbsp;phước đức; Bốn&nbsp;cách sống&nbsp;chung; Bốn&nbsp;pháp bố thí; Bổn phận của&nbsp;cư sĩ; Pháp rải&nbsp;tâm từ; Sự&nbsp;vi diệu&nbsp;của&nbsp;Như Lai; Cách thức&nbsp;thuyết pháp; Đạo lộ&nbsp;tu hành; Cơ sở xác định&nbsp;giáo pháp; Lắng nghe, tụng đọc,&nbsp;suy gẫm&nbsp;cách thức để&nbsp;thể nhập&nbsp;pháp; Hiểu rồi hãy nên tin;&nbsp;Nguyên nhân&nbsp;đẹp và xấu; Bốn loại nghiệp; Bốn quả Sa-môn.</p>



<p class="wp-block-paragraph">“<em>Cũng vậy, này Bà-la-môn, sanh ra&nbsp;trong đời, lớn lên&nbsp;trong đời, Ta sống&nbsp;chinh phục&nbsp;đời, không bị đời thấm ướt. Này Bà-la-môn, Ta là Phật, hãy như vậy&nbsp;thọ trì</em>” (<em>A</em>. II. 37).</p>



<p class="wp-block-paragraph"><strong>5. Chương Năm pháp</strong>&nbsp;(<em>Pañcakanipāta</em>) gồm những&nbsp;chủ đề:&nbsp;Năm sức&nbsp;mạnh;&nbsp;Dạy bảo&nbsp;cứng rắn; Biết sống&nbsp;hòa hợp; Uế nhiễm của tâm; Năm xứ&nbsp;giải thoát;&nbsp;Lợi ích&nbsp;của&nbsp;kinh hành;&nbsp;Công đức&nbsp;bố thí; Pháp của nàng dâu;&nbsp;Ý nghĩa&nbsp;sinh con trai;&nbsp;Phương cách&nbsp;gầy dựng&nbsp;tài sản;&nbsp;Bố thí&nbsp;vật&nbsp;khả ý; Năm loại Thánh tài; Mũi tên&nbsp;sầu muộn;&nbsp;Năm chướng ngại&nbsp;bao phủ tâm;&nbsp;Xuất gia&nbsp;khi tuổi xế chiều; Sống theo pháp; Năm hạng chiến sĩ; Sống ở trong rừng;&nbsp;Trưởng lão&nbsp;kỳ cựu;</p>



<p class="wp-block-paragraph">Mất&nbsp;thần thông&nbsp;vì&nbsp;danh lợi; Phương thức của&nbsp;kẻ trộm; Sống theo&nbsp;Giới bổn; Chăm sóc bệnh;&nbsp;Phương pháp&nbsp;gia tăng&nbsp;tuổi thọ; Tội&nbsp;ngũ nghịch;&nbsp;Tổn thất&nbsp;và&nbsp;thành tựu; Bậc&nbsp;Chuyển Luân Vương; Con voi của nhà vua;&nbsp;Bố thí&nbsp;của bậc&nbsp;Chân nhân;&nbsp;Diệu pháp&nbsp;hỗn loạn; Cách thức&nbsp;thuyết pháp;&nbsp;Trừ khử&nbsp;hiềm hận; Kẻ bị vất bỏ; Năm việc&nbsp;không kinh&nbsp;doanh; Hạng người sống ở rừng; Cựu pháp của Bàla-môn; Các hạng Bà-la-môn; Bà-la-môn và&nbsp;chú thuật;&nbsp;Giấc mộng&nbsp;của Bồ-tát; Năm&nbsp;tính chất&nbsp;của&nbsp;lời nói;&nbsp;Lợi ích&nbsp;của cháo;&nbsp;Lợi ích&nbsp;của tăm xỉa răng;&nbsp;Thuyết pháp&nbsp;với giọng ca;&nbsp;Tham luyến&nbsp;trú xứ.<br>“<em>Nói đúng&nbsp;thời,&nbsp;nói đúng&nbsp;sự thật, nói lời nhu hòa, nói lời&nbsp;liên hệ&nbsp;đến&nbsp;lợi ích, nói với lời&nbsp;từ tâm</em>” (<em>A</em>. III. 243).</p>



<p class="wp-block-paragraph"><strong>6. Chương Sáu pháp</strong>&nbsp;(<em>Chakkanipāta</em>) gồm những&nbsp;chủ đề:&nbsp;Cung kính&nbsp;bậc đáng&nbsp;cung kính; Các căn và các lực; Con ngựa của nhà vua; Sáu nguyên tắc sống chung; Giáo giới khi&nbsp;lâm chung&nbsp;cho hàng&nbsp;cư sĩ, Tỷ-kheo; Nghề nghiệp và&nbsp;ác nghiệp;&nbsp;Tu tập&nbsp;niệm chết;&nbsp;Thời gian&nbsp;thích hợp&nbsp;để&nbsp;tu hành;&nbsp;Sáu chỗ&nbsp;tùy niệm; Sáu&nbsp;pháp minh&nbsp;phần;&nbsp;Vô nhân&nbsp;luận của Bà-la-môn;&nbsp;Nguyên nhân&nbsp;để&nbsp;Diệu pháp&nbsp;tồn tại; Trú xứ mà Phật&nbsp;hoan hỷ; Xác tín về quả&nbsp;Dự lưu;&nbsp;Đau khổ&nbsp;của kẻ&nbsp;nghèo khổ;&nbsp;Bình đẳng&nbsp;tư duy; Phòng hộ các căn; Không&nbsp;phóng dật; Đồng&nbsp;Phạm hạnh&nbsp;phải&nbsp;kính trọng&nbsp;nhau; Tiếng đàn của Soṇa; Đoạn trừ&nbsp;lậu hoặc;&nbsp;Hoàn tục&nbsp;và&nbsp;xuất gia;&nbsp;Con đường&nbsp;đi đến bờ kia;&nbsp;Pháp môn&nbsp;quyết trạch; Sáu lực của&nbsp;Như Lai;&nbsp;Điều kiện&nbsp;để&nbsp;chứng quả&nbsp;Bất lai&nbsp;và A-la-hán;&nbsp;Điều kiện&nbsp;để&nbsp;an trú&nbsp;Sơ thiền;&nbsp;Thành tựu&nbsp;sự&nbsp;thanh lương;&nbsp;Quyết định&nbsp;tánh của sự&nbsp;nghe pháp; Hành động của người có&nbsp;chánh kiến;&nbsp;Chứng quả&nbsp;Dự lưu.</p>



<p class="wp-block-paragraph">“<em>Khi&nbsp;tinh cần&nbsp;tinh tấn&nbsp;quá&nbsp;căng thẳng, thời đưa đến&nbsp;dao động; khi&nbsp;tinh cần&nbsp;tinh tấn&nbsp;quá&nbsp;thụ động, thời đưa đến&nbsp;biếng nhác</em>” (<em>A</em>. III. 375).</p>



<p class="wp-block-paragraph"><strong>7. Chương Bảy pháp</strong>&nbsp;(<em>Sattakanipāta</em>) gồm những&nbsp;chủ đề: Bảy&nbsp;tài sản&nbsp;của bậc Thánh;&nbsp;Phiền não&nbsp;tiềm phục;&nbsp;Điều kiện&nbsp;trở thành&nbsp;gia đình&nbsp;thuần lương; Ví dụ người và nước; Bảy pháp&nbsp;bất thối&nbsp;của một&nbsp;quốc gia&nbsp;và của vị Tỳ-kheo;&nbsp;Bảy giác chi;&nbsp;Lời nói&nbsp;vắn tắt&nbsp;nhưng&nbsp;ý nghĩa&nbsp;rộng lớn; Những&nbsp;điều kiện&nbsp;để&nbsp;trở thành&nbsp;bạn tốt;&nbsp;Điều kiện&nbsp;đạt được&nbsp;bốn vô ngại&nbsp;giải;&nbsp;Thiện xảo&nbsp;trong&nbsp;thiền định; Bảy chỗ&nbsp;thức trú; Bảy loại lửa và&nbsp;lợi ích&nbsp;của chúng; Bảy loại tưởng; Thế nào là sống&nbsp;Phạm hạnh;&nbsp;Pháp môn&nbsp;hệ lụy&nbsp;và&nbsp;ly hệ&nbsp;lụy;&nbsp;Bố thí&nbsp;với&nbsp;ý nghĩa&nbsp;lớn; Nguồn gốc của sự&nbsp;hồi hướng công đức; Những&nbsp;sự kiện&nbsp;Như Lai&nbsp;không&nbsp;trả lời; Bảy&nbsp;sanh thú&nbsp;của&nbsp;loài người; Kết quả&nbsp;hiện tại&nbsp;của sự&nbsp;bố thí;&nbsp;Như Lai&nbsp;không&nbsp;che đậy&nbsp;và không phạm lỗi; Những&nbsp;phương pháp&nbsp;ngăn ngừa&nbsp;buồn ngủ; Bảy hạng vợ; Ước muốn của&nbsp;kẻ thù&nbsp;địch;&nbsp;Tàm quý&nbsp;và cơ sở để&nbsp;chế ngự&nbsp;các căn; Bảy&nbsp;mặt trời; Phòng hộ&nbsp;vững chãi&nbsp;như thành trì ngoài biên ải; Bảy pháp cần thắng tri; Cây Trú Độ của&nbsp;chư thiên&nbsp;ở&nbsp;cõi trời Ba Mươi Ba; Tỳ-kheo phải&nbsp;kính trọng&nbsp;ai;&nbsp;Tùy thuận&nbsp;tu tập; Sự nguy hiểm của&nbsp;cung kính&nbsp;và&nbsp;lợi dưỡng;&nbsp;Ngoại đạo&nbsp;ly tham&nbsp;Araka dạy&nbsp;đệ tử; Để xứng đáng là bậc&nbsp;trì Luật; Bảy&nbsp;pháp diệt&nbsp;trừ sự tranh cãi; Người xứng đáng được&nbsp;cung kính.</p>



<p class="wp-block-paragraph">“<em>Như giọt sương là&nbsp;đời sống&nbsp;loài người, nhỏ bé, không&nbsp;đáng kể, nhiều khổ đau, nhiều ưu não</em>” (<em>A</em>. IV. 136).</p>



<p class="wp-block-paragraph"><strong>8. Chương&nbsp;Tám pháp</strong>&nbsp;(<em>Aṭṭhakanipāta</em>) gồm những&nbsp;chủ đề:&nbsp;Lợi ích&nbsp;của&nbsp;lòng từ; Tám&nbsp;nhân duyên&nbsp;thành tựu&nbsp;Phạm hạnh;&nbsp;Tám pháp&nbsp;xoay&nbsp;chuyển thế&nbsp;gian; Khi tâm bị&nbsp;chinh phục; Những phẩm hạnh của&nbsp;Tôn giả&nbsp;Nanda; Tỳ-kheo&nbsp;giả dạng; Các triết phái&nbsp;công kích&nbsp;đức Thế Tôn; Tướng quân Sīha&nbsp;quy y&nbsp;với&nbsp;Thế Tôn; Con ngựa thuần phục, con ngựa chưa được&nbsp;điều phục&nbsp;và các hạng Tỳ-kheo;&nbsp;Vô minh&nbsp;và&nbsp;cấu uế;&nbsp;Điều kiện&nbsp;để&nbsp;trở thành&nbsp;sứ giả; Sự&nbsp;trói buộc&nbsp;giữa nam và nữ; Tám&nbsp;tính chất&nbsp;của biển và&nbsp;giáo pháp;&nbsp;Điều kiện&nbsp;để Bố-tát; Ugga và Hatthaka, những&nbsp;cư sĩ&nbsp;lý tưởng; Định nghĩa về&nbsp;cư sĩ; Tám&nbsp;sự kiện&nbsp;phi thời&nbsp;cho&nbsp;đời sống&nbsp;Phạm hạnh; Tư niệm về pháp của&nbsp;Tôn giả&nbsp;Anuruddha; Những&nbsp;lý do&nbsp;phải&nbsp;bố thí&nbsp;và làm phước; Thửa ruộng và vị Tỳ-kheo; Tám nguồn nước&nbsp;công đức; Quả&nbsp;dị thục&nbsp;của hành động ác; Tám chi&nbsp;trai giới&nbsp;và&nbsp;công đức&nbsp;thực hành;&nbsp;Tám pháp&nbsp;để&nbsp;nữ nhân&nbsp;sanh thiên; Các pháp giúp người&nbsp;phụ nữ&nbsp;sống&nbsp;tự chủ; Sự&nbsp;thành lập&nbsp;Ni đoàn và&nbsp;tám pháp&nbsp;trọng yếu; Những&nbsp;điều kiện&nbsp;để người&nbsp;cư sĩ&nbsp;sống&nbsp;hạnh phúc,&nbsp;an lạc&nbsp;ngay trong&nbsp;hiện tại&nbsp;và tương lai; Đạo và Quả của bậc Thánh;&nbsp;Điều kiện&nbsp;cần của vị&nbsp;giảng sư;&nbsp;Giao thiệp&nbsp;với&nbsp;chư thiên;&nbsp;Tám thắng xứ;&nbsp;Tám giải thoát; Tám&nbsp;Thánh ngôn;&nbsp;Hội chúng&nbsp;của&nbsp;đức Phật;&nbsp;Lời hứa&nbsp;của&nbsp;đức Phật;&nbsp;Lòng tin;&nbsp;Tu tập&nbsp;niệm chết; Chỗ dựa của&nbsp;biếng nhác&nbsp;và&nbsp;tinh tấn; Cội rễ của sự vật; Pháp của&nbsp;kẻ trộm; Các tên gọi khác của&nbsp;Như Lai; Trú xứ được&nbsp;đức Phật&nbsp;khen ngợi; Pháp trách phạt&nbsp;cư sĩ; Pháp yết-ma cử tội; Các&nbsp;nữ cư sĩ&nbsp;tiêu biểu.</p>



<p class="wp-block-paragraph">“<em>Trong Pháp và Luật này, các học pháp là&nbsp;tuần tự, các quả&nbsp;dị thục&nbsp;là&nbsp;tuần tự, các&nbsp;con đường&nbsp;là&nbsp;tuần tự, không có&nbsp;sự thể&nbsp;nhập&nbsp;chánh trí&nbsp;thình lình</em>” (<em>A</em>. IV. 197).</p>



<p class="wp-block-paragraph"><strong>9. Chương Chín pháp</strong>&nbsp;(<em>Navakanipāta</em>) gồm những&nbsp;chủ đề: Chín&nbsp;pháp y&nbsp;cứ để&nbsp;thành tựu&nbsp;Chánh giác&nbsp;phần; Các pháp đưa đến&nbsp;tâm giải thoát;&nbsp;Nghe pháp&nbsp;đúng thời và&nbsp;đàm luận&nbsp;pháp đúng thời;&nbsp;Thành tựu&nbsp;bốn&nbsp;sức mạnh; Pháp&nbsp;cần phải&nbsp;thân cận và không&nbsp;cần phải&nbsp;thân cận; Bậc A-la-hán không còn&nbsp;lỗi lầm; Chín hạng người; Phẩm hạnh của&nbsp;Tôn giả&nbsp;Sāriputta; Những&nbsp;lý do&nbsp;để sống&nbsp;Phạm hạnh; Hỏi đáp với&nbsp;Tôn giả&nbsp;Samiddhi;&nbsp;Thân thể&nbsp;như ung nhọt; Chín loại tưởng; Những&nbsp;gia đình&nbsp;vị Tỷ-kheo nên đến và không nên đến;&nbsp;Tám pháp&nbsp;trai giới&nbsp;và&nbsp;bốn tâm vô lượng; Sự&nbsp;hối hận&nbsp;của&nbsp;chư thiên;&nbsp;Phân biệt&nbsp;bố thí; Chín chỗ cư trú của loài&nbsp;hữu tình; Tâm&nbsp;vững chãi&nbsp;như trụ đá; Chín cách nghĩ gây&nbsp;xung đột&nbsp;và cách&nbsp;điều phục;&nbsp;Đoạn diệt&nbsp;và&nbsp;an trú&nbsp;tuần tự; Niết-bàn là&nbsp;an lạc;&nbsp;Trí tuệ&nbsp;thể nhập&nbsp;và khởi xuất&nbsp;thiền chứng; Đúng sai và&nbsp;hý luận; Trận chiến giữa&nbsp;chư thiên&nbsp;và a-tu-la; Hạnh sống&nbsp;độc cư&nbsp;thiền tịnh&nbsp;của vị Tỷ-kheo; Thế nào là an tịnh?;&nbsp;Trói buộc&nbsp;và&nbsp;giải thoát; Thế nào gọi là&nbsp;thân chứng,&nbsp;tuệ giải thoát&nbsp;và&nbsp;giải thoát&nbsp;cả hai phần; Năm hạ phần&nbsp;kiết sử&nbsp;và năm thượng phần&nbsp;kiết sử;&nbsp;Năm tâm hoang vu&nbsp;và&nbsp;bốn niệm xứ.</p>



<p class="wp-block-paragraph">“<em>Pháp là chính thực mình thấy, pháp là&nbsp;thiết thực&nbsp;hiện tại</em>” (<em>A</em>. IV. 453).</p>



<p class="wp-block-paragraph"><strong>10. Chương Mười pháp</strong>&nbsp;(<em>Dasakanipāta</em>) gồm những&nbsp;chủ đề: Sự phát triển&nbsp;tuần tự&nbsp;của&nbsp;thiện pháp; Hữu diệt là Niết-bàn; Trú xứ&nbsp;lý tưởng;&nbsp;Năm tâm hoang vu&nbsp;và năm tâm&nbsp;triền phược; Không&nbsp;phóng dật&nbsp;là chỗ quy tụ của&nbsp;thiện pháp; Mười bậc xứng đáng được&nbsp;cúng dường; Mười chỗ cư trú của bậc Thánh;&nbsp;Mười lực&nbsp;và mười trí&nbsp;như thật&nbsp;của&nbsp;Như Lai; Mười&nbsp;đề mục&nbsp;(biến xứ) để&nbsp;tu thiền;&nbsp;Tối thượng&nbsp;và&nbsp;hạ liệt; Vua Pasenadi (Ba-tư-nặc)&nbsp;tán thán&nbsp;đức Thế Tôn; Mười&nbsp;lý do&nbsp;chế giới; Người&nbsp;hòa giải;&nbsp;Tư cách&nbsp;làm Thầy;&nbsp;Phá hòa hợp Tăng; Cội gốc của&nbsp;tranh luận;&nbsp;Quán sát&nbsp;kỹ rồi hãy&nbsp;buộc tội; Nguy hiểm khi thân cận vương quyền; Tự&nbsp;soi sáng&nbsp;tâm mình; Các pháp lấy Niết-bàn làm&nbsp;cứu cánh; Mười tưởng và việc trị bệnh;&nbsp;Thức ăn&nbsp;của&nbsp;vô minh&nbsp;và minh;&nbsp;Giải thích&nbsp;thêm về bốn bậc Thánh;&nbsp;Ước nguyện&nbsp;đúng pháp; Tiếng ồn là cây gai của&nbsp;thiền định; Hạnh nghiệp và nơi&nbsp;tái sinh; Con quạ và vị Tỳ-kheo; Mười hạng người hưởng dục;&nbsp;Chấp thủ&nbsp;của&nbsp;ngoại đạo; Rừng núi làm&nbsp;loạn tâm&nbsp;vị Tỳ-kheo chưa chứng&nbsp;thiền định; Định nghĩa về tẩy trần; Thuốc xổ của bậc Thánh; Ngày&nbsp;xuất ly&nbsp;của Bà-la-môn và của bậc Thánh;&nbsp;Tịnh hạnh&nbsp;và&nbsp;bất tịnh hạnh; Cúng cho người chết;&nbsp;Pháp môn&nbsp;quanh co&nbsp;và&nbsp;pháp môn&nbsp;Chánh pháp.</p>



<p class="wp-block-paragraph">“<em>Với người sống&nbsp;Phạm hạnh, thân cận với&nbsp;phụ nữ&nbsp;là cây gai. Với người chứng Thiền thứ nhất, tiếng ồn là cây gai. Với người chứng Thiền thứ hai, tầm tứ là cây gai. Với người chứng Thiền thứ ba, hỷ là cây gai. Với người chứng Thiền thứ tư,&nbsp;hơi thở&nbsp;là cây gai. Với người đã&nbsp;đạt được&nbsp;Diệt thọ tưởng định, tưởng và thọ là cây gai. Tham là cây gai. Sân là cây gai. Si là cây gai</em>” (<em>A</em>. V. 133).</p>



<p class="wp-block-paragraph"><strong>11. Chương Mười một pháp</strong>&nbsp;(<em>Ekādasakanipāta</em>) gồm những&nbsp;chủ đề: Sự&nbsp;sinh khởi&nbsp;tuần tự&nbsp;các&nbsp;thiện pháp; Những&nbsp;tai họa&nbsp;khi&nbsp;xúc phạm&nbsp;bậc Thánh;&nbsp;Tác ý&nbsp;và không&nbsp;tác ý;&nbsp;Thiền tư&nbsp;thuần thục; Bậc Minh Hạnh Tròn Đầy; Các pháp&nbsp;tùy niệm;&nbsp;An trú&nbsp;với&nbsp;lòng tin&nbsp;và những pháp&nbsp;liên hệ; Những&nbsp;lợi ích&nbsp;khi&nbsp;tu tập&nbsp;lòng từ; Cánh cửa&nbsp;bất tử; Pháp của người chăn bò; Các&nbsp;trạng thái&nbsp;thiền định; Thắng tri&nbsp;tham ái.</p>



<p class="wp-block-paragraph">“<em>Sát-lỵ, chúng&nbsp;tối thắng</em>,<br><em>Với người tin&nbsp;chủng tánh</em>,<br><em>Bậc Minh Hạnh Đầy Đủ</em>,<br><em>Tối thắng&nbsp;giữa nhân, thiên</em>” (<em>A</em>. V. 326).</p>



<p class="wp-block-paragraph"><strong>Kết luận</strong></p>



<p class="wp-block-paragraph">Với&nbsp;điều kiện&nbsp;không có nhiều tùy chọn trong việc ghi nhớ và&nbsp;giữ gìn&nbsp;lời dạy của&nbsp;đức Phật, thì việc sắp xếp nội dung theo&nbsp;pháp số&nbsp;tăng dần của&nbsp;<em>Tăng chi bộ</em>&nbsp;là một kết cấu đặc thù, đã góp phần&nbsp;gìn giữ&nbsp;được sự&nbsp;toàn vẹn&nbsp;của&nbsp;giáo pháp. Mặc dù cách trình bày mang tính&nbsp;vắn tắt, cô đọng nhưng&nbsp;<em>Tăng</em>&nbsp;<em>chi</em>&nbsp;<em>bộ</em>&nbsp;đã chuyển tải được rất nhiều nội dung quan trọng trong&nbsp;giáo lý&nbsp;Phật giáo. Ngoài những&nbsp;quy định&nbsp;chi tiết,&nbsp;cụ thể&nbsp;như các điều luật dành cho giới&nbsp;xuất gia&nbsp;và&nbsp;cư sĩ&nbsp;tại gia,&nbsp;cho đến&nbsp;những phân tích&nbsp;sâu xa&nbsp;về sự&nbsp;vận hành&nbsp;của&nbsp;tâm thức,&nbsp;bản kinh&nbsp;này&nbsp;đặc biệt&nbsp;chứa đựng nhiều nội dung rất&nbsp;thiết thực,&nbsp;liên quan đến&nbsp;người&nbsp;cư sĩ&nbsp;lý tưởng&nbsp;trong việc sống có&nbsp;đạo đức, cách tạo dựng&nbsp;tài sản,&nbsp;xây dựng&nbsp;gia đình,&nbsp;xã hội&nbsp;lành mạnh,&nbsp;phụng sự&nbsp;Tam bảo&nbsp;và&nbsp;tha nhân. Những&nbsp;vấn đề&nbsp;này có&nbsp;ý nghĩa&nbsp;vô cùng&nbsp;thực tiễn, có&nbsp;giá trị&nbsp;ứng dụng&nbsp;vượt&nbsp;thời gian&nbsp;và&nbsp;không gian, nhất là trong&nbsp;thời đại&nbsp;hiện nay, cuộc sống muôn màu, muôn vẻ.<br>Về&nbsp;phương diện&nbsp;pháp hành,&nbsp;<em>Tăng chi bộ</em>&nbsp;chứa đựng rất nhiều&nbsp;phương pháp&nbsp;hành trì&nbsp;mà&nbsp;đức Phật&nbsp;đã giảng dạy. Từ những cách thức&nbsp;tu tập&nbsp;đơn giản&nbsp;nhất như&nbsp;tụng kinh,&nbsp;niệm Phật,&nbsp;hồi hướng công đức&nbsp;cho đến&nbsp;những&nbsp;pháp hành&nbsp;mang tính phổ quát như&nbsp;thiền Tứ&nbsp;niệm xứ, thiền Chánh niệm… người học Phật nếu có đủ&nbsp;trí tuệ&nbsp;và đủ duyên&nbsp;vẫn có&nbsp;thể tự mình trải nghiệm và&nbsp;thành tựu&nbsp;được những pháp tu này, sau khi đã đọc kỹ và&nbsp;chiêm nghiệm&nbsp;<em>Tăng chi bộ</em>.<br>Xét về&nbsp;phương diện&nbsp;lịch sử,&nbsp;văn hóa, bản dịch tiếng Việt&nbsp;<em>Tăng chi bộ</em>&nbsp;của&nbsp;Hòa thượng&nbsp;Thích&nbsp;Minh Châu&nbsp;là một đóng góp to lớn và có&nbsp;ý nghĩa&nbsp;về nhiều mặt. Ở đây, việc&nbsp;giữ gìn&nbsp;và&nbsp;lưu bố&nbsp;bản kinh&nbsp;này, không những là một&nbsp;việc làm&nbsp;nhằm&nbsp;thể hiện&nbsp;lòng&nbsp;tri ân&nbsp;đối với các bậc&nbsp;tiền nhân&nbsp;mà còn là bổn phận và&nbsp;trách nhiệm&nbsp;đối với tương lai của&nbsp;Phật giáo Việt Nam.<br>&nbsp;Mặc dù cách thời&nbsp;đức Phật&nbsp;đã xa nhưng khi khảo cứu về&nbsp;phương diện&nbsp;lịch sử&nbsp;truyền thừa, có thể thấy rằng, lời dạy của&nbsp;đức Phật&nbsp;trong&nbsp;<em>Tăng chi bộ</em>&nbsp;vẫn còn giữ được nguyên vẹn tính&nbsp;chân thực. Bởi lẽ, những lời dạy đó&nbsp;hoàn toàn&nbsp;phù hợp&nbsp;và trùng khớp khi&nbsp;so sánh&nbsp;với Pháp và Luật được trình bày trong các kinh.</p>



<p class="wp-block-paragraph"><em>TP. Hồ&nbsp;Chí Minh, tháng 3 năm 2020</em><br>Cẩn soạn</p>



<p class="wp-block-paragraph"><strong>TT. TS. THÍCH MINH THÀNH</strong></p>



<p class="wp-block-paragraph">(Đồng Tổng&nbsp;Biên tập&nbsp;Tam tạng&nbsp;Thánh điển&nbsp;Phật giáo Việt Nam)<br>______________________</p>



<p class="wp-block-paragraph"><a href="http://vncphathoc.com/dai-tang-kinh-viet-nam/kinh-tang-chi-bo/dan-luan-kinh-tang-chi-bo.html#_ftnref1">[1]</a>&nbsp;“Năm bộ bằng tiếng Pāli được&nbsp;bảo tồn&nbsp;một cách hoàn chỉnh do&nbsp;Đồng Diệp bộ&nbsp;(Tāmraṣāṭīyā)&nbsp;lưu truyền. Đây là&nbsp;việc làm&nbsp;hy hữu, không thể bỏ qua không&nbsp;tìm hiểu.&nbsp;Đồng Diệp bộ&nbsp;là một&nbsp;bộ phái&nbsp;của hệ&nbsp;Phân Biệt Thuyết&nbsp;(Vibhajyavāda), thuộc hệ&nbsp;Thượng Tọa bộ&nbsp;(Sthavira).”&nbsp;Hòa thượng&nbsp;Thích&nbsp;Ấn Thuận,&nbsp;<em>Lịch sử&nbsp;biên tập&nbsp;Thánh điển&nbsp;Phật giáo Nguyên thủy</em>&nbsp;(Thích Phước Sơn và các dịch giả khác), NXB. Phương Đông, 2015, tr. 681.&nbsp;<sup>2</sup>&nbsp;<em>D</em>. 33,&nbsp;<em>Saṅgīti Sutta</em>&nbsp;(<em>Kinh Phúng tụng</em>) và&nbsp;<em>D</em>. 34,&nbsp;<em>Dasuttara Sutta</em>&nbsp;(<em>Kinh Thập thượng</em>)<em>.</em></p>



<p class="wp-block-paragraph"><a href="http://vncphathoc.com/dai-tang-kinh-viet-nam/kinh-tang-chi-bo/dan-luan-kinh-tang-chi-bo.html#_ftnref2">[2]</a>&nbsp;G. P. Malalasekera (ed.),&nbsp;<em>Encyclopaedia of Buddhism</em>, vol. I (The Government of Ceylon, 1961-65), p. 630.</p>



<p class="wp-block-paragraph"><a href="http://vncphathoc.com/dai-tang-kinh-viet-nam/kinh-tang-chi-bo/dan-luan-kinh-tang-chi-bo.html#_ftnref3">[3]</a>&nbsp;Maurice Winternitz,&nbsp;<em>A History of Indian Literature</em>, vol. 2 (Delhi: Motilal Banarsidass, 1993), p. 63.</p>



<p class="wp-block-paragraph"><a href="http://vncphathoc.com/dai-tang-kinh-viet-nam/kinh-tang-chi-bo/dan-luan-kinh-tang-chi-bo.html#_ftnref4">[4]</a>&nbsp;Oskar von Hinüber,&nbsp;<em>Handbook of Pāli Literature</em>&nbsp;(Berlin: Walter de Gruyter, 1996), p. 40.&nbsp;<sup>6</sup>&nbsp;<em>Op. cit.</em></p>



<p class="wp-block-paragraph"><a href="http://vncphathoc.com/dai-tang-kinh-viet-nam/kinh-tang-chi-bo/dan-luan-kinh-tang-chi-bo.html#_ftnref5">[5]</a>&nbsp;Cf. https://www.accesstoinsight.org/.</p>



<p class="wp-block-paragraph"><a href="http://vncphathoc.com/dai-tang-kinh-viet-nam/kinh-tang-chi-bo/dan-luan-kinh-tang-chi-bo.html#_ftnref6">[6]</a>&nbsp;Russell Webb,&nbsp;<em>An Analysis of the Pāli Canon&nbsp;</em>(Kandy: Buddhist Publication Society, 1975), p. 26.&nbsp;<sup>9</sup>&nbsp;Bhikkhu Bodhi,&nbsp;<em>The Numerical Discourses of the Buddha</em>&nbsp;(Somerville, Massachusetts: Wisdom Publications, 2012), p. 18.</p>



<p class="wp-block-paragraph"><a href="http://vncphathoc.com/dai-tang-kinh-viet-nam/kinh-tang-chi-bo/dan-luan-kinh-tang-chi-bo.html#_ftnref7">[7]</a><em>&nbsp;Op. cit</em>., tr. 58.</p>



<p class="wp-block-paragraph"><a href="http://vncphathoc.com/dai-tang-kinh-viet-nam/kinh-tang-chi-bo/dan-luan-kinh-tang-chi-bo.html#_ftnref8">[8]</a>&nbsp;Kanai Lal Hazra,&nbsp;<em>Pali Language and Literature</em>, vol. 1 (New Delhi: D. K. Printword Pvt. Ltd., 1994), p. 250.&nbsp;<sup>12</sup>&nbsp;G. P. Malalasekera (ed.)<em>, op. cit</em>., tr. 629.</p>



<p class="wp-block-paragraph"><a href="http://vncphathoc.com/dai-tang-kinh-viet-nam/kinh-tang-chi-bo/dan-luan-kinh-tang-chi-bo.html#_ftnref9">[9]</a>&nbsp;Étienne Lamotte,<em>&nbsp;History of Indian Buddhism</em>&nbsp;(Paris: Institut Orientaliste Louvain La-Neuve, 1988), p. 558.</p>



<p class="wp-block-paragraph"><a href="http://vncphathoc.com/dai-tang-kinh-viet-nam/kinh-tang-chi-bo/dan-luan-kinh-tang-chi-bo.html#_ftnref10">[10]</a>&nbsp;<em>Op. cit.</em></p>



<p class="wp-block-paragraph"><a href="http://vncphathoc.com/dai-tang-kinh-viet-nam/kinh-tang-chi-bo/dan-luan-kinh-tang-chi-bo.html#_ftnref11">[11]</a>&nbsp;Maurice Winternitz,&nbsp;<em>A History of Indian Literature</em>, vol. 2 (Delhi: Motilal Banarsidass, 1993), p. 59.</p>



<p class="wp-block-paragraph"><a href="http://vncphathoc.com/dai-tang-kinh-viet-nam/kinh-tang-chi-bo/dan-luan-kinh-tang-chi-bo.html#_ftnref12">[12]</a>&nbsp;Kanai Lal Hazra,&nbsp;<em>Pali Language and Literature</em>, vol. 1 (New Delhi: D. K. Printword Pvt. Ltd., 1994), p. 250.</p>



<p class="wp-block-paragraph"><a href="http://vncphathoc.com/dai-tang-kinh-viet-nam/kinh-tang-chi-bo/dan-luan-kinh-tang-chi-bo.html#_ftnref13">[13]</a>&nbsp;Bimala Churn Law,&nbsp;<em>A History of Pali Literature</em>&nbsp;(Varanasi: Indica Books, 2000), p. 203.</p>



<p class="wp-block-paragraph"><a href="http://vncphathoc.com/dai-tang-kinh-viet-nam/kinh-tang-chi-bo/dan-luan-kinh-tang-chi-bo.html#_ftnref14">[14]</a>&nbsp;<em>Op. cit.</em>, p. 252.</p>



<p class="wp-block-paragraph"><a href="http://vncphathoc.com/dai-tang-kinh-viet-nam/kinh-tang-chi-bo/dan-luan-kinh-tang-chi-bo.html#_ftnref15">[15]</a>&nbsp;Bimala Churn Law,<em>&nbsp;op. cit</em>., p. 203.</p>



<p class="wp-block-paragraph"><a href="http://vncphathoc.com/dai-tang-kinh-viet-nam/kinh-tang-chi-bo/dan-luan-kinh-tang-chi-bo.html#_ftnref16">[16]</a>&nbsp;<em>Op. cit.</em></p>



<p class="wp-block-paragraph"><a href="http://vncphathoc.com/dai-tang-kinh-viet-nam/kinh-tang-chi-bo/dan-luan-kinh-tang-chi-bo.html#_ftnref17">[17]</a><em>&nbsp;Op. cit</em>.&nbsp;</p>



<p class="wp-block-paragraph"><a href="http://vncphathoc.com/dai-tang-kinh-viet-nam/kinh-tang-chi-bo/dan-luan-kinh-tang-chi-bo.html#_ftnref18">[18]</a><em>&nbsp;Op. cit.</em>, pp. 202-03. Kanai Lal Hazra,&nbsp;<em>op. cit</em>., p. 251.</p>



<p class="wp-block-paragraph"><a href="http://vncphathoc.com/dai-tang-kinh-viet-nam/kinh-tang-chi-bo/dan-luan-kinh-tang-chi-bo.html#_ftnref19">[19]</a>&nbsp;Bimala Churn Law,<em>&nbsp;op. cit</em>., p. 203.</p>



<p class="wp-block-paragraph"><a href="http://vncphathoc.com/dai-tang-kinh-viet-nam/kinh-tang-chi-bo/dan-luan-kinh-tang-chi-bo.html#_ftnref20">[20]</a>&nbsp;G. P. Malalasekera (ed.)&nbsp;<em>op. cit</em>., p. 630. Kanai Lal Hazra,&nbsp;<em>op. cit</em>., p. 251.</p>



<p class="wp-block-paragraph"><a href="http://vncphathoc.com/dai-tang-kinh-viet-nam/kinh-tang-chi-bo/dan-luan-kinh-tang-chi-bo.html#_ftnref21">[21]</a>&nbsp;Ấn Thuận,&nbsp;<em>Lịch sử&nbsp;Biên tập&nbsp;Thánh điển&nbsp;Phật giáo Nguyên thủy</em>&nbsp;(TP. HCM: NXB. Phương Đông, 2015), tr. 984-87.</p>



<p class="wp-block-paragraph"><a href="http://vncphathoc.com/dai-tang-kinh-viet-nam/kinh-tang-chi-bo/dan-luan-kinh-tang-chi-bo.html#_ftnref22">[22]</a>&nbsp;Ấn Thuận,&nbsp;<em>op. cit.,</em>&nbsp;tr. 1044-46.</p>



<p class="wp-block-paragraph"><a href="http://vncphathoc.com/dai-tang-kinh-viet-nam/kinh-tang-chi-bo/dan-luan-kinh-tang-chi-bo.html#_ftnref23">[23]</a>&nbsp;Bimala Churn Law,&nbsp;<em>op. cit.</em>, p. 192. Kanai Lal Hazra,<em>&nbsp;op. cit.</em>, p. 253.</p>



<p class="wp-block-paragraph"></p>



<div class="wp-block-blockspare-blockspare-iconset aligncenter blockspare-4c728f7d-395c-4 blockspare-blocks" blockspare-animation=""><style>.blockspare-4c728f7d-395c-4 .blockspare-block-icon-wrapper{text-align:center;margin-top:30px;margin-right:0px;margin-bottom:30px;margin-left:0px}.blockspare-4c728f7d-395c-4 .blockspare-block-icon-wrapper .blockspare-block-icon{padding-top:30px;padding-right:30px;padding-bottom:30px;padding-left:30px;color:#fff;border-radius:50%}.blockspare-4c728f7d-395c-4 .blockspare-block-icon-wrapper .blockspare-block-icon::after{background-color:#ce242c;opacity:1}</style><div class="blockspare-block-icon-wrapper"><div class="blockspare-block-icon blockspare-icon-size-small blockspare-icon-style2 blockspare-hover-item"><i class="fas fa-file-pdf" aria-hidden="true"></i></div></div></div>



<div data-wp-interactive="core/file" class="wp-block-file aligncenter"><object data-wp-bind--hidden="!state.hasPdfPreview" hidden class="wp-block-file__embed" data="https://tangkinhcac.org/wp-content/uploads/2026/02/4.-KINH-TANG-CHI-BO-Aṅguttara-Nikaya_compressed.pdf" type="application/pdf" style="width:100%;height:1251px" aria-label="Embed of 4. KINH TĂNG CHI BỘ (Aṅguttara Nikāya)_compressed."></object><a id="wp-block-file--media-4150ffce-ee51-4040-b59a-a923fba254b2" href="https://tangkinhcac.org/wp-content/uploads/2026/02/4.-KINH-TANG-CHI-BO-Aṅguttara-Nikaya_compressed.pdf">4. KINH TĂNG CHI BỘ (Aṅguttara Nikāya)_compressed</a><a href="https://tangkinhcac.org/wp-content/uploads/2026/02/4.-KINH-TANG-CHI-BO-Aṅguttara-Nikaya_compressed.pdf" class="wp-block-file__button wp-element-button" download aria-describedby="wp-block-file--media-4150ffce-ee51-4040-b59a-a923fba254b2">Download</a></div>



<p class="wp-block-paragraph"><br><a href="https://tangkinhcac.org/wp-content/uploads/2026/02/000-phan-mo-dau-1.pdf">000.-Phần-Mở-Đầu<br></a></p>



<p class="wp-block-paragraph"><strong>CHƯƠNG MỘT PHÁP</strong><br><a href="https://tangkinhcac.org/wp-content/uploads/2026/02/001-ch1-mot-phap-i-pham-sac-r-p-divagga-.pdf">001.-Ch1-Một-Pháp-I.-Phẩm-Sắc-(Rūpādivagga)</a><br><a href="https://tangkinhcac.org/wp-content/uploads/2026/02/002-ch1-mot-phap-ii-pham-doan-tru-trien-cai-n-vara-appah-navagga-.pdf">002.-Ch1-Một-Pháp-II.-Phẩm-Đoạn-Trừ-Triền-Cái-(Nīvaraṇappahānavagga)</a><br><a href="https://tangkinhcac.org/wp-content/uploads/2026/02/003-ch1-mot-phap-iii-pham-kho-su-dung-akammaniyavagga-.pdf">003.-Ch1-Một-Pháp-III.-Phẩm-Khó-Sử-Dụng-(Akammaniyavagga)</a><br><a href="https://tangkinhcac.org/wp-content/uploads/2026/02/004-ch1-mot-phap-iv-pham-khong-dieu-phuc-adantavagga-.pdf">004.-Ch1-Một-Pháp-IV.-Phẩm-Không-Điều-Phục-(Adantavagga)</a><br><a href="https://tangkinhcac.org/wp-content/uploads/2026/02/005-ch1-mot-phap-v-pham-dat-huong-va-trong-sang-pa-ihitaacchavagga-.pdf">005.-Ch1-Một-Pháp-V.-Phẩm-Đặt-Hướng-và-Trong-Sáng-(Paṇihitaacchavagga)</a><br><a href="https://tangkinhcac.org/wp-content/uploads/2026/02/006-ch1-mot-phap-vi-pham-bung-ngon-tay-acchar-sa-gh-tavagga-.pdf">006.-Ch1-Một-Pháp-VI.-Phẩm-Búng-Ngón-Tay-(Accharāsaṅghātavagga)</a><br><a href="https://tangkinhcac.org/wp-content/uploads/2026/02/007-ch1-mot-phap-vii-pham-phat-khoi-tinh-tan-v-riy-rambh-divagga-.pdf">007.-Ch1-Một-Pháp-VII.-Phẩm-Phát-Khởi-Tinh-Tấn-(Vīriyārambhādivagga)</a><br><a href="https://tangkinhcac.org/wp-content/uploads/2026/02/008-ch1-mot-phap-viii-pham-lam-ban-voi-thien-huu-kaly-amitt-divagga-.pdf">008.-Ch1-Một-Pháp-VIII.-Phẩm-Làm-Bạn-với-Thiện-Hữu-(Kalyāṇamittādivagga)</a><br><a href="https://tangkinhcac.org/wp-content/uploads/2026/02/009-ch1-mot-phap-ix-pham-phong-dat-pam-d-divagga-.pdf">009.-Ch1-Một-Pháp-IX.-Phẩm-Phóng-Dật-(Pamādādivagga)</a><br><a href="https://tangkinhcac.org/wp-content/uploads/2026/02/010-ch1-mot-phap-x-pham-phong-dat-thu-hai-dutiyapam-d-divagga-.pdf">010.-Ch1-Một-Pháp-X.-Phẩm-Phóng-Dật-Thứ-Hai-(Dutiyapamādādivagga)</a><br><a href="https://tangkinhcac.org/wp-content/uploads/2026/02/011-ch1-mot-phap-xl-pham-phi-phap-adhammavagga-.pdf">011.-Ch1-Một-Pháp-Xl.-Phẩm-Phi-Pháp-(Adhammavagga)</a><br><a href="https://tangkinhcac.org/wp-content/uploads/2026/02/012-ch1-mot-phap-xii-pham-khong-pham-an-pattivagga-.pdf">012.-Ch1-Một-Pháp-XII.-Phẩm-Không-Phạm-(Anāpattivagga)</a>  <br><a href="https://tangkinhcac.org/wp-content/uploads/2026/02/013-ch1-mot-phap-xiii-pham-mot-nguoi-ekapuggalavagga-.pdf">013.-Ch1-Một-Pháp-XIII.-Phẩm-Một-Người-(Ekapuggalavagga)</a><br><a href="https://tangkinhcac.org/wp-content/uploads/2026/02/014-ch1-mot-phap-xiv-pham-nguoi-toi-thang-etadaggavagga-.pdf">014.-Ch1-Một-Pháp-XIV.-Phẩm-Người-Tối-Thắng-(Etadaggavagga)</a><br><a href="https://tangkinhcac.org/wp-content/uploads/2026/02/015-ch1-mot-phap-xv-pham-khong-the-co-duoc-a-h-na-.pdf">015.-Ch1-Một-Pháp-XV.-Phẩm-Không-Thể-Có-Được-(Aṭṭhāna)</a><br><a href="https://tangkinhcac.org/wp-content/uploads/2026/02/016-ch1-mot-phap-xvi-pham-mot-phap-ekadhamma-.pdf">016.-Ch1-Một-Pháp-XVI.-Phẩm-Một-Pháp-(Ekadhamma)</a><br><a href="https://tangkinhcac.org/wp-content/uploads/2026/02/017-ch1-mot-phap-xvii-pham-phap-tac-tinh-pas-dakaradhammavagga-.pdf">017.-Ch1-Một-Pháp-XVII.-Phẩm-Pháp-Tác-Tịnh-(Pasādakaradhammavagga)</a><br><a href="https://tangkinhcac.org/wp-content/uploads/2026/02/018-ch1-mot-phap-xviii-pham-bung-ngon-tay-khac-aparaacchar-sa-gh-tavagga-.pdf">018.-Ch1-Một-Pháp-XVIII.-Phẩm-Búng-Ngón-Tay-Khác-(Aparaaccharāsaṅghātavagga)</a><br><a href="https://tangkinhcac.org/wp-content/uploads/2026/02/019-ch1-mot-phap-xix-pham-than-hanh-niem-k-yagat-sativagga-.pdf">019.-Ch1-Một-Pháp-XIX.-Phẩm-Thân-Hành-Niệm-(Kāyagatāsativagga)</a> <br><a href="https://tangkinhcac.org/wp-content/uploads/2026/02/020-ch1-mot-phap-xx-pham-bat-tu-amatavagga-.pdf">020.-Ch1-Một-Pháp-XX.-Phẩm-Bất-Tử-(Amatavagga)<br></a></p>



<p class="wp-block-paragraph"><strong>CHƯƠNG HAI PHÁP</strong><br><a href="https://tangkinhcac.org/wp-content/uploads/2026/02/021-ch2-hai-phap-i-pham-hinh-phat-kammakara-avagga-.pdf">021.-Ch2-Hai-Pháp-I.-Phẩm-Hình-Phạt-(Kammakaraṇavagga)</a><br><a href="https://tangkinhcac.org/wp-content/uploads/2026/02/022-ch2-hai-phap-ii-pham-tranh-luan-adhikara-avagga-.pdf">022.-Ch2-Hai-Pháp-II.-Phẩm-Tranh-Luận-(Adhikaraṇavagga)</a><br><a href="https://tangkinhcac.org/wp-content/uploads/2026/02/023-ch2-hai-phap-iii-pham-nguoi-ngu-b-lavagga-.pdf">023.-Ch2-Hai-Pháp-III.-Phẩm-Người-Ngu-(Bālavagga)</a><br><a href="https://tangkinhcac.org/wp-content/uploads/2026/02/024-ch2-hai-phap-iv-pham-tam-thang-bang-samacittavagga-.pdf">024.-Ch2-Hai-Pháp-IV.-Phẩm-Tâm-Thăng-Bằng-(Samacittavagga)</a><br><a href="https://tangkinhcac.org/wp-content/uploads/2026/02/025-ch2-hai-phap-v-pham-hoi-chung-parisavagga-.pdf">025.-Ch2-Hai-Pháp-V.-Phẩm-Hội-Chúng-(Parisavagga)</a><br><a href="https://tangkinhcac.org/wp-content/uploads/2026/02/026-ch2-hai-phap-vi-pham-nguoi-puggalavagga-.pdf">026.-Ch2-Hai-Pháp-VI.-Phẩm-Người-(Puggalavagga)</a><br><a href="https://tangkinhcac.org/wp-content/uploads/2026/02/027-ch2-hai-phap-vii-pham-lac-sukhavagga-.pdf">027.-Ch2-Hai-Pháp-VII.-Phẩm-Lạc-(Sukhavagga)</a><br><a href="https://tangkinhcac.org/wp-content/uploads/2026/02/028-ch2-hai-phap-viii-pham-tuong-sanimittavagga-.pdf">028.-Ch2-Hai-Pháp-VIII.-Phẩm-Tướng-(Sanimittavagga)</a><br><a href="https://tangkinhcac.org/wp-content/uploads/2026/02/029-ch2-hai-phap-ix-pham-cac-phap-dhammavagga-.pdf">029.-Ch2-Hai-Pháp-IX.-Phẩm-Các-Pháp-(Dhammavagga)</a><br><a href="https://tangkinhcac.org/wp-content/uploads/2026/02/030-ch2-hai-phap-x-pham-ke-ngu-b-lavagga-.pdf">030.-Ch2-Hai-Pháp-X.-Phẩm-Kẻ-Ngu-(Bālavagga)<br></a><a href="https://tangkinhcac.org/wp-content/uploads/2026/02/031-ch2-hai-phap-xi-pham-hy-vong-kho-tu-bo-s-duppajahavagga-.pdf">031.-Ch2-Hai-Pháp-XI.-Phẩm-Hy-Vọng-Khó-Từ-Bỏ-(Āsāduppajahavagga)</a><a href="https://thuvienhoasen.org/images/file/TTVIqFDL2ggQAC8k/030-ch2-hai-phap-x-pham-ke-ngu-b-lavagga-.pdf"><br></a><a href="https://tangkinhcac.org/wp-content/uploads/2026/02/032-ch2-hai-phap-xii-pham-hy-cau-y-canavagga-.pdf">032.-Ch2-Hai-Pháp-XII.-Phẩm-Hy-Cầu-(Āyācanavagga)</a><a href="https://thuvienhoasen.org/images/file/TTVIqFDL2ggQAC8k/030-ch2-hai-phap-x-pham-ke-ngu-b-lavagga-.pdf"><br></a><a href="https://tangkinhcac.org/wp-content/uploads/2026/02/033-ch2-hai-phap-xiii-pham-bo-thi-d-navagga-.pdf">033.-Ch2-Hai-Pháp-XIII.-Phẩm-Bố-Thí-(Dānavagga)</a><a href="https://thuvienhoasen.org/images/file/TTVIqFDL2ggQAC8k/030-ch2-hai-phap-x-pham-ke-ngu-b-lavagga-.pdf"><br></a><a href="https://tangkinhcac.org/wp-content/uploads/2026/02/034-ch2-hai-phap-xiv-pham-don-chao-santh-ravagga-.pdf">034.-Ch2-Hai-Pháp-XIV.-Phẩm-Đón-Chào-(Santhāravagga)</a><a href="https://thuvienhoasen.org/images/file/TTVIqFDL2ggQAC8k/030-ch2-hai-phap-x-pham-ke-ngu-b-lavagga-.pdf"><br></a><a href="https://tangkinhcac.org/wp-content/uploads/2026/02/035-ch2-hai-phap-xv-pham-nhap-dinh-sam-pattivagga-.pdf">035.-Ch2-Hai-Pháp-XV.-Phẩm-Nhập-Định-(Samāpattivagga)</a><a href="https://thuvienhoasen.org/images/file/TTVIqFDL2ggQAC8k/030-ch2-hai-phap-x-pham-ke-ngu-b-lavagga-.pdf"><br></a><a href="https://tangkinhcac.org/wp-content/uploads/2026/02/036-ch2-hai-phap-xvi-pham-phan-no-luoc-thuyet-kodhapeyy-la-.pdf">036.-Ch2-Hai-Pháp-XVI.-Phẩm-Phẫn-Nộ-Lược-Thuyết-(Kodhapeyyāla)</a><a href="https://thuvienhoasen.org/images/file/TTVIqFDL2ggQAC8k/030-ch2-hai-phap-x-pham-ke-ngu-b-lavagga-.pdf"><br></a><a href="https://tangkinhcac.org/wp-content/uploads/2026/02/037-ch2-hai-phap-xvii-pham-bat-thien-luoc-thuyet-akusalapeyy-la-.pdf">037.-Ch2-Hai-Pháp-XVII.-Phẩm-Bất-Thiện-Lược-Thuyết-(Akusalapeyyāla)</a><a href="https://thuvienhoasen.org/images/file/TTVIqFDL2ggQAC8k/030-ch2-hai-phap-x-pham-ke-ngu-b-lavagga-.pdf"><br></a><a href="https://tangkinhcac.org/wp-content/uploads/2026/02/038-ch2-hai-phap-xviii-pham-gioi-luat-luoc-thuyet-vinayapeyy-la-.pdf">038.-Ch2-Hai-Pháp-XVIII.-Phẩm-Giới-Luật-Lược-Thuyết-(Vinayapeyyāla)</a><a href="https://thuvienhoasen.org/images/file/TTVIqFDL2ggQAC8k/030-ch2-hai-phap-x-pham-ke-ngu-b-lavagga-.pdf"><br></a><a href="https://tangkinhcac.org/wp-content/uploads/2026/02/039-ch2-hai-phap-xix-pham-tham-luoc-thuyet-r-gapeyy-la-.pdf">039.-Ch2-Hai-Pháp-XIX.-Phẩm-Tham-Lược-Thuyết-(Rāgapeyyāla)<br></a></p>



<p class="wp-block-paragraph"><strong>CHƯƠNG BA PHÁP</strong><a href="https://thuvienhoasen.org/images/file/TTVIqFDL2ggQAC8k/030-ch2-hai-phap-x-pham-ke-ngu-b-lavagga-.pdf"><br></a><a href="https://tangkinhcac.org/wp-content/uploads/2026/02/040-ch3-ba-phap-i-pham-nguoi-ngu-b-lavagga-.pdf">040.-Ch3-Ba-Pháp-I.-Phẩm-Người-Ngu-(Bālavagga)</a><a href="https://thuvienhoasen.org/images/file/TTVIqFDL2ggQAC8k/030-ch2-hai-phap-x-pham-ke-ngu-b-lavagga-.pdf"><br></a><a href="https://tangkinhcac.org/wp-content/uploads/2026/02/041-ch3-ba-phap-ii-pham-nguoi-dong-xe-rathak-ravagga-.pdf">041.-Ch3-Ba-Pháp-II.-Phẩm-Người-Đóng-Xe-(Rathakāravagga)<br></a><a href="https://tangkinhcac.org/wp-content/uploads/2026/02/042-ch3-ba-phap-iii-pham-nguoi-puggalavagga-.pdf">042.-Ch3-Ba-Pháp-III.-Phẩm-Người-(Puggalavagga)</a><a href="https://thuvienhoasen.org/images/file/GEVjslDL2ggQAB0i/041-ch3-ba-phap-ii-pham-nguoi-dong-xe-rathak-ravagga-.pdf"></a><a href="https://thuvienhoasen.org/images/file/TTVIqFDL2ggQAC8k/030-ch2-hai-phap-x-pham-ke-ngu-b-lavagga-.pdf"><br></a><a href="https://tangkinhcac.org/wp-content/uploads/2026/02/043-ch3-ba-phap-iv-pham-thien-su-pevad-tavagga-.pdf">043.-Ch3-Ba-Pháp-IV.-Phẩm-Thiên-Sứ-(Pevadūtavagga)</a><a href="https://thuvienhoasen.org/images/file/TTVIqFDL2ggQAC8k/030-ch2-hai-phap-x-pham-ke-ngu-b-lavagga-.pdf"><br></a><a href="https://tangkinhcac.org/wp-content/uploads/2026/02/044-ch3-ba-phap-v-pham-nho-c-avagga-.pdf">044.-Ch3-Ba-Pháp-V.-Phẩm-Nhỏ-(Cūḷavagga)</a><a href="https://thuvienhoasen.org/images/file/TTVIqFDL2ggQAC8k/030-ch2-hai-phap-x-pham-ke-ngu-b-lavagga-.pdf"><br></a><a href="https://tangkinhcac.org/wp-content/uploads/2026/02/045-ch3-ba-phap-vi-pham-cac-ba-la-mon-br-hma-avagga-.pdf">045.-Ch3-Ba-Pháp-VI.-Phẩm-Các-Bà-La-Môn-(Brāhmaṇavagga)</a><a href="https://thuvienhoasen.org/images/file/TTVIqFDL2ggQAC8k/030-ch2-hai-phap-x-pham-ke-ngu-b-lavagga-.pdf"><br></a><a href="https://tangkinhcac.org/wp-content/uploads/2026/02/046-ch3-ba-phap-vii-pham-lon-mah-vagga-.pdf">046.-Ch3-Ba-Pháp-VII.-Phẩm-Lớn-(Mahāvagga)</a><a href="https://thuvienhoasen.org/images/file/TTVIqFDL2ggQAC8k/030-ch2-hai-phap-x-pham-ke-ngu-b-lavagga-.pdf"><br></a><a href="https://tangkinhcac.org/wp-content/uploads/2026/02/047-ch3-ba-phap-viii-pham-nanda-nandavagga-.pdf">047.-Ch3-Ba-Pháp-VIII.-Phẩm-Ānanda-(Ānandavagga)</a><a href="https://thuvienhoasen.org/images/file/TTVIqFDL2ggQAC8k/030-ch2-hai-phap-x-pham-ke-ngu-b-lavagga-.pdf"><br></a><a href="https://tangkinhcac.org/wp-content/uploads/2026/02/048-ch3-ba-phap-ix-pham-sa-mon-sama-avagga-.pdf">048.-Ch3-Ba-Pháp-IX.-Phẩm-Sa-Môn-(Samaṇavagga)</a><a href="https://thuvienhoasen.org/images/file/TTVIqFDL2ggQAC8k/030-ch2-hai-phap-x-pham-ke-ngu-b-lavagga-.pdf"><br></a><a href="https://tangkinhcac.org/wp-content/uploads/2026/02/049-ch3-ba-phap-x-pham-hat-muoi-lo-akapallavagga-.pdf">049.-Ch3-Ba-Pháp-X.-Phẩm-Hạt-Muối-(Loṇakapallavagga)</a><a href="https://thuvienhoasen.org/images/file/TTVIqFDL2ggQAC8k/030-ch2-hai-phap-x-pham-ke-ngu-b-lavagga-.pdf"><br></a><a href="https://tangkinhcac.org/wp-content/uploads/2026/02/050-ch3-ba-phap-xi-pham-chanh-giac-sambodhavagga-.pdf">050.-Ch3-Ba-Pháp-XI.-Phẩm-Chánh-Giác-(Sambodhavagga)</a><a href="https://thuvienhoasen.org/images/file/TTVIqFDL2ggQAC8k/030-ch2-hai-phap-x-pham-ke-ngu-b-lavagga-.pdf"><br></a><a href="https://tangkinhcac.org/wp-content/uploads/2026/02/051-ch3-ba-phap-xii-pham-roi-vao-doa-xu-p-yikavagga-.pdf">051.-Ch3-Ba-Pháp-XII.-Phẩm-Rơi-Vào-Đọa-Xứ-(Āpāyikavagga)</a><a href="https://thuvienhoasen.org/images/file/TTVIqFDL2ggQAC8k/030-ch2-hai-phap-x-pham-ke-ngu-b-lavagga-.pdf"><br></a><a href="https://tangkinhcac.org/wp-content/uploads/2026/02/052-ch3-ba-phap-xiii-pham-kusin-ra-kusin-ravagga-.pdf">052.-Ch3-Ba-Pháp-XIII.-Phẩm-Kusināra-(Kusināravagga)</a><a href="https://thuvienhoasen.org/images/file/TTVIqFDL2ggQAC8k/030-ch2-hai-phap-x-pham-ke-ngu-b-lavagga-.pdf"><br></a><a href="https://tangkinhcac.org/wp-content/uploads/2026/02/053-ch3-ba-phap-xiv-pham-nguoi-chien-si-yodh-j-vavagga-.pdf">053.-Ch3-Ba-Pháp-XIV.-Phẩm-Người-Chiến-Sĩ-(Yodhājīvavagga)</a><a href="https://thuvienhoasen.org/images/file/TTVIqFDL2ggQAC8k/030-ch2-hai-phap-x-pham-ke-ngu-b-lavagga-.pdf"><br></a><a href="https://tangkinhcac.org/wp-content/uploads/2026/02/054-ch3-ba-phap-xv-pham-cat-tuong-ma-galavagga-.pdf">054.-Ch3-Ba-Pháp-XV.-Phẩm-Cát-Tường-(Maṅgalavagga)</a><a href="https://thuvienhoasen.org/images/file/TTVIqFDL2ggQAC8k/030-ch2-hai-phap-x-pham-ke-ngu-b-lavagga-.pdf"><br></a><a href="https://tangkinhcac.org/wp-content/uploads/2026/02/055-ch3-ba-phap-xvi-pham-loa-the-acelakavagga-.pdf">055.-Ch3-Ba-Pháp-XVI.-Phẩm-Lõa-Thể-(Acelakavagga)</a><a href="https://thuvienhoasen.org/images/file/TTVIqFDL2ggQAC8k/030-ch2-hai-phap-x-pham-ke-ngu-b-lavagga-.pdf"><br></a><a href="https://tangkinhcac.org/wp-content/uploads/2026/02/056-ch3-ba-phap-xvii-pham-hanh-nghiep-luoc-thuyet-kammapathapeyy-la-.pdf">056.-Ch3-Ba-Pháp-XVII.-Phẩm-Hành-Nghiệp-Lược-Thuyết-(Kammapathapeyyāla)</a><a href="https://thuvienhoasen.org/images/file/TTVIqFDL2ggQAC8k/030-ch2-hai-phap-x-pham-ke-ngu-b-lavagga-.pdf"><br></a><a href="https://tangkinhcac.org/wp-content/uploads/2026/02/057-ch3-ba-phap-xviii-pham-tham-luoc-thuyet-r-gapeyy-la-.pdf">057.-Ch3-Ba-Pháp-XVIII.-Phẩm-Tham-Lược-Thuyết-(Rāgapeyyāla)<br></a></p>



<p class="wp-block-paragraph"><strong>CHƯƠNG BỐN PHÁP</strong><a href="https://thuvienhoasen.org/images/file/TTVIqFDL2ggQAC8k/030-ch2-hai-phap-x-pham-ke-ngu-b-lavagga-.pdf"><br></a><a href="https://tangkinhcac.org/wp-content/uploads/2026/02/058-ch4-bon-phap-i-pham-bha-ag-ma-bha-ag-mavagga-.pdf">058.-Ch4-Bốn-Pháp-I.-Phẩm-Bhaṇḍagāma-(Bhaṇḍagāmavagga)</a><a href="https://thuvienhoasen.org/images/file/TTVIqFDL2ggQAC8k/030-ch2-hai-phap-x-pham-ke-ngu-b-lavagga-.pdf"><br></a><a href="https://tangkinhcac.org/wp-content/uploads/2026/02/059-ch4-bon-phap-ii-pham-hanh-caravagga-.pdf">059.-Ch4-Bốn-Pháp-II.-Phẩm-Hành-(Caravagga)</a><a href="https://thuvienhoasen.org/images/file/TTVIqFDL2ggQAC8k/030-ch2-hai-phap-x-pham-ke-ngu-b-lavagga-.pdf"><br></a><a href="https://tangkinhcac.org/wp-content/uploads/2026/02/060-ch4-bon-phap-iii-pham-uruvel-uruvelavagga-.pdf">060.-Ch4-Bốn-Pháp-III.-Phẩm-Uruvelā-(Uruvelavagga)</a><a href="https://thuvienhoasen.org/images/file/TTVIqFDL2ggQAC8k/030-ch2-hai-phap-x-pham-ke-ngu-b-lavagga-.pdf"><br></a><a href="https://tangkinhcac.org/wp-content/uploads/2026/02/061-ch4-bon-phap-iv-pham-banh-xe-cakkavagga-.pdf">061.-Ch4-Bốn-Pháp-IV.-Phẩm-Bánh-Xe-(Cakkavagga)</a><a href="https://thuvienhoasen.org/images/file/TTVIqFDL2ggQAC8k/030-ch2-hai-phap-x-pham-ke-ngu-b-lavagga-.pdf"><br></a><a href="https://tangkinhcac.org/wp-content/uploads/2026/02/062-ch4-bon-phap-v-pham-rohitassa-rohitassavagga-.pdf">062.-Ch4-Bốn-Pháp-V.-Phẩm-Rohitassa-(Rohitassavagga)</a><a href="https://thuvienhoasen.org/images/file/TTVIqFDL2ggQAC8k/030-ch2-hai-phap-x-pham-ke-ngu-b-lavagga-.pdf"><br></a><a href="https://tangkinhcac.org/wp-content/uploads/2026/02/063-ch4-bon-phap-vi-pham-nguon-sanh-phuoc-pu-bhisandavagga-.pdf">063.-Ch4-Bốn-Pháp-VI.-Phẩm-Nguồn-Sanh-Phước-(Puññābhisandavagga)</a><a href="https://thuvienhoasen.org/images/file/TTVIqFDL2ggQAC8k/030-ch2-hai-phap-x-pham-ke-ngu-b-lavagga-.pdf"><br></a><a href="https://tangkinhcac.org/wp-content/uploads/2026/02/064-ch4-bon-phap-vii-pham-nghiep-cong-duc-pattakammavagga-.pdf">064.-Ch4-Bốn-Pháp-VII.-Phẩm-Nghiệp-Công-Đức-(Pattakammavagga)</a><a href="https://thuvienhoasen.org/images/file/TTVIqFDL2ggQAC8k/030-ch2-hai-phap-x-pham-ke-ngu-b-lavagga-.pdf"><br></a><a href="https://tangkinhcac.org/wp-content/uploads/2026/02/065-ch4-bon-phap-viii-pham-khong-hy-luan-apa-akavagga-.pdf">065.-Ch4-Bốn-Pháp-VIII.-Phẩm-Không-Hý-Luận-(Apaṇṇakavagga)</a><a href="https://thuvienhoasen.org/images/file/TTVIqFDL2ggQAC8k/030-ch2-hai-phap-x-pham-ke-ngu-b-lavagga-.pdf"><br></a><a href="https://tangkinhcac.org/wp-content/uploads/2026/02/066-ch4-bon-phap-ix-pham-khong-co-rung-dong-macalavagga-.pdf">066.-Ch4-Bốn-Pháp-IX.-Phẩm-Không-Có-Rung-Động-(Macalavagga)</a><a href="https://thuvienhoasen.org/images/file/TTVIqFDL2ggQAC8k/030-ch2-hai-phap-x-pham-ke-ngu-b-lavagga-.pdf"><br></a><a href="https://tangkinhcac.org/wp-content/uploads/2026/02/067-ch4-bon-phap-x-pham-a-tu-la-asuravagga-.pdf">067.-Ch4-Bốn-Pháp-X.-Phẩm-A-Tu-La-(Asuravagga)</a><a href="https://thuvienhoasen.org/images/file/TTVIqFDL2ggQAC8k/030-ch2-hai-phap-x-pham-ke-ngu-b-lavagga-.pdf"><br></a><a href="https://tangkinhcac.org/wp-content/uploads/2026/02/068-ch4-bon-phap-xi-pham-may-mua-val-hakavagga-.pdf">068.-Ch4-Bốn-Pháp-XI.-Phẩm-Mây-Mưa-(Valāhakavagga)</a><a href="https://thuvienhoasen.org/images/file/TTVIqFDL2ggQAC8k/030-ch2-hai-phap-x-pham-ke-ngu-b-lavagga-.pdf"><br></a><a href="https://tangkinhcac.org/wp-content/uploads/2026/02/069-ch4-bon-phap-xii-pham-kesi-kesivagga-.pdf">069.-Ch4-Bốn-Pháp-XII.-Phẩm-Kesi-(Kesivagga)</a><a href="https://thuvienhoasen.org/images/file/TTVIqFDL2ggQAC8k/030-ch2-hai-phap-x-pham-ke-ngu-b-lavagga-.pdf"><br></a></p>



<p class="wp-block-paragraph"><a href="https://tangkinhcac.org/wp-content/uploads/2026/02/070-ch4-bon-phap-xiii-pham-so-hai-bhayavagga-.pdf">070.-Ch4-Bốn-Pháp-XIII.-Phẩm-Sợ-Hãi-(Bhayavagga)</a><a href="https://thuvienhoasen.org/images/file/TTVIqFDL2ggQAC8k/030-ch2-hai-phap-x-pham-ke-ngu-b-lavagga-.pdf"><br></a><a href="https://tangkinhcac.org/wp-content/uploads/2026/02/071-ch4-bon-phap-xiv-pham-loai-nguoi-puggalavagga-.pdf">071.-Ch4-Bốn-Pháp-XIV.-Phẩm-Loài-Người-(Puggalavagga)</a><a href="https://thuvienhoasen.org/images/file/TTVIqFDL2ggQAC8k/030-ch2-hai-phap-x-pham-ke-ngu-b-lavagga-.pdf"><br></a><a href="https://tangkinhcac.org/wp-content/uploads/2026/02/072-ch4-bon-phap-xv-pham-hao-quang-bh-vagga-.pdf">072.-Ch4-Bốn-Pháp-XV.-Phẩm-Hào-Quang-(Ābhāvagga)</a><a href="https://thuvienhoasen.org/images/file/TTVIqFDL2ggQAC8k/030-ch2-hai-phap-x-pham-ke-ngu-b-lavagga-.pdf"><br></a><a href="https://tangkinhcac.org/wp-content/uploads/2026/02/073-ch4-bon-phap-xvi-pham-cac-can-indriyavagga-.pdf">073.-Ch4-Bốn-Pháp-XVI.-Phẩm-Các-Căn-(Indriyavagga)</a><a href="https://thuvienhoasen.org/images/file/TTVIqFDL2ggQAC8k/030-ch2-hai-phap-x-pham-ke-ngu-b-lavagga-.pdf"><br></a><a href="https://tangkinhcac.org/wp-content/uploads/2026/02/074-ch4-bon-phap-xvii-pham-dao-hanh-pa-ipad-vagga-.pdf">074.-Ch4-Bốn-Pháp-XVII.-Phẩm-Đạo-Hành-(Paṭipadāvagga)</a><a href="https://thuvienhoasen.org/images/file/TTVIqFDL2ggQAC8k/030-ch2-hai-phap-x-pham-ke-ngu-b-lavagga-.pdf"><br></a><a href="https://tangkinhcac.org/wp-content/uploads/2026/02/075-ch4-bon-phap-xviii-pham-tu-tam-so-sa-cetaniyavagga-.pdf">075.-Ch4-Bốn-Pháp-XVIII.-Phẩm-Tư-Tâm-Sở-(Sañcetaniyavagga)</a><a href="https://thuvienhoasen.org/images/file/TTVIqFDL2ggQAC8k/030-ch2-hai-phap-x-pham-ke-ngu-b-lavagga-.pdf"><br></a><a href="https://tangkinhcac.org/wp-content/uploads/2026/02/076-ch4-bon-phap-xix-pham-ba-la-mon-br-hma-avagga-.pdf">076.-Ch4-Bốn-Pháp-XIX.-Phẩm-Bà-La-Môn-(Brāhmaṇavagga)</a><a href="https://thuvienhoasen.org/images/file/TTVIqFDL2ggQAC8k/030-ch2-hai-phap-x-pham-ke-ngu-b-lavagga-.pdf"><br></a><a href="https://tangkinhcac.org/wp-content/uploads/2026/02/077-ch4-bon-phap-xx-pham-lon-mah-vagga-.pdf">077.-Ch4-Bốn-Pháp-XX.-Phẩm-Lớn-(Mahāvagga)</a><a href="https://thuvienhoasen.org/images/file/TTVIqFDL2ggQAC8k/030-ch2-hai-phap-x-pham-ke-ngu-b-lavagga-.pdf"><br></a><a href="https://tangkinhcac.org/wp-content/uploads/2026/02/078-ch4-bon-phap-xxi-pham-bac-chan-nhan-sappurisavagga-.pdf">078.-Ch4-Bốn-Pháp-XXI.-Phẩm-Bậc-Chân-Nhân-(Sappurisavagga)</a><a href="https://thuvienhoasen.org/images/file/TTVIqFDL2ggQAC8k/030-ch2-hai-phap-x-pham-ke-ngu-b-lavagga-.pdf"><br></a><a href="https://tangkinhcac.org/wp-content/uploads/2026/02/079-ch4-bon-phap-xxii-pham-hoi-chung-paris-vagga-.pdf">079.-Ch4-Bốn-Pháp-XXII.-Phẩm-Hội-Chúng-(Parisāvagga)</a><a href="https://thuvienhoasen.org/images/file/TTVIqFDL2ggQAC8k/030-ch2-hai-phap-x-pham-ke-ngu-b-lavagga-.pdf"><br></a><a href="https://tangkinhcac.org/wp-content/uploads/2026/02/080-ch4-bon-phap-xxiii-pham-ac-hanh-puccaritavagga-.pdf">080.-Ch4-Bốn-Pháp-XXIII.-Phẩm-Ác-Hạnh-(Puccaritavagga)</a><a href="https://thuvienhoasen.org/images/file/TTVIqFDL2ggQAC8k/030-ch2-hai-phap-x-pham-ke-ngu-b-lavagga-.pdf"><br></a><a href="https://tangkinhcac.org/wp-content/uploads/2026/02/081-ch4-bon-phap-xxiv-pham-nghiep-kammavagga-.pdf">081.-Ch4-Bốn-Pháp-XXIV.-Phẩm-Nghiệp-(Kammavagga)</a><a href="https://thuvienhoasen.org/images/file/TTVIqFDL2ggQAC8k/030-ch2-hai-phap-x-pham-ke-ngu-b-lavagga-.pdf"><br></a><a href="https://tangkinhcac.org/wp-content/uploads/2026/02/082-ch4-bon-phap-xxv-pham-so-hai-pham-toi-pattibhavavagga-.pdf" data-type="link" data-id="https://tangkinhcac.org/wp-content/uploads/2026/02/082-ch4-bon-phap-xxv-pham-so-hai-pham-toi-pattibhavavagga-.pdf">082.-Ch4-Bốn-Pháp-XXV.-Phẩm-Sợ-Hãi-Phạm-Tội-(Āpattibhavavagga)</a><a href="https://thuvienhoasen.org/images/file/TTVIqFDL2ggQAC8k/030-ch2-hai-phap-x-pham-ke-ngu-b-lavagga-.pdf"><br></a><a href="https://tangkinhcac.org/wp-content/uploads/2026/02/083-ch4-bon-phap-xxvi-pham-thang-tri-abhi-avagga-.pdf">083.-Ch4-Bốn-Pháp-XXVI.-Phẩm-Thắng-Trí-(Abhiññavagga)</a><a href="https://thuvienhoasen.org/images/file/TTVIqFDL2ggQAC8k/030-ch2-hai-phap-x-pham-ke-ngu-b-lavagga-.pdf"><br></a><a href="https://tangkinhcac.org/wp-content/uploads/2026/02/084-ch4-bon-phap-xxvii-pham-nghiep-dao-kammapathavagga-.pdf">084.-Ch4-Bốn-Pháp-XXVII.-Phẩm-Nghiệp-Đạo-(Kammapathavagga)</a><a href="https://thuvienhoasen.org/images/file/TTVIqFDL2ggQAC8k/030-ch2-hai-phap-x-pham-ke-ngu-b-lavagga-.pdf"><br></a><a href="https://tangkinhcac.org/wp-content/uploads/2026/02/085-ch4-bon-phap-xxviii-pham-tham-luoc-thuyet-r-gapeyy-la-.pdf">085.-Ch4-Bốn-Pháp-XXVIII.-Phẩm-Tham-Lược-Thuyết-(Rāgapeyyāla)<br></a></p>



<p class="wp-block-paragraph"><strong>CHƯƠNG NĂM PHÁP</strong><a href="https://thuvienhoasen.org/images/file/TTVIqFDL2ggQAC8k/030-ch2-hai-phap-x-pham-ke-ngu-b-lavagga-.pdf"><br></a><a href="https://tangkinhcac.org/wp-content/uploads/2026/02/086-ch5-nam-phap-i-pham-suc-manh-huu-hoc-sekhabalavagga-.pdf">086.-Ch5-Năm-Pháp-I.-Phẩm-Sức-Mạnh-Hữu-Học-(Sekhabalavagga)</a><a href="https://thuvienhoasen.org/images/file/TTVIqFDL2ggQAC8k/030-ch2-hai-phap-x-pham-ke-ngu-b-lavagga-.pdf"><br></a><a href="https://tangkinhcac.org/wp-content/uploads/2026/02/087-ch5-nam-phap-ii-pham-suc-manh-balavagga-.pdf">087.-Ch5-Năm-Pháp-II.-Phẩm-Sức-Mạnh-(Balavagga)</a><a href="https://thuvienhoasen.org/images/file/TTVIqFDL2ggQAC8k/030-ch2-hai-phap-x-pham-ke-ngu-b-lavagga-.pdf"><br></a><a href="https://tangkinhcac.org/wp-content/uploads/2026/02/088-ch5-nam-phap-iii-pham-nam-phan-pa-ca-gikavagga-.pdf">088.-Ch5-Năm-Pháp-III.-Phẩm-Năm-Phần-(Pañcaṅgikavagga)</a><a href="https://thuvienhoasen.org/images/file/TTVIqFDL2ggQAC8k/030-ch2-hai-phap-x-pham-ke-ngu-b-lavagga-.pdf"><br></a><a href="https://tangkinhcac.org/wp-content/uploads/2026/02/089-ch5-nam-phap-iv-pham-suman-suman-vagga-.pdf">089.-Ch5-Năm-Pháp-IV.-Phẩm-Sumanā-(Sumanāvagga)</a><a href="https://thuvienhoasen.org/images/file/TTVIqFDL2ggQAC8k/030-ch2-hai-phap-x-pham-ke-ngu-b-lavagga-.pdf"><br></a><a href="https://tangkinhcac.org/wp-content/uploads/2026/02/090-ch5-nam-phap-v-pham-vua-mu-a-mu-ar-javagga-.pdf">090.-Ch5-Năm-Pháp-V.-Phẩm-Vua-Muṇḍa-(Muṇḍarājavagga)</a><a href="https://thuvienhoasen.org/images/file/TTVIqFDL2ggQAC8k/030-ch2-hai-phap-x-pham-ke-ngu-b-lavagga-.pdf"><br></a><a href="https://tangkinhcac.org/wp-content/uploads/2026/02/091-ch5-nam-phap-vi-pham-trien-cai-n-vara-avagga-.pdf">091.-Ch5-Năm-Pháp-VI.-Phẩm-Triền-Cái-(Nīvaraṇavagga)</a><a href="https://thuvienhoasen.org/images/file/TTVIqFDL2ggQAC8k/030-ch2-hai-phap-x-pham-ke-ngu-b-lavagga-.pdf"><br></a><a href="https://tangkinhcac.org/wp-content/uploads/2026/02/092-ch5-nam-phap-vii-pham-tuong-sa-vagga-.pdf">092.-Ch5-Năm-Pháp-VII.-Phẩm-Tưởng-(Saññāvagga)</a><a href="https://thuvienhoasen.org/images/file/TTVIqFDL2ggQAC8k/030-ch2-hai-phap-x-pham-ke-ngu-b-lavagga-.pdf"><br></a><a href="https://tangkinhcac.org/wp-content/uploads/2026/02/093-ch5-nam-phap-viii-pham-nguoi-chien-si-yodh-j-vavagga-.pdf">093.-Ch5-Năm-Pháp-VIII.-Phẩm-Người-Chiến-Sĩ-(Yodhājīvavagga)</a><a href="https://thuvienhoasen.org/images/file/TTVIqFDL2ggQAC8k/030-ch2-hai-phap-x-pham-ke-ngu-b-lavagga-.pdf"><br></a><a href="https://tangkinhcac.org/wp-content/uploads/2026/02/094-ch5-nam-phap-ix-pham-truong-lao-theravagga-.pdf">094.-Ch5-Năm-Pháp-IX.-Phẩm-Trưởng-Lão-(Theravagga)</a><a href="https://thuvienhoasen.org/images/file/TTVIqFDL2ggQAC8k/030-ch2-hai-phap-x-pham-ke-ngu-b-lavagga-.pdf"><br></a><a href="https://tangkinhcac.org/wp-content/uploads/2026/02/095-ch5-nam-phap-x-pham-kakudha-kakudhavagga-.pdf">095.-Ch5-Năm-Pháp-X.-Phẩm-Kakudha-(Kakudhavagga)</a><a href="https://thuvienhoasen.org/images/file/TTVIqFDL2ggQAC8k/030-ch2-hai-phap-x-pham-ke-ngu-b-lavagga-.pdf"><br></a><a href="https://tangkinhcac.org/wp-content/uploads/2026/02/096-ch5-nam-phap-xi-pham-an-on-tru-ph-suvih-ravagga-.pdf">096.-Ch5-Năm-Pháp-XI.-Phẩm-An-Ổn-Trú-(Phāsuvihāravagga)</a><a href="https://thuvienhoasen.org/images/file/TTVIqFDL2ggQAC8k/030-ch2-hai-phap-x-pham-ke-ngu-b-lavagga-.pdf"><br></a><a href="https://tangkinhcac.org/wp-content/uploads/2026/02/097-ch5-nam-phap-xii-pham-andhakavinda-andhakavindavagga-.pdf">097.-Ch5-Năm-Pháp-XII.-Phẩm-Andhakavinda-(Andhakavindavagga)</a><a href="https://thuvienhoasen.org/images/file/TTVIqFDL2ggQAC8k/030-ch2-hai-phap-x-pham-ke-ngu-b-lavagga-.pdf"><br></a><a href="https://tangkinhcac.org/wp-content/uploads/2026/02/098-ch5-nam-phap-xiii-pham-benh-gil-navagga-.pdf">098.-Ch5-Năm-Pháp-XIII.-Phẩm-Bệnh-(Gilānavagga)</a><a href="https://thuvienhoasen.org/images/file/TTVIqFDL2ggQAC8k/030-ch2-hai-phap-x-pham-ke-ngu-b-lavagga-.pdf"><br></a><a href="https://tangkinhcac.org/wp-content/uploads/2026/02/099-ch5-nam-phap-xiv-pham-vua-r-javagga-.pdf">099.-Ch5-Năm-Pháp-XIV.-Phẩm-Vua-(Rājavagga)</a><a href="https://thuvienhoasen.org/images/file/TTVIqFDL2ggQAC8k/030-ch2-hai-phap-x-pham-ke-ngu-b-lavagga-.pdf"><br></a><a href="https://tangkinhcac.org/wp-content/uploads/2026/02/100-ch5-nam-phap-xv-pham-tika-ak-tika-ak-vagga-.pdf">100.-Ch5-Năm-Pháp-XV.-Phẩm-Tikaṇḍakī-(Tikaṇḍakīvagga)</a><a href="https://thuvienhoasen.org/images/file/TTVIqFDL2ggQAC8k/030-ch2-hai-phap-x-pham-ke-ngu-b-lavagga-.pdf"><br></a><a href="https://tangkinhcac.org/wp-content/uploads/2026/02/101-ch5-nam-phap-xvi-pham-dieu-phap-saddhammavagga-.pdf">101.-Ch5-Năm-Pháp-XVI.-Phẩm-Diệu-Pháp-(Saddhammavagga)</a><a href="https://thuvienhoasen.org/images/file/TTVIqFDL2ggQAC8k/030-ch2-hai-phap-x-pham-ke-ngu-b-lavagga-.pdf"><br></a><a href="https://tangkinhcac.org/wp-content/uploads/2026/02/102-ch5-nam-phap-xvii-pham-hiem-han-gh-tavagga-ok.pdf">102.-Ch5-Năm-Pháp-XVII.-Phẩm-Hiềm-Hận-(Āghātavagga)-ok</a><a href="https://thuvienhoasen.org/images/file/TTVIqFDL2ggQAC8k/030-ch2-hai-phap-x-pham-ke-ngu-b-lavagga-.pdf"><br></a><a href="https://tangkinhcac.org/wp-content/uploads/2026/02/103-ch5-nam-phap-xviii-pham-nam-cu-si-up-sakavagga-.pdf">103.-Ch5-Năm-Pháp-XVIII.-Phẩm-Nam-Cư-Sĩ-(Upāsakavagga)</a><a href="https://thuvienhoasen.org/images/file/TTVIqFDL2ggQAC8k/030-ch2-hai-phap-x-pham-ke-ngu-b-lavagga-.pdf"><br></a><a href="https://tangkinhcac.org/wp-content/uploads/2026/02/104-ch5-nam-phap-xix-pham-song-o-rung-ra-avagga-.pdf">104.-Ch5-Năm-Pháp-XIX.-Phẩm-Sống-ở-Rừng-(Āraññavagga)</a><a href="https://thuvienhoasen.org/images/file/TTVIqFDL2ggQAC8k/030-ch2-hai-phap-x-pham-ke-ngu-b-lavagga-.pdf"><br></a><a href="https://tangkinhcac.org/wp-content/uploads/2026/02/105-ch5-nam-phap-xx-pham-ba-la-mon-br-hma-avagga-.pdf">105.-Ch5-Năm-Pháp-XX.-Phẩm-Bà-La-Môn-(Brāhmaṇavagga)</a><a href="https://thuvienhoasen.org/images/file/TTVIqFDL2ggQAC8k/030-ch2-hai-phap-x-pham-ke-ngu-b-lavagga-.pdf"><br></a><a href="https://tangkinhcac.org/wp-content/uploads/2026/02/106-ch5-nam-phap-xxi-pham-kimbila-kimilavagga-.pdf">106.-Ch5-Năm-Pháp-XXI.-Phẩm-Kimbila-(Kimilavagga)</a><a href="https://thuvienhoasen.org/images/file/TTVIqFDL2ggQAC8k/030-ch2-hai-phap-x-pham-ke-ngu-b-lavagga-.pdf"><br></a><a href="https://tangkinhcac.org/wp-content/uploads/2026/02/107-ch5-nam-phap-xxii-pham-mang-nhiec-akkosakavagga-.pdf">107.-Ch5-Năm-Pháp-XXII.-Phẩm-Mắng-Nhiếc-(Akkosakavagga)</a><a href="https://thuvienhoasen.org/images/file/TTVIqFDL2ggQAC8k/030-ch2-hai-phap-x-pham-ke-ngu-b-lavagga-.pdf"><br></a><a href="https://tangkinhcac.org/wp-content/uploads/2026/02/108-ch5-nam-phap-xxiii-pham-du-hanh-dai-d-ghac-rikavagga-.pdf">108.-Ch5-Năm-Pháp-XXIII.-Phẩm-Du-Hành-Dài-(Dīghacārikavagga)</a><a href="https://thuvienhoasen.org/images/file/TTVIqFDL2ggQAC8k/030-ch2-hai-phap-x-pham-ke-ngu-b-lavagga-.pdf"><br></a><a href="https://tangkinhcac.org/wp-content/uploads/2026/02/109-ch5-nam-phap-xxiv-pham-tru-tai-cho-v-sikavagga-.pdf">109.-Ch5-Năm-Pháp-XXIV.-Phẩm-Trú-Tại-Chỗ-(Āvāsikavagga)</a><a href="https://thuvienhoasen.org/images/file/TTVIqFDL2ggQAC8k/030-ch2-hai-phap-x-pham-ke-ngu-b-lavagga-.pdf"><br></a><a href="https://tangkinhcac.org/wp-content/uploads/2026/02/110-ch5-nam-phap-xxv-pham-ac-hanh-duccaritavagga-.pdf">110.-Ch5-Năm-Pháp-XXV.-Phẩm-Ác-Hành-(Duccaritavagga)</a><a href="https://thuvienhoasen.org/images/file/TTVIqFDL2ggQAC8k/030-ch2-hai-phap-x-pham-ke-ngu-b-lavagga-.pdf"><br></a><a href="https://tangkinhcac.org/wp-content/uploads/2026/02/111-ch5-nam-phap-xxvi-pham-cu-tuc-gioi-upasampad-vagga-.pdf">111.-Ch5-Năm-Pháp-XXVI.-Phẩm-Cụ-Túc-Giới-(Upasampadāvagga)</a><a href="https://thuvienhoasen.org/images/file/TTVIqFDL2ggQAC8k/030-ch2-hai-phap-x-pham-ke-ngu-b-lavagga-.pdf"><br></a><a href="https://tangkinhcac.org/wp-content/uploads/2026/02/112-ch5-nam-phap-xxvii-pham-lua-chon-luoc-thuyet-sammutipeyy-la-.pdf">112.-Ch5-Năm-Pháp-XXVII.-Phẩm-Lựa-Chọn-Lược-Thuyết-(Sammutipeyyāla)</a><a href="https://thuvienhoasen.org/images/file/TTVIqFDL2ggQAC8k/030-ch2-hai-phap-x-pham-ke-ngu-b-lavagga-.pdf"><br></a><a href="https://tangkinhcac.org/wp-content/uploads/2026/02/113-ch5-nam-phap-xxviii-pham-hoc-gioi-luoc-thuyet-sikkh-padapeyy-la-.pdf">113.-Ch5-Năm-Pháp-XXVIII.-Phẩm-Học-Giới-Lược-Thuyết-(Sikkhāpadapeyyāla)</a><a href="https://thuvienhoasen.org/images/file/TTVIqFDL2ggQAC8k/030-ch2-hai-phap-x-pham-ke-ngu-b-lavagga-.pdf"><br></a><a href="https://tangkinhcac.org/wp-content/uploads/2026/02/114-ch5-nam-phap-xxix-pham-tham-luoc-thuyet-r-gapeyy-la-.pdf">114.-Ch5-Năm-Pháp-XXIX.-Phẩm-Tham-Lược-Thuyết-(Rāgapeyyāla)<br></a></p>



<p class="wp-block-paragraph"><strong>CHƯƠNG SÁU PHÁP</strong><a href="https://thuvienhoasen.org/images/file/TTVIqFDL2ggQAC8k/030-ch2-hai-phap-x-pham-ke-ngu-b-lavagga-.pdf"><br></a><a href="https://tangkinhcac.org/wp-content/uploads/2026/02/115-ch6-sau-phap-i-pham-dang-duoc-cung-kinh-cung-duong-huneyyavagga-.pdf">115.-Ch6-Sáu-Pháp-I.-Phẩm-Đáng-Được-Cung-Kính-Cúng-Dường-(Āhuneyyavagga)</a><a href="https://thuvienhoasen.org/images/file/TTVIqFDL2ggQAC8k/030-ch2-hai-phap-x-pham-ke-ngu-b-lavagga-.pdf"><br></a><a href="https://tangkinhcac.org/wp-content/uploads/2026/02/115-ch6-sau-phap-i-pham-dang-duoc-cung-kinh-cung-duong-huneyyavagga-.pdf">116.-Ch6-Sáu-Pháp-II.-Phẩm-Cần-Phải-Nhớ-(Sāraṇīyavagga)</a><a href="https://thuvienhoasen.org/images/file/TTVIqFDL2ggQAC8k/030-ch2-hai-phap-x-pham-ke-ngu-b-lavagga-.pdf"><br></a><a href="https://tangkinhcac.org/wp-content/uploads/2026/02/117-ch6-sau-phap-iii-pham-tren-tat-ca-anuttariyavagga-.pdf">117.-Ch6-Sáu-Pháp-III.-Phẩm-Trên-Tất-Cả-(Anuttariyavagga)</a><a href="https://thuvienhoasen.org/images/file/TTVIqFDL2ggQAC8k/030-ch2-hai-phap-x-pham-ke-ngu-b-lavagga-.pdf"><br></a><a href="https://tangkinhcac.org/wp-content/uploads/2026/02/118-ch6-sau-phap-iv-pham-chu-thien-devat-vagga-.pdf">118.-Ch6-Sáu-Pháp-IV.-Phẩm-Chư-Thiên-(Devatāvagga)</a><a href="https://thuvienhoasen.org/images/file/TTVIqFDL2ggQAC8k/030-ch2-hai-phap-x-pham-ke-ngu-b-lavagga-.pdf"><br></a><a href="https://tangkinhcac.org/wp-content/uploads/2026/02/119-ch6-sau-phap-v-pham-dhammika-dhammikavagga-.pdf">119.-Ch6-Sáu-Pháp-V.-Phẩm-Dhammika-(Dhammikavagga)</a><a href="https://thuvienhoasen.org/images/file/TTVIqFDL2ggQAC8k/030-ch2-hai-phap-x-pham-ke-ngu-b-lavagga-.pdf"><br></a><a href="https://tangkinhcac.org/wp-content/uploads/2026/02/120-ch6-sau-phap-vi-pham-lon-mah-vagga-.pdf">120.-Ch6-Sáu-Pháp-VI.-Phẩm-Lớn-(Mahāvagga)</a><a href="https://thuvienhoasen.org/images/file/TTVIqFDL2ggQAC8k/030-ch2-hai-phap-x-pham-ke-ngu-b-lavagga-.pdf"><br></a><a href="https://tangkinhcac.org/wp-content/uploads/2026/02/121-ch6-sau-phap-vii-pham-chu-thien-devat-vagga-.pdf">121.-Ch6-Sáu-Pháp-VII.-Phẩm-Chư-Thiên-(Devatāvagga)</a><a href="https://thuvienhoasen.org/images/file/TTVIqFDL2ggQAC8k/030-ch2-hai-phap-x-pham-ke-ngu-b-lavagga-.pdf"><br></a><a href="https://tangkinhcac.org/wp-content/uploads/2026/02/122-ch6-sau-phap-viii-pham-a-la-han-arahattavagga-.pdf">122.-Ch6-Sáu-Pháp-VIII.-Phẩm-A-La-Hán-(Arahattavagga)</a><a href="https://thuvienhoasen.org/images/file/TTVIqFDL2ggQAC8k/030-ch2-hai-phap-x-pham-ke-ngu-b-lavagga-.pdf"><br></a><a href="https://tangkinhcac.org/wp-content/uploads/2026/02/123-ch6-sau-phap-ix-pham-mat-lanh-s-tivagga-.pdf">123.-Ch6-Sáu-Pháp-IX.-Phẩm-Mát-Lạnh-(Sītivagga)</a><a href="https://thuvienhoasen.org/images/file/TTVIqFDL2ggQAC8k/030-ch2-hai-phap-x-pham-ke-ngu-b-lavagga-.pdf"><br></a><a href="https://tangkinhcac.org/wp-content/uploads/2026/02/124-ch6-sau-phap-x-pham-loi-ich-nisa-savagga-.pdf">124.-Ch6-Sáu-Pháp-X.-Phẩm-Lợi-Ích-(Ānisaṃsavagga)</a><a href="https://thuvienhoasen.org/images/file/TTVIqFDL2ggQAC8k/030-ch2-hai-phap-x-pham-ke-ngu-b-lavagga-.pdf"><br></a><a href="https://tangkinhcac.org/wp-content/uploads/2026/02/125-ch6-sau-phap-xi-pham-ba-phap-tikavagga-.pdf">125.-Ch6-Sáu-Pháp-XI.-Phẩm-Ba-Pháp-(Tikavagga)</a><a href="https://thuvienhoasen.org/images/file/TTVIqFDL2ggQAC8k/030-ch2-hai-phap-x-pham-ke-ngu-b-lavagga-.pdf"><br></a><a href="https://tangkinhcac.org/wp-content/uploads/2026/02/126-ch6-sau-phap-xii-pham-sa-mon-s-ma-avagga-.pdf">126.-Ch6-Sáu-Pháp-XII.-Phẩm-Sa-Môn-(Sāmaññavagga)</a><a href="https://thuvienhoasen.org/images/file/TTVIqFDL2ggQAC8k/030-ch2-hai-phap-x-pham-ke-ngu-b-lavagga-.pdf"><br></a><a href="https://tangkinhcac.org/wp-content/uploads/2026/02/127-ch6-sau-phap-xiii-pham-tham-luoc-thuyet-r-gapeyy-la-.pdf">127.-Ch6-Sáu-Pháp-XIII.-Phẩm-Tham-Lược-Thuyết-(Rāgapeyyāla)<br></a></p>



<p class="wp-block-paragraph"><strong>CHƯƠNG BẨY PHÁP</strong><a href="https://thuvienhoasen.org/images/file/TTVIqFDL2ggQAC8k/030-ch2-hai-phap-x-pham-ke-ngu-b-lavagga-.pdf"><br></a><a href="https://tangkinhcac.org/wp-content/uploads/2026/02/128-ch7-bay-phap-i-pham-tai-san-dhanavagga-.pdf">128.-Ch7-Bảy-Pháp-I.-Phẩm-Tài-Sản-(Dhanavagga)</a><a href="https://thuvienhoasen.org/images/file/TTVIqFDL2ggQAC8k/030-ch2-hai-phap-x-pham-ke-ngu-b-lavagga-.pdf"><br></a><a href="https://tangkinhcac.org/wp-content/uploads/2026/02/129-ch7-bay-phap-ii-pham-tuy-mien-anusayavagga-.pdf">129.-Ch7-Bảy-Pháp-II.-Phẩm-Tùy-Miên-(Anusayavagga)</a><a href="https://thuvienhoasen.org/images/file/TTVIqFDL2ggQAC8k/030-ch2-hai-phap-x-pham-ke-ngu-b-lavagga-.pdf"><br></a><a href="https://tangkinhcac.org/wp-content/uploads/2026/02/130-ch7-bay-phap-iii-pham-vajj-vajjisattakavagga-.pdf">130.-Ch7-Bảy-Pháp-III.-Phẩm-Vajjī-(Vajjisattakavagga)</a><a href="https://thuvienhoasen.org/images/file/TTVIqFDL2ggQAC8k/030-ch2-hai-phap-x-pham-ke-ngu-b-lavagga-.pdf"><br></a><a href="https://tangkinhcac.org/wp-content/uploads/2026/02/131-ch7-bay-phap-iv-pham-chu-thien-devat-vagga-.pdf">131.-Ch7-Bảy-Pháp-IV.-Phẩm-Chư-Thiên-(Devatāvagga)</a><a href="https://thuvienhoasen.org/images/file/TTVIqFDL2ggQAC8k/030-ch2-hai-phap-x-pham-ke-ngu-b-lavagga-.pdf"><br></a><a href="https://tangkinhcac.org/wp-content/uploads/2026/02/132-ch7-bay-phap-v-pham-dai-te-dan-mah-ya-avagga-.pdf">132.-Ch7-Bảy-Pháp-V.-Phẩm-Đại-Tế-Đàn-(Mahāyaññavagga)</a><a href="https://thuvienhoasen.org/images/file/TTVIqFDL2ggQAC8k/030-ch2-hai-phap-x-pham-ke-ngu-b-lavagga-.pdf"><br></a><a href="https://tangkinhcac.org/wp-content/uploads/2026/02/133-ch7-bay-phap-vi-pham-khong-tuyen-bo-aby-katavagga-.pdf">133.-Ch7-Bảy-Pháp-VI.-Phẩm-Không-Tuyên-Bố-(Abyākatavagga)</a><a href="https://thuvienhoasen.org/images/file/TTVIqFDL2ggQAC8k/030-ch2-hai-phap-x-pham-ke-ngu-b-lavagga-.pdf"><br></a><a href="https://tangkinhcac.org/wp-content/uploads/2026/02/134-ch7-bay-phap-vii-pham-lon-mah-vagga-.pdf">134.-Ch7-Bảy-Pháp-VII.-Phẩm-Lớn-(Mahāvagga)</a><a href="https://thuvienhoasen.org/images/file/TTVIqFDL2ggQAC8k/030-ch2-hai-phap-x-pham-ke-ngu-b-lavagga-.pdf"><br></a><a href="https://tangkinhcac.org/wp-content/uploads/2026/02/135-ch7-bay-phap-viii-pham-ve-luat-vinayavagga-.pdf">135.-Ch7-Bảy-Pháp-VIII.-Phẩm-về-Luật-(Vinayavagga)</a><a href="https://thuvienhoasen.org/images/file/TTVIqFDL2ggQAC8k/030-ch2-hai-phap-x-pham-ke-ngu-b-lavagga-.pdf"><br></a><a href="https://tangkinhcac.org/wp-content/uploads/2026/02/136-ch7-bay-phap-ix-pham-sa-mon-s-ma-avagga-.pdf">136.-Ch7-Bảy-Pháp-IX.-Phẩm-Sa-Môn-(Sāmaṇavagga)</a><a href="https://thuvienhoasen.org/images/file/TTVIqFDL2ggQAC8k/030-ch2-hai-phap-x-pham-ke-ngu-b-lavagga-.pdf"><br></a><a href="https://tangkinhcac.org/wp-content/uploads/2026/02/137-ch7-bay-phap-x-pham-dang-duoc-cung-kinh-cung-duong-huneyyavagga-.pdf">137.-Ch7-Bảy-Pháp-X.-Phẩm-Đáng-Được-Cung-Kính-Cúng-Dường-(Āhuneyyavagga)</a><a href="https://thuvienhoasen.org/images/file/TTVIqFDL2ggQAC8k/030-ch2-hai-phap-x-pham-ke-ngu-b-lavagga-.pdf"><br></a><a href="https://tangkinhcac.org/wp-content/uploads/2026/02/138-ch7-bay-phap-xi-pham-tham-luoc-thuyet-r-gapeyy-la-.pdf">138.-Ch7-Bảy-Pháp-XI.-Phẩm-Tham-Lược-Thuyết-(Rāgapeyyāla)</a><a href="https://thuvienhoasen.org/images/file/TTVIqFDL2ggQAC8k/030-ch2-hai-phap-x-pham-ke-ngu-b-lavagga-.pdf"><br></a></p>



<p class="wp-block-paragraph"><strong>CHƯƠNG&nbsp;TÁM PHÁP</strong><a href="https://thuvienhoasen.org/images/file/TTVIqFDL2ggQAC8k/030-ch2-hai-phap-x-pham-ke-ngu-b-lavagga-.pdf"><br></a><a href="https://tangkinhcac.org/wp-content/uploads/2026/02/139-ch8-tam-phap-i-pham-tu-tam-mett-vagga-.pdf">139.-Ch8-Tám-Pháp-I.-Phẩm-Từ-Tâm-(Mettāvagga)</a><a href="https://thuvienhoasen.org/images/file/TTVIqFDL2ggQAC8k/030-ch2-hai-phap-x-pham-ke-ngu-b-lavagga-.pdf"><br></a><a href="https://tangkinhcac.org/wp-content/uploads/2026/02/140-ch8-tam-phap-ii-pham-lon-mah-vagga-.pdf">140.-Ch8-Tám-Pháp-II.-Phẩm-Lớn-(Mahāvagga)</a><a href="https://thuvienhoasen.org/images/file/TTVIqFDL2ggQAC8k/030-ch2-hai-phap-x-pham-ke-ngu-b-lavagga-.pdf"><br></a><a href="https://tangkinhcac.org/wp-content/uploads/2026/02/141-ch8-tam-phap-iii-pham-gia-chu-gahapativagga-.pdf">141.-Ch8-Tám-Pháp-III.-Phẩm-Gia-Chủ-(Gahapativagga)</a><a href="https://thuvienhoasen.org/images/file/TTVIqFDL2ggQAC8k/030-ch2-hai-phap-x-pham-ke-ngu-b-lavagga-.pdf"><br></a><a href="https://tangkinhcac.org/wp-content/uploads/2026/02/142-ch8-tam-phap-iv-pham-bo-thi-p-navagga-.pdf">142.-Ch8-Tám-Pháp-IV.-Phẩm-Bố-Thí-(Pānavagga)</a><a href="https://thuvienhoasen.org/images/file/TTVIqFDL2ggQAC8k/030-ch2-hai-phap-x-pham-ke-ngu-b-lavagga-.pdf"><br></a><a href="https://tangkinhcac.org/wp-content/uploads/2026/02/143-ch8-tam-phap-v-pham-ngay-trai-gioi-uposathavagga-.pdf">143.-Ch8-Tám-Pháp-V.-Phẩm-Ngày-Trai-Giới-Uposathavagga)</a><a href="https://thuvienhoasen.org/images/file/TTVIqFDL2ggQAC8k/030-ch2-hai-phap-x-pham-ke-ngu-b-lavagga-.pdf"><br></a><a href="https://tangkinhcac.org/wp-content/uploads/2026/02/144-ch8-tam-phap-vi-pham-gotam-gotam-vagga-.pdf">144.-Ch8-Tám-Pháp-VI.-Phẩm-Gotamī-(Gotamīvagga)</a><a href="https://thuvienhoasen.org/images/file/TTVIqFDL2ggQAC8k/030-ch2-hai-phap-x-pham-ke-ngu-b-lavagga-.pdf"><br></a><a href="https://tangkinhcac.org/wp-content/uploads/2026/02/145-ch8-tam-phap-vii-pham-dat-rung-dong-bh-mic-lavagga-.pdf">145.-Ch8-Tám-Pháp-VII.-Phẩm-Đất-Rúng-Động-(Bhūmicālavagga)</a><a href="https://thuvienhoasen.org/images/file/TTVIqFDL2ggQAC8k/030-ch2-hai-phap-x-pham-ke-ngu-b-lavagga-.pdf"><br></a><a href="https://tangkinhcac.org/wp-content/uploads/2026/02/146-ch8-tam-phap-viii-pham-song-doi-yamakavagga-.pdf">146.-Ch8-Tám-Pháp-VIII.-Phẩm-Song-Đôi-(Yamakavagga)</a><a href="https://thuvienhoasen.org/images/file/TTVIqFDL2ggQAC8k/030-ch2-hai-phap-x-pham-ke-ngu-b-lavagga-.pdf"><br></a><a href="https://tangkinhcac.org/wp-content/uploads/2026/02/147-ch8-tam-phap-ix-pham-niem-sativagga-.pdf">147.-Ch8-Tám-Pháp-IX.-Phẩm-Niệm-(Sativagga)</a><a href="https://thuvienhoasen.org/images/file/TTVIqFDL2ggQAC8k/030-ch2-hai-phap-x-pham-ke-ngu-b-lavagga-.pdf"><br></a><a href="https://tangkinhcac.org/wp-content/uploads/2026/02/148-ch8-tam-phap-x-pham-tuong-tu-s-ma-avagga-.pdf">148.-Ch8-Tám-Pháp-X.-Phẩm-Tương-Tự-(Sāmaññavagga)</a><a href="https://thuvienhoasen.org/images/file/TTVIqFDL2ggQAC8k/030-ch2-hai-phap-x-pham-ke-ngu-b-lavagga-.pdf"><br></a><a href="https://tangkinhcac.org/wp-content/uploads/2026/02/149-ch8-tam-phap-xi-pham-tham-luoc-thuyet-r-gapeyy-la-.pdf">149.-Ch8-Tám-Pháp-XI.-Phẩm-Tham-Lược-Thuyết-(Rāgapeyyāla)</a><a href="https://thuvienhoasen.org/images/file/TTVIqFDL2ggQAC8k/030-ch2-hai-phap-x-pham-ke-ngu-b-lavagga-.pdf"><br></a></p>



<p class="wp-block-paragraph"><strong>CHƯƠNG CHÍN PHÁP</strong><br><a href="https://tangkinhcac.org/wp-content/uploads/2026/02/150-ch9-chin-phap-i-pham-chanh-giac-sambodhivagga-.pdf">150.-Ch9-Chín-Pháp-I.-Phẩm-Chánh-Giác-(Sambodhivagga)</a><br><a href="https://tangkinhcac.org/wp-content/uploads/2026/02/151-ch9-chin-phap-ii-pham-tieng-rong-su-tu-s-han-davagga-.pdf">151.-Ch9-Chín-Pháp-II.-Phẩm-Tiếng-Rống-Sư-Tử-(Sīhanādavagga)</a><a href="https://thuvienhoasen.org/images/file/TTVIqFDL2ggQAC8k/030-ch2-hai-phap-x-pham-ke-ngu-b-lavagga-.pdf"><br></a><a href="https://tangkinhcac.org/wp-content/uploads/2026/02/152-ch9-chin-phap-iii-pham-cho-cu-tru-cua-huu-tinh-satt-v-savagga-.pdf">152.-Ch9-Chín-Pháp-III.-Phẩm-Chỗ-Cư-Trú-của-Hữu-Tình-(Sattāvāsavagga)</a><a href="https://thuvienhoasen.org/images/file/TTVIqFDL2ggQAC8k/030-ch2-hai-phap-x-pham-ke-ngu-b-lavagga-.pdf"><br></a><a href="https://tangkinhcac.org/wp-content/uploads/2026/02/153-ch9-chin-phap-iv-pham-lon-mah-vagga-.pdf">153.-Ch9-Chín-Pháp-IV.-Phẩm-Lớn-(Mahāvagga)</a><a href="https://thuvienhoasen.org/images/file/TTVIqFDL2ggQAC8k/030-ch2-hai-phap-x-pham-ke-ngu-b-lavagga-.pdf"><br></a><a href="https://tangkinhcac.org/wp-content/uploads/2026/02/154-ch9-chin-phap-v-pham-tuong-tu-s-ma-avagga-.pdf">154.-Ch9-Chín-Pháp-V.-Phẩm-Tương-Tự-(Sāmaññavagga)</a><a href="https://thuvienhoasen.org/images/file/TTVIqFDL2ggQAC8k/030-ch2-hai-phap-x-pham-ke-ngu-b-lavagga-.pdf"><br></a><a href="https://tangkinhcac.org/wp-content/uploads/2026/02/155-ch9-chin-phap-vi-pham-an-on-khemavagga-.pdf">155.-Ch9-Chín-Pháp-VI.-Phẩm-An-Ổn-(Khemavagga)</a><a href="https://thuvienhoasen.org/images/file/TTVIqFDL2ggQAC8k/030-ch2-hai-phap-x-pham-ke-ngu-b-lavagga-.pdf"><br></a><a href="https://tangkinhcac.org/wp-content/uploads/2026/02/156-ch9-chin-phap-vii-pham-niem-xu-satipa-h-navagga-.pdf">156.-Ch9-Chín-Pháp-VII.-Phẩm-Niệm-Xứ-(Satipaṭṭhānavagga)</a><a href="https://thuvienhoasen.org/images/file/TTVIqFDL2ggQAC8k/030-ch2-hai-phap-x-pham-ke-ngu-b-lavagga-.pdf"><br></a><a href="https://tangkinhcac.org/wp-content/uploads/2026/02/157-ch9-chin-phap-viii-pham-chanh-can-sammappadh-navagga-.pdf">157.-Ch9-Chín-Pháp-VIII.-Phẩm-Chánh-Cần-(Sammappadhānavagga)</a><a href="https://thuvienhoasen.org/images/file/TTVIqFDL2ggQAC8k/030-ch2-hai-phap-x-pham-ke-ngu-b-lavagga-.pdf"><br></a><a href="https://tangkinhcac.org/wp-content/uploads/2026/02/158-ch9-chin-phap-ix-pham-bon-nhu-y-tuc-iddhip-davagga-.pdf">158.-Ch9-Chín-Pháp-IX.-Phẩm-Bốn-Như-Ý-Túc-(Iddhipādavagga)</a><a href="https://thuvienhoasen.org/images/file/TTVIqFDL2ggQAC8k/030-ch2-hai-phap-x-pham-ke-ngu-b-lavagga-.pdf"><br></a><a href="https://tangkinhcac.org/wp-content/uploads/2026/02/159-ch9-chin-phap-x-pham-tham-luoc-thuyet-r-gapeyy-la-.pdf">159.-Ch9-Chín-Pháp-X.-Phẩm-Tham-Lược-Thuyết-(Rāgapeyyāla)<br></a></p>



<p class="wp-block-paragraph"><strong>CHƯƠNG MƯỜI PHÁP</strong><a href="https://thuvienhoasen.org/images/file/TTVIqFDL2ggQAC8k/030-ch2-hai-phap-x-pham-ke-ngu-b-lavagga-.pdf"><br></a><a href="https://tangkinhcac.org/wp-content/uploads/2026/02/160-ch10-muoi-phap-i-pham-loi-ich-nisa-savagga-.pdf">160.-Ch10-Mười-Pháp-I.-Phẩm-Lợi-Ích-(Ānisaṃsavagga)</a><a href="https://thuvienhoasen.org/images/file/TTVIqFDL2ggQAC8k/030-ch2-hai-phap-x-pham-ke-ngu-b-lavagga-.pdf"><br></a><a href="https://tangkinhcac.org/wp-content/uploads/2026/02/161-ch10-muoi-phap-ii-pham-ho-tri-n-thavagga-.pdf">161.-Ch10-Mười-Pháp-II.-Phẩm-Hộ-Trì-(Nāthavagga)</a><a href="https://thuvienhoasen.org/images/file/TTVIqFDL2ggQAC8k/030-ch2-hai-phap-x-pham-ke-ngu-b-lavagga-.pdf"><br></a><a href="https://tangkinhcac.org/wp-content/uploads/2026/02/162-ch10-muoi-phap-iii-pham-lon-mah-vagga-.pdf">162.-Ch10-Mười-Pháp-III.-Phẩm-Lớn-(Mahāvagga)</a><a href="https://thuvienhoasen.org/images/file/TTVIqFDL2ggQAC8k/030-ch2-hai-phap-x-pham-ke-ngu-b-lavagga-.pdf"><br></a><a href="https://tangkinhcac.org/wp-content/uploads/2026/02/163-ch10-muoi-phap-iv-pham-up-li-up-livagga-.pdf">163.-Ch10-Mười-Pháp-IV.-Phẩm-Upāli-(Upālivagga)</a><a href="https://thuvienhoasen.org/images/file/TTVIqFDL2ggQAC8k/030-ch2-hai-phap-x-pham-ke-ngu-b-lavagga-.pdf"><br></a><a href="https://tangkinhcac.org/wp-content/uploads/2026/02/164-ch10-muoi-phap-v-pham-mang-nhiec-akkosavagga-.pdf">164.-Ch10-Mười-Pháp-V.-Phẩm-Mắng-Nhiếc-(Akkosavagga)</a><a href="https://thuvienhoasen.org/images/file/TTVIqFDL2ggQAC8k/030-ch2-hai-phap-x-pham-ke-ngu-b-lavagga-.pdf"><br></a><a href="https://tangkinhcac.org/wp-content/uploads/2026/02/165-ch10-muoi-phap-vi-pham-tam-cua-minh-sacittavagga-.pdf">165.-Ch10-Mười-Pháp-VI.-Phẩm-Tâm-của-Mình-(Sacittavagga)</a><a href="https://thuvienhoasen.org/images/file/TTVIqFDL2ggQAC8k/030-ch2-hai-phap-x-pham-ke-ngu-b-lavagga-.pdf"><br></a><a href="https://tangkinhcac.org/wp-content/uploads/2026/02/166-ch10-muoi-phap-vii-pham-song-doi-yamakavagga-.pdf">166.-Ch10-Mười-Pháp-VII.-Phẩm-Song-Đôi-(Yamakavagga)</a><a href="https://thuvienhoasen.org/images/file/TTVIqFDL2ggQAC8k/030-ch2-hai-phap-x-pham-ke-ngu-b-lavagga-.pdf"><br></a><a href="https://tangkinhcac.org/wp-content/uploads/2026/02/167-ch10-muoi-phap-viii-pham-uoc-nguyen-ka-khavagga-.pdf">167.-Ch10-Mười-Pháp-VIII.-Phẩm-Ước-Nguyện-(Ākaṅkhavagga)</a><a href="https://thuvienhoasen.org/images/file/TTVIqFDL2ggQAC8k/030-ch2-hai-phap-x-pham-ke-ngu-b-lavagga-.pdf"><br></a><a href="https://tangkinhcac.org/wp-content/uploads/2026/02/168-ch10-muoi-phap-ix-pham-truong-lao-theravagga-.pdf">168.-Ch10-Mười-Pháp-IX.-Phẩm-Trưởng-Lão-(Theravagga)</a><a href="https://thuvienhoasen.org/images/file/TTVIqFDL2ggQAC8k/030-ch2-hai-phap-x-pham-ke-ngu-b-lavagga-.pdf"><br></a><a href="https://tangkinhcac.org/wp-content/uploads/2026/02/169-ch10-muoi-phap-x-pham-up-li-up-livagga-.pdf">169.-Ch10-Mười-Pháp-X.-Phẩm-Upāli-(Upālivagga)</a><a href="https://thuvienhoasen.org/images/file/TTVIqFDL2ggQAC8k/030-ch2-hai-phap-x-pham-ke-ngu-b-lavagga-.pdf"><br></a><a href="https://tangkinhcac.org/wp-content/uploads/2026/02/170-ch10-muoi-phap-xi-pham-sa-mon-tuong-sama-asa-vagga-.pdf">170.-Ch10-Mười-Pháp-XI.-Phẩm-Sa-Môn-Tưởng-(Samaṇasaññāvagga)</a><a href="https://thuvienhoasen.org/images/file/TTVIqFDL2ggQAC8k/030-ch2-hai-phap-x-pham-ke-ngu-b-lavagga-.pdf"><br></a><a href="https://tangkinhcac.org/wp-content/uploads/2026/02/170-ch10-muoi-phap-xi-pham-sa-mon-tuong-sama-asa-vagga-.pdf">171.-Ch10-Mười-Pháp-XII.-Phẩm-Đi-Xuống-(Paccorohaṇivagga)</a><a href="https://thuvienhoasen.org/images/file/TTVIqFDL2ggQAC8k/030-ch2-hai-phap-x-pham-ke-ngu-b-lavagga-.pdf"><br></a><a href="https://tangkinhcac.org/wp-content/uploads/2026/02/172-ch10-muoi-phap-xiii-pham-thanh-tinh-parisuddhavagga-.pdf">172.-Ch10-Mười-Pháp-XIII.-Phẩm-Thanh-Tịnh-(Parisuddhavagga)</a><a href="https://thuvienhoasen.org/images/file/TTVIqFDL2ggQAC8k/030-ch2-hai-phap-x-pham-ke-ngu-b-lavagga-.pdf"><br></a><a href="https://tangkinhcac.org/wp-content/uploads/2026/02/173-ch10-muoi-phap-xiv-pham-tot-lanh-s-dhuvagga-.pdf">173.-Ch10-Mười-Pháp-XIV.-Phẩm-Tốt-Lành-(Sādhuvagga)</a><a href="https://thuvienhoasen.org/images/file/TTVIqFDL2ggQAC8k/030-ch2-hai-phap-x-pham-ke-ngu-b-lavagga-.pdf"><br></a><a href="https://tangkinhcac.org/wp-content/uploads/2026/02/174-ch10-muoi-phap-xv-pham-thanh-dao-ariyavagga-.pdf">174.-Ch10-Mười-Pháp-XV.-Phẩm-Thánh-Đạo-(Ariyavagga)</a><a href="https://thuvienhoasen.org/images/file/TTVIqFDL2ggQAC8k/030-ch2-hai-phap-x-pham-ke-ngu-b-lavagga-.pdf"><br></a><a href="https://tangkinhcac.org/wp-content/uploads/2026/02/175-ch10-muoi-phap-xvi-pham-nguoi-puggalavagga-.pdf">175.-Ch10-Mười-Pháp-XVI.-Phẩm-Người-(Puggalavagga)</a><a href="https://thuvienhoasen.org/images/file/TTVIqFDL2ggQAC8k/030-ch2-hai-phap-x-pham-ke-ngu-b-lavagga-.pdf"><br></a><a href="https://tangkinhcac.org/wp-content/uploads/2026/02/176-ch10-muoi-phap-xvii-pham-j-usso-i-j-usso-ivagga-.pdf">176.-Ch10-Mười-Pháp-XVII.-Phẩm-Jāṇussoṇi-(Jāṇussoṇivagga)</a><a href="https://thuvienhoasen.org/images/file/TTVIqFDL2ggQAC8k/030-ch2-hai-phap-x-pham-ke-ngu-b-lavagga-.pdf"><br></a><a href="https://tangkinhcac.org/wp-content/uploads/2026/02/177-ch10-muoi-phap-xviii-pham-tot-lanh-s-dhuvagga-.pdf">177.-Ch10-Mười-Pháp-XVIII.-Phẩm-Tốt-Lành-(Sādhuvagga)</a><a href="https://thuvienhoasen.org/images/file/TTVIqFDL2ggQAC8k/030-ch2-hai-phap-x-pham-ke-ngu-b-lavagga-.pdf"><br></a><a href="https://tangkinhcac.org/wp-content/uploads/2026/02/178-ch10-muoi-phap-xix-pham-thanh-dao-ariyamaggavagga-.pdf">178.-Ch10-Mười-Pháp-XIX.-Phẩm-Thánh-Đạo-(Ariyamaggavagga)</a><a href="https://thuvienhoasen.org/images/file/TTVIqFDL2ggQAC8k/030-ch2-hai-phap-x-pham-ke-ngu-b-lavagga-.pdf"><br></a><a href="https://tangkinhcac.org/wp-content/uploads/2026/02/179-ch10-muoi-phap-xx-pham-cac-hang-nguoi-aparapuggalavagga-.pdf">179.-Ch10-Mười-Pháp-XX.-Phẩm-Các-Hạng-Người-(Aparapuggalavagga)</a><a href="https://thuvienhoasen.org/images/file/TTVIqFDL2ggQAC8k/030-ch2-hai-phap-x-pham-ke-ngu-b-lavagga-.pdf"><br></a><a href="https://tangkinhcac.org/wp-content/uploads/2026/02/180-ch10-muoi-phap-xxi-pham-than-do-nghiep-sanh-karajak-yavagga-.pdf">180.-Ch10-Mười-Pháp-XXI.-Phẩm-Thân-Do-Nghiệp-Sanh-(Karajakāyavagga)</a><a href="https://thuvienhoasen.org/images/file/TTVIqFDL2ggQAC8k/030-ch2-hai-phap-x-pham-ke-ngu-b-lavagga-.pdf"><br></a><a href="https://tangkinhcac.org/wp-content/uploads/2026/02/181-ch10-muoi-phap-xxii-pham-tuong-tu-s-ma-avagga-.pdf">181.-Ch10-Mười-Pháp-XXII.-Phẩm-Tương-Tự-(Sāmaññavagga)</a><a href="https://thuvienhoasen.org/images/file/TTVIqFDL2ggQAC8k/030-ch2-hai-phap-x-pham-ke-ngu-b-lavagga-.pdf"><br></a><a href="https://tangkinhcac.org/wp-content/uploads/2026/02/182-ch10-muoi-phap-xxiii-pham-tham-luoc-thuyet-r-gapeyy-la-.pdf">182.-Ch10-Mười-Pháp-XXIII.-Phẩm-Tham-Lược-Thuyết-(Rāgapeyyāla)<br></a></p>



<p class="wp-block-paragraph"><strong>CHƯƠNG MƯỜI MỘT PHÁP</strong><br><a href="https://tangkinhcac.org/wp-content/uploads/2026/02/183-ch11-muoi-mot-phap-i-pham-y-chi-nissayavagga-.pdf">183.-Ch11-Mười-Một-Pháp-I.-Phẩm-Y-Chỉ-(Nissayavagga)</a><a href="https://thuvienhoasen.org/images/file/TTVIqFDL2ggQAC8k/030-ch2-hai-phap-x-pham-ke-ngu-b-lavagga-.pdf"><br></a><a href="https://tangkinhcac.org/wp-content/uploads/2026/02/184-ch11-muoi-mot-phap-ii-pham-tuy-niem-anussativagga-.pdf">184.-Ch11-Mười-Một-Pháp-II.-Phẩm-Tùy-Niệm-(Anussativagga)</a><a href="https://thuvienhoasen.org/images/file/TTVIqFDL2ggQAC8k/030-ch2-hai-phap-x-pham-ke-ngu-b-lavagga-.pdf"><br></a><a href="https://tangkinhcac.org/wp-content/uploads/2026/02/185-ch11-muoi-mot-phap-iii-pham-tuong-tu-s-ma-avagga-.pdf">185.-Ch11-Mười-Một-Pháp-III.-Phẩm-Tương-Tự-(Sāmaññavagga)</a><a href="https://thuvienhoasen.org/images/file/TTVIqFDL2ggQAC8k/030-ch2-hai-phap-x-pham-ke-ngu-b-lavagga-.pdf"><br></a><a href="https://tangkinhcac.org/wp-content/uploads/2026/02/186-ch11-muoi-mot-phap-iv-pham-tham-luoc-thuyet-r-gapeyy-la-.pdf">186.-Ch11-Mười-Một-Pháp-IV.-Phẩm-Tham-Lược-Thuyết-(Rāgapeyyāla)</a><a href="https://thuvienhoasen.org/images/file/TTVIqFDL2ggQAC8k/030-ch2-hai-phap-x-pham-ke-ngu-b-lavagga-.pdf"><br></a><a href="https://tangkinhcac.org/wp-content/uploads/2026/02/phu-luc-3.pdf">Phụ-Lục</a><a href="https://thuvienhoasen.org/images/file/TTVIqFDL2ggQAC8k/030-ch2-hai-phap-x-pham-ke-ngu-b-lavagga-.pdf"><br><br></a><strong>nguồn : thư viện hoa sen</strong></p>



<p class="wp-block-paragraph"></p>



<p class="has-text-align-right wp-block-paragraph"><a href="https://drive.google.com/drive/folders/129P4AdbU5PC7dumUz_0awFhxOxj-0uUK?usp=drive_link">https://drive.google.com/drive/folders/129P4AdbU5PC7dumUz_0awFhxOxj-0uUK?usp=drive_link</a></p>
<p>The post <a href="https://tangkinhcac.org/kinh-tang-chi-bo-anguttara-nikaya-bo-moi/">Kinh Tăng Chi Bộ Anguttara Nỉkãya | Bộ Mới &#8211; Tam Tạng Thánh Điển Phật Giáo Việt Nam</a> appeared first on <a href="https://tangkinhcac.org">Tàng Kinh Các</a>.</p>
]]></content:encoded>
					
		
		
			</item>
		<item>
		<title>Kinh Tương Ưng Bộ &#8211; Saṃyutta Nikāya -Tam Tạng Thánh Điển Phật Giáo Việt Nam</title>
		<link>https://tangkinhcac.org/kinh-tuong-ung-bo-sa%e1%b9%83yutta-nikaya-bo-moi/</link>
		
		<dc:creator><![CDATA[admin]]></dc:creator>
		<pubDate>Sat, 14 Feb 2026 08:42:33 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Kinh Tương Ưng Bộ]]></category>
		<category><![CDATA[Pdf]]></category>
		<category><![CDATA[Tam Tạng Thánh Điển Phật Giáo VIệt Nam]]></category>
		<category><![CDATA[Thích Minh Châu]]></category>
		<category><![CDATA[Kinh Tương Ưng bộ]]></category>
		<category><![CDATA[SAṂYUTTA NIKĀYA]]></category>
		<category><![CDATA[tam tạng thánh điển phật giáo Việt Nam]]></category>
		<category><![CDATA[Tam Tạng Thượng Toạ Bộ]]></category>
		<category><![CDATA[thích minh châu]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://tangkinhcac.org/?p=434</guid>

					<description><![CDATA[<p>VIỆN&#160;NGHIÊN CỨU&#160;PHẬT HỌC&#160;VIỆT NAMTAM TẠNG&#160;THÁNH ĐIỂN&#160;PHẬT GIÁO VIỆT NAMKINH&#160;TƯƠNG ƯNG BỘSAṂYUTTA NIKĀYADỊCH GIẢ:&#160;HÒA THƯỢNG&#160;THÍCH&#160;MINH CHÂUNHÀ XUẤT BẢN HỒNG ĐỨC 2022\ &#160;LỜI&#160;CHỨNG MINH Nam-mô&#160;Bản Sư&#160;Thích-ca Mâu-ni&#160;Phật Trong Kỉnh&#160;Hoa Nghiêm&#160;có ghi: &#8220;Phật dĩ&#160;nhất nhất&#160;thân, xứ xứ chuyển pháp /沥〃&#8221;（佛以一一身，處處轉法輪）,nghía là&#160;đức Phật&#160;luôn dùng tất cả&#160;hóa thân&#160;của mình, ở&#160;mọi nơi&#160;mọi chốn&#160;chuyển bánh xe pháp. Thật&#160;hoan hỷ,&#160;tinh thần&#160;chuyển bánh xe [&#8230;]</p>
<p>The post <a href="https://tangkinhcac.org/kinh-tuong-ung-bo-sa%e1%b9%83yutta-nikaya-bo-moi/">Kinh Tương Ưng Bộ &#8211; Saṃyutta Nikāya -Tam Tạng Thánh Điển Phật Giáo Việt Nam</a> appeared first on <a href="https://tangkinhcac.org">Tàng Kinh Các</a>.</p>
]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[
<p class="has-text-align-center wp-block-paragraph">VIỆN&nbsp;NGHIÊN CỨU&nbsp;PHẬT HỌC&nbsp;VIỆT NAM<br>TAM TẠNG&nbsp;THÁNH ĐIỂN&nbsp;PHẬT GIÁO VIỆT NAM<br><mark style="background-color:rgba(0, 0, 0, 0);color:#cf2e2e" class="has-inline-color"><strong>KINH&nbsp;TƯƠNG ƯNG BỘ</strong><br><strong>SAṂYUTTA NIKĀYA</strong></mark><br>DỊCH GIẢ:&nbsp;HÒA THƯỢNG&nbsp;THÍCH&nbsp;MINH CHÂU<br>NHÀ XUẤT BẢN HỒNG ĐỨC 2022<br><a href="https://thuvienhoasen.org/images/file/xFYCYWXK2ggBAClN/kinh-tu-o-ng-u-ng-bo-.jpg"></a><br>\</p>



<figure class="wp-block-image aligncenter size-full is-resized"><img decoding="async" width="300" height="426" src="https://tangkinhcac.org/wp-content/uploads/2026/02/kinh-tu-o-ng-u-ng-bo-.jpg" alt="" class="wp-image-429" style="width:488px;height:auto" srcset="https://tangkinhcac.org/wp-content/uploads/2026/02/kinh-tu-o-ng-u-ng-bo-.jpg 300w, https://tangkinhcac.org/wp-content/uploads/2026/02/kinh-tu-o-ng-u-ng-bo--211x300.jpg 211w" sizes="(max-width: 300px) 100vw, 300px" /></figure>



<p class="wp-block-paragraph"></p>



<p class="has-text-align-center wp-block-paragraph">&nbsp;<strong>LỜI&nbsp;CHỨNG MINH</strong></p>



<p class="wp-block-paragraph">Nam-mô&nbsp;Bản Sư&nbsp;Thích-ca Mâu-ni&nbsp;Phật</p>



<p class="wp-block-paragraph">Trong Kỉnh&nbsp;Hoa Nghiêm&nbsp;có ghi: &#8220;Phật dĩ&nbsp;nhất nhất&nbsp;thân, xứ xứ chuyển pháp /沥〃&#8221;（佛以一一身，處處轉法輪）,nghía là&nbsp;đức Phật&nbsp;luôn dùng tất cả&nbsp;hóa thân&nbsp;của mình, ở&nbsp;mọi nơi&nbsp;mọi chốn&nbsp;chuyển bánh xe pháp. Thật&nbsp;hoan hỷ,&nbsp;tinh thần&nbsp;chuyển bánh xe pháp&nbsp;của&nbsp;đức Phật&nbsp;đã và đang được&nbsp;chư Tôn&nbsp;đức&nbsp;Hội đồng&nbsp;Tri sự&nbsp;Giáo hội Phật giáo Việt Nam&nbsp;triển khai&nbsp;một cách&nbsp;hiệu quả.&nbsp;Đặc biệt, trên&nbsp;phương diện&nbsp;hoăng truyên kinh điên,&nbsp;chư Tôn&nbsp;đức đã có những định hướng&nbsp;đúng đắn&nbsp;cho Viện&nbsp;Nghiên cứu&nbsp;Phật học&nbsp;Việt Nam&nbsp;tiến hành&nbsp;phiên dịch, san định, ấn tống Kinh, Luật, Luận, Sớ giải có nguồn gốc&nbsp;từ tạng&nbsp;Pali, Sanskrit, Hán cổ và các&nbsp;ngôn ngữ&nbsp;khác&#8230;</p>



<p class="wp-block-paragraph">Khi&nbsp;nghiên cứu, hoằng&nbsp;truyền kinh&nbsp;điển, nhà Phật&nbsp;thường có&nbsp;câu: DĩThánh giáo vi minh cảnh chiêu kiên&nbsp;tự tâm, dĩ&nbsp;tự tâm&nbsp;vi trí đăng chiêu kinh u chr （以 聖教爲明鏡照見自心，以自心爲智燈照經幽旨）,nghĩa là lấy&nbsp;Phật pháp&nbsp;làm tâm&nbsp;gương sáng&nbsp;soi vào&nbsp;tự tâm, lây&nbsp;tự tâm&nbsp;làm&nbsp;ngọn đèn&nbsp;trí soi tỏ chô&nbsp;thâm sâu&nbsp;của kinh điên. Những&nbsp;Phật sự&nbsp;được&nbsp;chư Tôn&nbsp;đức trong Viện&nbsp;Nghiên cứu&nbsp;Phật học&nbsp;Việt Nam&nbsp;đã và đang&nbsp;thực hiện, thực sự là những&nbsp;việc làm&nbsp;trân quý. Việc ấy không chỉ làm sáng&nbsp;bản tâm&nbsp;của mỗi&nbsp;hành giả&nbsp;nghiên cứu&nbsp;mà còn&nbsp;chuyển hóa&nbsp;lời Phật dạy&nbsp;một cách&nbsp;dễ hiểu, dễ học, dễ hành, gần gũi với cuộc sống đời thường. Thông qua đó, môi&nbsp;hành giả&nbsp;có được cách tiêp cận,&nbsp;tu tập,&nbsp;thực hành&nbsp;lời Phật dạy,&nbsp;thành tựu&nbsp;nhiều kết quả hơn.</p>



<p class="wp-block-paragraph">Từ việc&nbsp;nghiên cứu&nbsp;kinh điển, nhìn lại&nbsp;Phật giáo Việt Nam,&nbsp;chúng ta&nbsp;mới thấy,&nbsp;Phật giáo Việt Nam&nbsp;với chiều dài&nbsp;lịch sử&nbsp;trên dưới 2000 năm&nbsp;đồng hành&nbsp;cùng dân&nbsp;tộc, đã tạo nên những&nbsp;giá trị&nbsp;Phật giáo&nbsp;đặc biệt, đóng&nbsp;vai trò&nbsp;trụ cột trong việc&nbsp;gìn giữ&nbsp;nền&nbsp;văn hóa&nbsp;Việt&nbsp;thời kỳ&nbsp;1000 năm Bắc thuộc, làm cho dân tộc&nbsp;Việt Nam&nbsp;trở nên vĩ đại nhất&nbsp;trong lịch sử&nbsp;phong kiến&nbsp;nước nhà vào&nbsp;thời đại&nbsp;Lý &#8211; Trần, vẫn đang&nbsp;tiếp tục&nbsp;đồng hành&nbsp;cùng đất nước trong&nbsp;thời kỳ&nbsp;hội nhập với&nbsp;phương châm&nbsp;&#8220;Đạo pháp &#8211; Dân tOc.&#8221; Chính vì vậy? những&nbsp;Phật sự&nbsp;của&nbsp;chư Tôn&nbsp;đức trong Viện&nbsp;Nghiên cứu&nbsp;Phật học&nbsp;Việt Nam&nbsp;đang&nbsp;thực hiện&nbsp;có&nbsp;ý nghĩa&nbsp;hét sức quan trọng trong việc “kế vãng khai lai, truyên trì đạo mạch&#8221;, không chỉ làm cho&nbsp;Phật pháp&nbsp;xương minh, trường ton ở the gian mà còn góp phan làm cho&nbsp;Phật giáo Việt Nam&nbsp;tiếp nối&nbsp;truyền thống&nbsp;tốt đẹp&nbsp;từ ngàn xua, phát triển lên một tầm cao mới.&nbsp;Hy vọng&nbsp;mỗi&nbsp;hành giả&nbsp;chúng ta&nbsp;nỗ lực&nbsp;hơn nữa để&nbsp;thành tựu&nbsp;giải thoát&nbsp;và&nbsp;hoàn thành&nbsp;sứ mệnh &#8220;Tác&nbsp;Như Lai sứ, hành&nbsp;Như Lai&nbsp;sự.&#8221;</p>



<p class="wp-block-paragraph">Nguyện câu&nbsp;Phật nhật&nbsp;tăng huy,&nbsp;Pháp luân&nbsp;thường chuyên, thê giới hòa bình,&nbsp;nhân dân&nbsp;an lạc.</p>



<p class="wp-block-paragraph">Nam-mố&nbsp;Hoan Hỷ&nbsp;Tạng Bồ-tát, tác&nbsp;đại chứng&nbsp;minh.</p>



<p class="wp-block-paragraph">VesakLiên Hợp Quốc, PL.2563 &#8211; DL.2019<br><strong><em>Trưởng lão&nbsp;Hòa thượng&nbsp;THÍCH PHỔ TUỆ</em></strong><br>(Pháp chủ&nbsp;Giáo hội Phật giáo Việt Nam<br><br><a href="https://thuvienhoasen.org/images/file/sUZyajzK2ggBArAW/screenshot-248-.png"></a><a href="https://thuvienhoasen.org/images/file/iACRdTzK2ggBAq4N/screenshot-249-.png"></a></p>



<p class="has-text-align-center wp-block-paragraph"><strong>LỜI&nbsp;GIỚI THIỆU</strong></p>



<p class="wp-block-paragraph"><br>Thay mặt&nbsp;Hội đồng&nbsp;Trị&nbsp;sự Giáo&nbsp;hội&nbsp;Phật giáo Việt Nam, tôi&nbsp;tán dương&nbsp;Hội đồng&nbsp;Quản trị Viện&nbsp;Nghiên cứu&nbsp;Phật học&nbsp;Việt Nam,&nbsp;đặc biệt&nbsp;là Ban&nbsp;Biên tập&nbsp;<em>Tam tạng&nbsp;Thánh điển&nbsp;Phật giáo Việt Nam</em>&nbsp;đã&nbsp;hoan hỷ&nbsp;đảm&nbsp;trách nhiệm&nbsp;vụ&nbsp;phiên dịch,&nbsp;biên tập&nbsp;và&nbsp;ấn hành&nbsp;bộ&nbsp;Thánh điển&nbsp;thiêng liêng&nbsp;này.<br>Phiên dịch&nbsp;Kinh, Luật, Luận từ các&nbsp;ngôn ngữ&nbsp;Phật học&nbsp;(Pāli, Sanskrit, Hán cổ) ra tiếng Việt là&nbsp;trách nhiệm&nbsp;cao quý của Viện&nbsp;Nghiên cứu&nbsp;Phật học&nbsp;Việt Nam&nbsp;(VNCPHVN) do&nbsp;Trưởng lão&nbsp;Hòa thượng&nbsp;Thích&nbsp;Minh Châu&nbsp;thành lập&nbsp;năm 1989, nhằm&nbsp;đáp ứng&nbsp;nhu cầu&nbsp;nghiên cứu,&nbsp;học hỏi&nbsp;và&nbsp;thực tập&nbsp;Phật pháp&nbsp;của hàng triệu&nbsp;Tăng Ni,&nbsp;Phật tử&nbsp;Việt Nam&nbsp;trong và ngoài nước.<br><br><strong>1. Về&nbsp;thuật ngữ</strong><br><br>Tôi tán đồng cách&nbsp;Hội đồng&nbsp;Quản trị VNCPHVN thay đổi cụm từ “Đại&nbsp;tạng kinh&nbsp;Việt Nam”, vốn chịu&nbsp;ảnh hưởng&nbsp;từ cách đặt tựa&nbsp;tác phẩm&nbsp;của&nbsp;Phật giáo Trung Quốc, thành “<em>Tam tạng&nbsp;Thánh điển&nbsp;Phật giáo Việt Nam</em>”, nhằm&nbsp;thể hiện&nbsp;bản sắc&nbsp;văn học&nbsp;Phật giáo Việt Nam,&nbsp;đồng thời&nbsp;thích ứng&nbsp;với cách đặt tên&nbsp;phổ biến&nbsp;của&nbsp;cộng đồng&nbsp;Phật giáo&nbsp;thế giới&nbsp;hiện nay.<br><br>Khái niệm “Đại tạng kinh” chỉ đề cập đến “Kinh tạng” (P.&nbsp;<em>Sutta</em>&nbsp;<em>Piṭaka</em>, H. 經蔵) tức kho tàng&nbsp;Chân lý, trong khi khái niệm “Tam tạng&nbsp;Thánh điển&nbsp;Phật giáo” có nội hàm rộng hơn, bao quát hơn; đó là ngoài kho tàng&nbsp;Chân lý&nbsp;còn có kho tàng&nbsp;Đạo đức&nbsp;(P.&nbsp;<em>Vinaya</em>&nbsp;<em>Piṭaka</em>, H. 律蔵,&nbsp;Luật tạng), kho tàng&nbsp;Triết học&nbsp;tâm (P.&nbsp;<em>Abhidhamma</em>&nbsp;<em>Piṭaka</em>, H. 論蔵,&nbsp;Luận tạng),&nbsp;Văn học&nbsp;Chú giải&nbsp;(P.&nbsp;<em>Aṭṭhakathā</em>),&nbsp;Văn học&nbsp;Phụ&nbsp;chú giải&nbsp;(P.&nbsp;<em>Ṭīkā</em>),&nbsp;Văn học&nbsp;Tục tạng và các&nbsp;tác phẩm&nbsp;Phật học&nbsp;Việt Nam.<br><br><em>Tam tạng&nbsp;Thánh điển&nbsp;Phật giáo Việt Nam</em>&nbsp;bao gồm&nbsp;các tuyển tập&nbsp;Tam tạng&nbsp;Phật giáo&nbsp;Thượng Tọa bộ&nbsp;(ảnh hưởng&nbsp;các nước&nbsp;Ấn Độ,&nbsp;Tích Lan, Miến Điện, Thái Lan, Lào, Campuchia),&nbsp;Tam tạng&nbsp;Phật giáo&nbsp;Bộ phái,&nbsp;Tam tạng&nbsp;Phật giáo&nbsp;Đại thừa&nbsp;(ảnh hưởng&nbsp;Việt Nam,&nbsp;Trung Quốc,&nbsp;Nhật Bản,&nbsp;Đại Hàn,&nbsp;Tây Tạng),&nbsp;Văn học&nbsp;Sớ giải,&nbsp;Văn học&nbsp;Tông phái&nbsp;Phật giáo&nbsp;và&nbsp;Văn học&nbsp;Phật giáo Việt Nam, v.v&#8230;<br><br><strong>2. Về&nbsp;Văn học sử&nbsp;Phật giáo</strong><br><br>“Thánh điển Phật giáo” là khái niệm chỉ cho tuyển tập những lời dạy của&nbsp;đức Phật&nbsp;trong 45 năm (theo&nbsp;Phật giáo&nbsp;Nam truyền) hay 49 năm (theo&nbsp;Phật giáo&nbsp;Bắc truyền)&nbsp;truyền bá&nbsp;Chân lý&nbsp;(P.&nbsp;<em>Dhamma</em>, S.&nbsp;<em>Dharma</em>, H. 法, Pháp),&nbsp;Đạo đức&nbsp;(P=S.&nbsp;<em>Vinaya</em>, H. 戒律,&nbsp;Giới luật), và Các&nbsp;pháp siêu&nbsp;việt (P.&nbsp;<em>Abhidhamma</em>, S.&nbsp;<em>Abhidharma</em>, H. 無比法,&nbsp;Vô tỷ pháp).<br><br>Thánh điển&nbsp;Phật giáo&nbsp;được&nbsp;truyền thừa&nbsp;qua&nbsp;hình thức&nbsp;khẩu truyền, được cho là bằng&nbsp;ngôn ngữ&nbsp;Pāli từ thời&nbsp;đức Phật&nbsp;(khoảng thế kỷ VI-V TTL) và&nbsp;lưu truyền&nbsp;qua ba lần&nbsp;kết tập kinh điển&nbsp;tại&nbsp;Ấn Độ. Đến&nbsp;đại hội kết tập&nbsp;kinh điển&nbsp;lần thứ tư tại&nbsp;Tích Lan&nbsp;(khoảng thế kỷ I TTL),&nbsp;Thánh điển&nbsp;được viết trên&nbsp;lá bối&nbsp;và&nbsp;lưu truyền&nbsp;đến ngày nay. Hai&nbsp;tác phẩm&nbsp;Đảo sử&nbsp;(<em>Dīpavaṃsa</em>) và&nbsp;Đại sử&nbsp;(<em>Mahāvaṃsa</em>) đều&nbsp;ghi nhận&nbsp;rằng trong&nbsp;triều đại&nbsp;Valagamba (29-17 TTL) tại Anuradhapura,&nbsp;Tích Lan, các&nbsp;cao Tăng&nbsp;thuộc làu&nbsp;Tam tạng&nbsp;Pāli bắt đầu viết kinh Phật trên&nbsp;lá bối&nbsp;để&nbsp;giữ gìn&nbsp;và&nbsp;truyền bá&nbsp;lời Phật dạy&nbsp;một cách&nbsp;hiệu quả&nbsp;hơn.<br><br>Theo các nhà&nbsp;Đại thừa, cũng vào thế kỷ I (TTL) trở đi,&nbsp;kinh điển Đại thừa&nbsp;bằng tiếng Sanskrit&nbsp;lần lượt&nbsp;ra đời. Ngoài các&nbsp;bản kinh&nbsp;Đại thừa&nbsp;quan trọng&nbsp;tồn tại&nbsp;với ấn bản Sanskrit, phần lớn&nbsp;văn học&nbsp;Phật giáo&nbsp;Đại thừa&nbsp;được lưu giữ qua các bản dịch Hán cổ, được các vua chúa,&nbsp;đại tín&nbsp;chủ&nbsp;lưu bố&nbsp;qua các bản chép tay, khắc trên đá, khắc trên gỗ, và về sau&nbsp;biên tập&nbsp;thành các&nbsp;Đại tạng kinh&nbsp;mang tầm vóc&nbsp;quốc gia&nbsp;ở Trung Hoa; còn tiếng&nbsp;Tây Tạng&nbsp;cổ, được&nbsp;biên tập&nbsp;thành Kinh&nbsp;điển&nbsp;Phật giáo Tây Tạng&nbsp;(<em>Tibetan</em>&nbsp;<em>Buddhist</em>&nbsp;<em>Canon</em>) gồm hai tạng Kangyur (Kinh &#8211;&nbsp;Luật tạng&nbsp;gồm 100 bộ) và Tengyur (Luận tạng&nbsp;gồm 213 bộ).<br><br><strong>3. Về&nbsp;phương diện&nbsp;lịch sử</strong><br><br>Hơn 10 thế kỷ (từ thế kỷ I-X) bị&nbsp;Trung Quốc&nbsp;đô hộ, người&nbsp;Việt Nam&nbsp;đã&nbsp;sử dụng&nbsp;Đại tạng kinh&nbsp;Trung Hoa bằng Hán cổ và&nbsp;cho đến&nbsp;những thế kỷ sau. Giai đoạn 80 năm Pháp thuộc (1867-1945), người Việt lại buộc phải&nbsp;sử dụng&nbsp;tiếng Việt La-tinh hóa nên chữ Hán Nôm mất dần&nbsp;vị trí&nbsp;ngôn ngữ&nbsp;chính thống. Đứng trước nhu cầu&nbsp;thích nghi&nbsp;với quốc ngữ mới, các&nbsp;cao Tăng&nbsp;Việt Nam&nbsp;quyết định&nbsp;phiên dịch&nbsp;kinh điển&nbsp;từ Hán cổ ra tiếng Việt La-tinh để&nbsp;phổ biến&nbsp;lời Phật dạy&nbsp;rộng rãi&nbsp;hơn, vì&nbsp;đại đa số&nbsp;người Việt trong thời Pháp thuộc không đọc được chữ Hán Nôm.<br><br><em>Tam tạng&nbsp;Thánh điển&nbsp;Phật giáo Việt Nam</em>&nbsp;được hình thành qua 3 giai đoạn:<br>Giai đoạn 1 bắt đầu từ 1950 đến 1975, với đỉnh cao là sự ra đời của&nbsp;Hội đồng&nbsp;Phiên dịch&nbsp;Kinh điển&nbsp;của&nbsp;Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất&nbsp;(GHPGVNTN) vào năm 1973 và ngưng&nbsp;hoạt động&nbsp;vào năm 1975. Các bậc&nbsp;Tôn túc&nbsp;đóng góp&nbsp;nổi bật&nbsp;trong việc&nbsp;phiên dịch&nbsp;kinh điển&nbsp;từ Hán cổ sang tiếng Việt trong giai đoạn này có&nbsp;Hòa thượng&nbsp;Thích&nbsp;Trí Tịnh&nbsp;(Ma-ha Bát-nhã,&nbsp;Hoa Nghiêm,&nbsp;Đại Bảo&nbsp;Tích, Niết-bàn,&nbsp;Pháp Hoa);&nbsp;Hòa thượng&nbsp;Thích&nbsp;Trí Nghiêm&nbsp;(Đại Bát-nhã); và chư vị&nbsp;Hòa thượng&nbsp;Thích Thanh Từ,&nbsp;Hòa thượng&nbsp;Thích Bửu Huệ,&nbsp;Hòa thượng&nbsp;Thích&nbsp;Thiền Tâm&nbsp;(Trung A-hàm, Tăng nhất A-hàm),&nbsp;Hòa thượng&nbsp;Thích Thiện Siêu,&nbsp;Hòa thượng&nbsp;Thích Tuệ Sỹ,&nbsp;Thượng tọa&nbsp;Thích&nbsp;Trí Thành&nbsp;(Trường A-hàm, Tạp A-hàm), v.v…<br><br>Giai đoạn 2 bắt đầu từ 1975 đến 2017, với sự ra đời của các bản dịch từ Pāli sang tiếng Việt. Đóng góp nổi trội của&nbsp;Hòa thượng&nbsp;Thích&nbsp;Minh Châu&nbsp;là&nbsp;phiên dịch&nbsp;hầu hết&nbsp;Kinh tạng&nbsp;Pāli.&nbsp;Hòa thượng&nbsp;Hộ Tông,&nbsp;Hòa thượng&nbsp;Bửu Chơn,&nbsp;Hòa thượng&nbsp;Giới Nghiêm&nbsp;phiên dịch&nbsp;Luật tạng&nbsp;Pāli và&nbsp;Hòa thượng&nbsp;Tịnh Sự dịch&nbsp;Luận tạng&nbsp;Pāli.&nbsp;Gần đây,&nbsp;Thượng tọa&nbsp;Chánh Thân đã dịch mới một số kinh trong&nbsp;Tiểu bộ&nbsp;và&nbsp;Luật tạng&nbsp;Pāli.<br><br>Sau ba thập niên&nbsp;phiên dịch&nbsp;độc lập, đến năm 1991,&nbsp;Hội đồng&nbsp;Chỉ đạo&nbsp;Phiên dịch&nbsp;và&nbsp;Ấn hành&nbsp;Đại tạng kinh&nbsp;Việt Nam&nbsp;chính thức&nbsp;được&nbsp;Giáo hội Phật giáo Việt Nam&nbsp;(GHPGVN)&nbsp;thành lập. Từ đó&nbsp;đến nay, VNCPHVN chỉ tái bản được&nbsp;Kinh tạng&nbsp;Nam truyền, gồm 13 tập và một vài tập A-hàm. Trong&nbsp;thời gian&nbsp;này và trước đó,&nbsp;Hòa thượng&nbsp;Thích&nbsp;Trí Quang&nbsp;đã dịch hơn 25 tập Kinh, Luật, Luận;&nbsp;Hòa thượng&nbsp;Thích Đỗng Minh đã dịch một số bộ Luật và hướng dẫn, khuyến khích&nbsp;chư Tăng&nbsp;Ni tại Nha Trang&nbsp;phiên dịch&nbsp;các bộ Luật của các&nbsp;bộ phái Phật giáo, góp phần làm&nbsp;phong phú&nbsp;kho tàng&nbsp;Luật tạng&nbsp;Phật giáo Việt Nam.<br><br>Trong hai thập niên, 1994-2014,&nbsp;Hội đồng&nbsp;Dịch thuật do&nbsp;Hòa thượng&nbsp;Thích&nbsp;Tịnh Hạnh&nbsp;khởi xướng và&nbsp;bảo trợ, có công tổng hợp,&nbsp;biên tập&nbsp;và xuất bản các&nbsp;công trình&nbsp;dịch thuật đã có,&nbsp;đồng thời&nbsp;dịch mới các Kinh, Luật, Luận quan trọng khác để hình thành&nbsp;Linh Sơn&nbsp;Pháp bảo&nbsp;Đại tạng kinh.<br><br>Giai đoạn 3 từ năm 2017 trở đi. Vào giữa năm 2018,&nbsp;Hội đồng&nbsp;Quản trị VNCPHVN&nbsp;thành lập&nbsp;Ban&nbsp;Biên tập&nbsp;<em>Tam tạng&nbsp;Thánh điển&nbsp;Phật giáo Việt Nam</em>, tiến hành&nbsp;đối chiếu&nbsp;văn bản song ngữ,&nbsp;biên tập&nbsp;tiếng Việt, làm tổng&nbsp;mục lục&nbsp;mới, với&nbsp;mục tiêu&nbsp;phiên dịch&nbsp;hoàn tất,&nbsp;biên tập&nbsp;và xuất bản&nbsp;<em>Tam tạng&nbsp;Thánh điển&nbsp;Phật giáo Việt Nam</em>, gồm Ba tạng&nbsp;Thượng Tọa bộ, Ba tạng&nbsp;Bộ phái&nbsp;và Ba tạng&nbsp;Đại thừa.&nbsp;Đồng thời,&nbsp;Văn học&nbsp;Sớ giải, Tục tạng,&nbsp;Văn học&nbsp;tông phái&nbsp;Phật giáo Trung Quốc,&nbsp;Nhật Bản&nbsp;và&nbsp;Văn học&nbsp;Phật giáo Việt Nam&nbsp;cũng sẽ được&nbsp;thực hiện&nbsp;tiếp theo.&nbsp;Công trình&nbsp;sưu tầm,&nbsp;phiên dịch, hiệu chú và&nbsp;ấn hành&nbsp;này&nbsp;dự kiến&nbsp;sẽ&nbsp;hoàn thành&nbsp;trong vòng&nbsp;10 năm hoặc lâu hơn nữa.<br><br><strong>4. Về bản sắc&nbsp;quốc gia</strong><br><br>Thánh điển&nbsp;Phật giáo&nbsp;được xem là&nbsp;quốc bảo&nbsp;của nhiều&nbsp;quốc gia&nbsp;theo&nbsp;đạo Phật. Các&nbsp;quốc gia&nbsp;thuộc hai&nbsp;truyền thống&nbsp;Phật giáo&nbsp;Nam truyền và Bắc truyền đều có&nbsp;Thánh điển&nbsp;Phật giáo&nbsp;bằng tiếng mẹ đẻ của họ từ lâu. Tại các nước&nbsp;Phật giáo&nbsp;Nam truyền như&nbsp;Tích Lan, Miến Điện, Thái Lan, Lào, Campuchia, ngoài ấn bản&nbsp;Tam tạng&nbsp;Thánh điển&nbsp;Pāli, đều có bản dịch&nbsp;Thánh điển&nbsp;Phật giáo&nbsp;bằng quốc ngữ của họ.<br><br>Trong các nước&nbsp;Phật giáo&nbsp;Đại thừa,&nbsp;Trung Quốc&nbsp;là nước đầu tiên có Khai&nbsp;Bảo tạng&nbsp;được khắc gỗ từ năm 971 đến 983 thời nhà Bắc Tống. Các nước&nbsp;Phật giáo&nbsp;Đại thừa&nbsp;chịu&nbsp;ảnh hưởng&nbsp;từ&nbsp;Phật giáo Trung Quốc&nbsp;đều có ấn bản&nbsp;Đại tạng kinh&nbsp;chữ Hán theo phong cách riêng.<br><br>Đại Hàn&nbsp;(1011-1082) có ấn bản Cao Ly&nbsp;Đại tạng kinh&nbsp;(高麗大蔵經), hay còn gọi là&nbsp;Bát vạn&nbsp;Đại tạng kinh&nbsp;(八萬大蔵經), có cấu trúc&nbsp;mục lục&nbsp;khác với các&nbsp;Đại tạng kinh&nbsp;Trung Quốc, gồm&nbsp;Tam tạng&nbsp;Đại thừa&nbsp;(các bản văn 1-646),&nbsp;Tam tạng&nbsp;Tiểu thừa&nbsp;(các bản văn 647-978),&nbsp;Thánh Hiền&nbsp;Phật ký&nbsp;lục (các bản văn 979-1087) và các&nbsp;tác phẩm&nbsp;khác (1088-1498), trong đó, các bản văn 1402-1405 là các trước tác của&nbsp;Phật giáo&nbsp;Đại Hàn.<br><br>Nhật Bản&nbsp;có&nbsp;Thiên Hải&nbsp;tạng (天海蔵)đầu tiên được&nbsp;thực hiện&nbsp;từ năm 1637 đến 1648. Đến đầu thế kỷ XX, Đại Chánh tân tu&nbsp;Đại tạng kinh&nbsp;(大正新脩大蔵經, 1924-1934) do các&nbsp;học giả&nbsp;Takakusu Junjiro, Watanabe Umiakira và Ono Genmyo&nbsp;biên tập, gồm 100 tập, 3.493 bộ, 13.520 quyển, trong đó, 55 tập đầu gồm Kinh, Luật, Luận, Sớ giải, các&nbsp;tông phái&nbsp;Phật giáo Trung Quốc,&nbsp;Nhật Bản. Đây là ấn bản&nbsp;Đại tạng kinh&nbsp;bằng chữ Hán hoàn chỉnh nhất, có tính&nbsp;hệ thống&nbsp;về phân loại và chấm câu tốt nhất.<br><br>Phật giáo Tây Tạng&nbsp;cũng có&nbsp;Đại tạng kinh&nbsp;riêng khá sớm, từ năm 1290 đến 1364.&nbsp;Đại tạng&nbsp;này bao hàm hầu hết các bản luận Sanskrit của các&nbsp;bộ phái Phật giáo&nbsp;Ấn Độ, có nguồn gốc từ Trường&nbsp;Đại học&nbsp;Nalanda&nbsp;nổi tiếng&nbsp;và một số bản dịch từ tiếng Hán.&nbsp;Đại tạng&nbsp;này được hiệu chỉnh qua các&nbsp;thời kỳ&nbsp;và&nbsp;trở thành&nbsp;kho tàng&nbsp;Pháp bảo Tạng&nbsp;truyền đặc thù, vì nó chứa nhiều bộ&nbsp;mật chú&nbsp;và&nbsp;pháp môn&nbsp;tu&nbsp;bí truyền&nbsp;mà ngày nay không&nbsp;tìm thấy&nbsp;trong các&nbsp;Đại tạng&nbsp;Trung Hoa và các nước khác.<br><br>Tính từ thời điểm Pháp thuộc năm 1867 đến 2019, khi tiếng Hán &#8211; Việt&nbsp;trở thành&nbsp;tiếng Việt La-tinh hóa, 152 năm đã&nbsp;trôi qua, hoặc tính từ thời điểm&nbsp;Hội đồng&nbsp;Phiên dịch&nbsp;Kinh điển&nbsp;của GHPGVNTN hình thành từ năm 1973 cũng đã&nbsp;trải qua&nbsp;46 năm,&nbsp;<em>Tam tạng&nbsp;Thánh điển&nbsp;Phật giáo Việt Nam</em>&nbsp;chỉ mới&nbsp;hoàn tất&nbsp;một nửa chặng đường&nbsp;phiên dịch.<br><br>Bên cạnh việc&nbsp;trân trọng&nbsp;những&nbsp;thành quả&nbsp;dịch thuật của các bậc Tôn đức hữu công thuộc các&nbsp;thế hệ&nbsp;trước, GHPGVN cần có&nbsp;<em>Tam tạng&nbsp;Thánh điển&nbsp;Phật giáo Việt Nam</em>&nbsp;hoàn chỉnh, không chỉ&nbsp;thể hiện&nbsp;bản sắc&nbsp;văn hóa&nbsp;Phật giáo Việt Nam&nbsp;mà còn giúp cho người&nbsp;Việt Nam&nbsp;không biết các&nbsp;cổ ngữ&nbsp;Phật giáo, có thể tiếp cận&nbsp;lời Phật dạy&nbsp;bằng tiếng Việt, nhằm&nbsp;đạt được&nbsp;trí tuệ&nbsp;do nghe&nbsp;chân lý&nbsp;Phật (P.&nbsp;<em>Sutamayapaññā</em>,&nbsp;Văn tuệ),&nbsp;trí tuệ&nbsp;do&nbsp;nghiền ngẫm&nbsp;chân lý&nbsp;Phật (P.&nbsp;<em>Cintāmayapaññā</em>,&nbsp;Tư tuệ) và trên nền tảng này,&nbsp;tiếp tục&nbsp;đạt được&nbsp;trí tuệ&nbsp;do&nbsp;thực hành&nbsp;thiền chỉ,&nbsp;thiền quán&nbsp;(P.&nbsp;<em>Bhāvanāmayapaññā</em>, Tu tuệ).<br><br>Để tạo nên bản sắc&nbsp;văn hóa&nbsp;tâm linh&nbsp;Phật giáo Việt Nam&nbsp;qua&nbsp;<em>Tam tạng&nbsp;Thánh điển&nbsp;Phật giáo Việt Nam</em>, tôi tha thiết kêu gọi quý&nbsp;Tăng Ni&nbsp;và&nbsp;Phật tử&nbsp;tham gia&nbsp;vào Ban&nbsp;Phiên dịch&nbsp;và Ban&nbsp;Biên tập&nbsp;<em>Tam tạng&nbsp;Thánh điển&nbsp;Phật giáo Việt Nam</em>, góp phần&nbsp;phiên dịch&nbsp;và xuất bản hoàn chỉnh&nbsp;<em>Tam tạng&nbsp;Thánh điển&nbsp;Phật giáo Việt Nam</em>.&nbsp;Đồng thời, tôi tha thiết kêu gọi quý mạnh thường quân và quý&nbsp;Phật tử&nbsp;phát tâm&nbsp;đóng góp&nbsp;tịnh tài&nbsp;để&nbsp;công trình&nbsp;phiên dịch,&nbsp;biên tập&nbsp;và xuất bản&nbsp;<em>Tam tạng&nbsp;Thánh điển&nbsp;Phật giáo Việt Nam</em>&nbsp;sớm&nbsp;thành tựu&nbsp;mỹ mãn.<br><br>Xuất bản&nbsp;<em>Tam tạng&nbsp;Thánh điển&nbsp;Phật giáo Việt Nam</em>&nbsp;không chỉ là niềm mơ ước của&nbsp;Tăng Ni&nbsp;và&nbsp;Phật tử&nbsp;Việt Nam&nbsp;mà còn tạo&nbsp;thuận duyên&nbsp;cho 97 triệu người&nbsp;Việt Nam&nbsp;trong nước và hơn 5 triệu người&nbsp;Việt Nam&nbsp;ở hải ngoại có cơ hội học Phật,&nbsp;tu Phật&nbsp;bằng tiếng Việt, để&nbsp;diệt trừ&nbsp;tham ái,&nbsp;sân hận,&nbsp;si mê,&nbsp;chấp thủ, vốn là nhân khổ đau,&nbsp;đồng thời, trải nghiệm an vui,&nbsp;hạnh phúc&nbsp;bây giờ và tại đây, góp phần làm cho Tổ quốc&nbsp;Việt Nam&nbsp;ngày càng giàu, mạnh và phát triển&nbsp;bền vững.<br></p>



<p class="has-text-align-right wp-block-paragraph">Vesak Liên Hợp Quốc, PL.2563 – DL.2019<br><strong><em>Hòa thượng&nbsp;THÍCH THIỆN NHƠN</em></strong><br>(Chủ tịch&nbsp;Hội đồng&nbsp;Trị sự GHPGVN)<br><br></p>



<p class="has-text-align-center wp-block-paragraph"><strong>DẪN&nbsp;LUẬN KINH&nbsp;TƯƠNG ƯNG BỘ</strong></p>



<p class="wp-block-paragraph"><em>Tương ưng bộ&nbsp;</em>(<em>Saṃyutta Nikāya</em>)<em>&nbsp;</em>là&nbsp;bộ kinh&nbsp;thứ ba trong năm bộ&nbsp;<em>Nikāya</em>&nbsp;của&nbsp;Phật giáo&nbsp;Thượng Tọa bộ&nbsp;(Theravāda). Theo&nbsp;tác phẩm<em>Diệu pháp&nbsp;yếu lược&nbsp;</em>(<em>Saddhammasaṅgaha</em>) của Ngài Dhammakitti Mahāsāmi, việc&nbsp;giữ gìn&nbsp;và&nbsp;truyền tụng<em>Tương ưng bộ&nbsp;</em>do&nbsp;Tôn giả&nbsp;Mahākassapa và nhóm&nbsp;đệ tử&nbsp;của Ngài&nbsp;thực hiện.<a href="http://vncphathoc.com/dai-tang-kinh-viet-nam/kinh-tuong-ung-bo/dan-luan-kinh-tuong-ung-bo.html#_ftn1"><sup>[1]</sup></a></p>



<p class="wp-block-paragraph"><strong>1. Cấu trúc, những điểm đặc thù và&nbsp;vấn đề&nbsp;truyền bản</strong></p>



<p class="wp-block-paragraph">Theo&nbsp;<em>Chú giải</em><em>Tương ưng bộ</em>&nbsp;của&nbsp;Luận sư&nbsp;Buddhaghosa trong&nbsp;tác phẩm<em>Sāratthappakāsinī</em>: “Ở đây,&nbsp;<em>Tương ưng bộ</em>&nbsp;được xác định có năm thiên:&nbsp;<em>Thiên Có kệ</em>,&nbsp;<em>Thiên Nhân&nbsp;duyên</em>,&nbsp;<em>Thiên Uẩn</em>,&nbsp;<em>Thiên&nbsp;Sáu xứ</em>,&nbsp;<em>Thiên Đại</em>. Số lượng kinh&nbsp;gồm có&nbsp;7.762&nbsp;bài kinh. Những&nbsp;bài kinh&nbsp;đó được&nbsp;kết tập&nbsp;vào từng nhóm&nbsp;tương ưng&nbsp;với nhau<em>.</em>”<a href="http://vncphathoc.com/dai-tang-kinh-viet-nam/kinh-tuong-ung-bo/dan-luan-kinh-tuong-ung-bo.html#_ftn2"><sup>[2]</sup></a>&nbsp;Cũng theo Ngài Buddhaghosa,&nbsp;sở dĩ&nbsp;được gọi là “<em>Tương ưng</em>” (<em>Saṃyutta</em>), vì: “Gồm nhiều nhóm tương đồng và&nbsp;liên hệ&nbsp;với nhau, là&nbsp;<em>Tương ưng bộ</em>&nbsp;tôn quý, do&nbsp;đức Phật&nbsp;tự giác&nbsp;ngộ và&nbsp;giảng thuyết, được sinh ra từ Tuệ phân tích.”<a href="http://vncphathoc.com/dai-tang-kinh-viet-nam/kinh-tuong-ung-bo/dan-luan-kinh-tuong-ung-bo.html#_ftn3"><sup>[3]</sup></a></p>



<p class="wp-block-paragraph"><strong>Trước hết, về&nbsp;hình thức&nbsp;trình bày.</strong>&nbsp;Theo&nbsp;truyền thống&nbsp;Phật giáo&nbsp;Theravāda,&nbsp;<em>Tương ưng bộ&nbsp;</em>được sắp xếp và trình bày theo&nbsp;hình thức&nbsp;năm tập hay còn gọi là năm thiên (<em>pañcavagga</em>). Đây là cấu trúc mang tính cội nguồn vì chúng từng&nbsp;xuất hiện&nbsp;trong&nbsp;<em>Chú giải</em>&nbsp;của&nbsp;Luận sư&nbsp;Buddhaghosa. Mặc dù&nbsp;hình thức&nbsp;của&nbsp;bộ kinh&nbsp;có sự thay đổi trong những ấn bản về sau, nhưng cách thức&nbsp;phân chia&nbsp;bộ kinh&nbsp;thành năm phần vẫn được giữ lại bằng những ghi chú&nbsp;cụ thể&nbsp;trong nội dung,&nbsp;tuân thủ&nbsp;theo&nbsp;truyền thống&nbsp;kết tập&nbsp;và san định thuở&nbsp;ban đầu. Ấn bản&nbsp;<em>Tương ưng bộ&nbsp;</em>với nguyên tác Pāli được chuyển thể sang mẫu tự La-tinh (<em>Roman</em><em>Script</em>), do Hội&nbsp;Thánh điển&nbsp;Pāli (PTS)&nbsp;ấn hành&nbsp;từ năm 1884 đến 1898, đã&nbsp;tuân theo&nbsp;hình thức&nbsp;năm thiên này.<br><strong>Thứ hai, về số lượng kinh và sự&nbsp;phân chia&nbsp;các nhóm&nbsp;<em>Tương ưng</em>&nbsp;(<em>Saṃyutta</em>)</strong>. Theo&nbsp;ghi nhận&nbsp;của Ngài Buddhaghosa,&nbsp;<em>Tương ưng bộ&nbsp;</em>có 7.762 kinh. Theo sự kiểm đếm của&nbsp;tác giả&nbsp;Léon Feer (1830-1902) trong ấn bản Pāli do PTS&nbsp;ấn hành&nbsp;thì có 2.889 kinh. Theo sự&nbsp;đối chiếu&nbsp;và tính toán của Bhikkhu Bodhi trong ấn bản năm 2000 thì có 2.904 kinh.<a href="http://vncphathoc.com/dai-tang-kinh-viet-nam/kinh-tuong-ung-bo/dan-luan-kinh-tuong-ung-bo.html#_ftn4"><sup>[4]</sup></a>&nbsp;Trong bản dịch tiếng Việt&nbsp;<em>Tương ưng bộ</em>&nbsp;lần này, số lượng và&nbsp;trật tự&nbsp;kinh được sắp xếp lại&nbsp;tương ứng&nbsp;với bản Pāli của VRI, hay còn gọi là ấn bản của kỳ&nbsp;kiết tập&nbsp;kinh điển&nbsp;lần thứ 6 là 2.854 kinh.<a href="http://vncphathoc.com/dai-tang-kinh-viet-nam/kinh-tuong-ung-bo/dan-luan-kinh-tuong-ung-bo.html#_ftn5"><sup>[5]</sup></a>&nbsp;Như vậy,&nbsp;phải chăng&nbsp;ấn bản&nbsp;<em>Tương ưng bộ&nbsp;</em>hiện đang&nbsp;lưu hành&nbsp;đã bị sót mất nhiều kinh so với nguyên bản có từ thời Ngài Buddhaghosa? Từ sự đối khảo từng đoạn&nbsp;<em>Tương ưng bộ&nbsp;</em>xuất hiện&nbsp;trong bản&nbsp;<em>Chú giải</em>&nbsp;của Ngài Buddhaghosa, Bhikkhu Bodhi đã xác quyết rằng, ấn bản hiện đang&nbsp;lưu hành&nbsp;không bị sót mất.<a href="http://vncphathoc.com/dai-tang-kinh-viet-nam/kinh-tuong-ung-bo/dan-luan-kinh-tuong-ung-bo.html#_ftn6"><sup>[6]</sup></a>&nbsp;Sự sai sót về số lượng kinh theo Bhikkhu Bodhi có thể là do cách tính toán,&nbsp;liên quan đến&nbsp;cách&nbsp;mở rộng&nbsp;hoặc sự tách biệt giữa các&nbsp;bản kinh.&nbsp;Cụ thể&nbsp;như, trên những&nbsp;bản kinh&nbsp;chép bằng lá cọ Ola (<a href="https://en.wikipedia.org/wiki/Palm_leaf_manuscript"><em>Palm Leaf Manuscripts</em></a><a href="https://en.wikipedia.org/wiki/Palm_leaf_manuscript">)</a>, không có các dấu hiệu&nbsp;phân biệt&nbsp;giữa&nbsp;bản kinh&nbsp;này với&nbsp;bản kinh&nbsp;khác.<a href="http://vncphathoc.com/dai-tang-kinh-viet-nam/kinh-tuong-ung-bo/dan-luan-kinh-tuong-ung-bo.html#_ftn7"><sup>[7]</sup></a>&nbsp;Ngay như số lượng các nhóm&nbsp;<em>Tương ưng</em>&nbsp;giữa các truyền bản Pāli cũng có sự khác biệt.&nbsp;<em>Tương ưng bộ&nbsp;</em>theo ấn bản&nbsp;ngôn ngữ&nbsp;Miến Điện (<em>Burmese</em>) có 56 nhóm, thế nhưng ở ấn bản&nbsp;ngôn ngữ&nbsp;Tích Lan&nbsp;(<em>Sinhala</em>) chỉ có 54 nhóm.&nbsp;Sở dĩ&nbsp;có sự sai khác đó là vì trong ấn bản&nbsp;ngôn ngữ&nbsp;Tích Lan, nhóm&nbsp;<em>Tương ưng Minh kiến</em>&nbsp;(<em>Abhisamayasaṃyutta</em>) là phần phụ của nhóm&nbsp;<em>Tương ưng Nhân duyên</em>&nbsp;(<em>Nidānasaṃyutta</em>) và nhóm&nbsp;<em>Tương ưng Thọ</em>&nbsp;(<em>Vedanāsaṃyutta</em>) là phần phụ của nhóm&nbsp;<em>Tương ưng&nbsp;Sáu xứ</em>&nbsp;(<em>Saḷāyatanasaṃyutta</em>).<sup>8</sup><br><strong>Thứ ba, về&nbsp;vai trò&nbsp;và&nbsp;vị trí</strong>.&nbsp;<em>Tương ưng bộ&nbsp;</em>có một&nbsp;vị trí&nbsp;quan trọng và đặc thù trong năm bộ&nbsp;<em>Nikāya</em>. Vì lẽ,&nbsp;dựa trên&nbsp;tiêu chí&nbsp;tương ưng&nbsp;nên tập hợp được nhiều&nbsp;bản kinh&nbsp;có cùng nội dung,&nbsp;tính chất&nbsp;và cùng mối&nbsp;liên hệ&nbsp;vào một nhóm. Nhờ vậy, nội dung chứa đựng trong từng nhóm&nbsp;<em>Tương ưng</em>&nbsp;rất&nbsp;phong phú&nbsp;và&nbsp;sinh động&nbsp;so với những&nbsp;bản kinh&nbsp;khác.&nbsp;Cụ thể&nbsp;như, khi đề cập đến hành hoạt của Vua Pasenadi nước Kosala,&nbsp;<em>Tương ưng&nbsp;Kosala</em>&nbsp;(<em>Kosalasaṃyutta</em>) đã đề cập những nét chính, cô đọng,&nbsp;liên quan đến&nbsp;cuộc đời&nbsp;của vị vua này với nhiều&nbsp;bài kinh&nbsp;ngắn.&nbsp;Tương tự&nbsp;như vậy khi đề cập đến các vị Tỷ-kheo, Tỷ-kheo-ni hay&nbsp;chư thiên, ma quỷ… Nhờ tính tập hợp đó nên&nbsp;bộ kinh&nbsp;đã&nbsp;cung cấp&nbsp;rất nhiều tư liệu&nbsp;rõ ràng,&nbsp;chi tiết, khó có thể&nbsp;tìm thấy&nbsp;trong bốn bộ&nbsp;<em>Nikāya</em>&nbsp;còn lại.&nbsp;Ngoài ra,&nbsp;<em>Tương ưng bộ&nbsp;</em>còn chuyên chở những tư liệu&nbsp;liên quan đến&nbsp;những tín niệm,&nbsp;quan điểm&nbsp;triết học&nbsp;cổ xưa của&nbsp;Ấn Độ,&nbsp;xuất hiện&nbsp;trong các chương như&nbsp;<em>Tương ưng&nbsp;Chư thiên</em>&nbsp;(<em>Devatāsaṃyutta</em>),&nbsp;<em>Tương ưng Sakka</em>&nbsp;(<em>Sakkasaṃyutta</em>),&nbsp;<em>Tương ưng</em><br><em>Thần mây</em>&nbsp;(<em>Valāhakasaṃyutta</em>),&nbsp;<em>Tương ưng Kiến</em>&nbsp;(<em>Diṭṭhisaṃyutta</em>),&nbsp;<em>Tương ưng&nbsp;Nữ nhân</em>&nbsp;(<em>Mātugāmasaṃyutta</em>),&nbsp;<em>Tương ưng&nbsp;Thôn trưởng</em>&nbsp;(<em>Gāmaṇisaṃyutta</em>). Điều&nbsp;đặc biệt&nbsp;đáng&nbsp;lưu tâm&nbsp;trong&nbsp;<em>Tương ưng&nbsp;Nữ nhân</em>&nbsp;(<em>Mātugāmasaṃyutta</em>), có đề cập đến những bổn phận cơ bản của người&nbsp;phụ nữ&nbsp;(<em>Strīdharma</em>)<em>&nbsp;</em>trong&nbsp;xã hội&nbsp;Ấn Độ&nbsp;cổ đại; và trong số những bổn phận đó, có những bổn phận vốn không thuộc về&nbsp;quan điểm&nbsp;của&nbsp;Phật giáo.&nbsp;Cụ thể&nbsp;như&nbsp;bản kinh&nbsp;khá ngắn với&nbsp;tiêu đề&nbsp;là&nbsp;<em>Một&nbsp;</em>(<em>Ekasutta&nbsp;</em>&#8211;&nbsp;<em>S</em>. IV. 246), đề cập đến mối quan hệ giữa nam và nữ,&nbsp;chi tiết&nbsp;gần&nbsp;tương tự&nbsp;với&nbsp;<em>Luật Manu</em>&nbsp;(<em>The Manusmṛiti&nbsp;</em>&#8211; V. 148).<a href="http://vncphathoc.com/dai-tang-kinh-viet-nam/kinh-tuong-ung-bo/dan-luan-kinh-tuong-ung-bo.html#_ftn8"><sup>[8]</sup></a><br><strong>Thứ tư, về truyền bản</strong>.&nbsp;<em>Tương ưng bộ&nbsp;</em>trong nguyên tác Pāli có hai truyền bản quan trọng, thứ nhất là bản&nbsp;ngôn ngữ&nbsp;Miến Điện (<em>Burmese</em>) và thứ hai là bản&nbsp;ngôn ngữ&nbsp;Tích Lan&nbsp;(<em>Sinhala</em>). Theo đối khảo của&nbsp;học giả&nbsp;người Đức Oskar von Hinüber, hai truyền bản này&nbsp;tương đối&nbsp;độc lập, vì dường như đã có một số&nbsp;bài kinh&nbsp;được&nbsp;tiếp nhận&nbsp;từ hai nguồn khác nhau.<a href="http://vncphathoc.com/dai-tang-kinh-viet-nam/kinh-tuong-ung-bo/dan-luan-kinh-tuong-ung-bo.html#_ftn9"><sup>[9]</sup></a>&nbsp;Từ hai truyền bản Pāli này, PTS mà&nbsp;cụ thể&nbsp;là Léon Feer (1830-1902) đã&nbsp;biên tập&nbsp;và chuyển thể sang&nbsp;ngôn ngữ&nbsp;La-tinh.<br>Tính&nbsp;đến nay,&nbsp;<em>Tương ưng bộ&nbsp;</em>đã được nhiều&nbsp;tác giả&nbsp;dịch trực tiếp từ Pāli sang Anh ngữ. Bản dịch&nbsp;<em>Tương ưng bộ&nbsp;</em>bằng Anh ngữ đầu tiên với tên gọi:&nbsp;<em>The Book of</em><em>the Kindred Sayings</em>&nbsp;do Rhys Davids dịch tập I (1917), tập II (1922), và F. L Woodward dịch tập III (1925), tập IV (1927), tập V (1930).&nbsp;Ngoài ra,&nbsp;<em>Tương ưng bộ</em>&nbsp;cũng được nhiều&nbsp;tác giả&nbsp;như Bhikkhu Ñāṇamoli&nbsp;phiên dịch&nbsp;một số&nbsp;bài kinh&nbsp;chủ yếu, hoặc Bhikkhu Sujato đã dịch nguyên cả&nbsp;bộ kinh. Trong số những dịch phẩm về Anh ngữ của&nbsp;<em>Tương ưng bộ</em>, có thể nói rằng, bản dịch&nbsp;<em>Tương ưng bộ&nbsp;</em>từ Pāli sang Anh ngữ với tên gọi<em>&nbsp;The Connected Discourses of the Buddha: A Translation of the Saṃyutta Nikāya</em>&nbsp;của Bhikkhu Bodhi do Wisdom Publications&nbsp;ấn hành&nbsp;vào năm 2000,<strong>&nbsp;</strong>là một trong những bản dịch được&nbsp;giới học&nbsp;giả&nbsp;ghi nhận&nbsp;và&nbsp;đánh giá&nbsp;cao.&nbsp;Ngoài ra, trên trang nhà http://www.suttacentral.net/ hiện đang&nbsp;giới thiệu&nbsp;nhiều&nbsp;bài kinh&nbsp;thuộc&nbsp;<em>Tương ưng bộ&nbsp;</em>đã được dịch sang nhiều thứ tiếng khác nhau trên&nbsp;thế giới&nbsp;như Pháp, Đức, Ý, Na Uy, Tây Ban Nha,&nbsp;Bồ Đào Nha, Hungary, Ba Lan, Nga, Nhật, Hoa, Thái Lan, Indonesia… và gồm cả tiếng Việt.<br>Bản dịch tiếng Việt&nbsp;<em>Tương ưng bộ&nbsp;</em>do&nbsp;Trưởng lão&nbsp;Hòa thượng&nbsp;Thích&nbsp;Minh Châu&nbsp;phiên dịch,&nbsp;dựa trên&nbsp;nguyên tác Pāli và ấn bản tiếng Anh của PTS, được&nbsp;ấn hành&nbsp;lần đầu tiên vào năm 1982. Sau đó,&nbsp;bộ kinh&nbsp;này đã được Viện&nbsp;Nghiên cứu&nbsp;Phật học&nbsp;Việt Nam&nbsp;tái bản vào những năm 1993 và 2013.</p>



<p class="wp-block-paragraph"><strong>2.&nbsp;Tóm tắt&nbsp;về nội dung</strong><br><strong>2.1<em>&nbsp;Thiên Có kệ&nbsp;(Sagāthāvagga)</em></strong></p>



<p class="wp-block-paragraph">Thiên này có 11&nbsp;<em>Tương ưng</em>. Trong đó,&nbsp;<em>Tương ưng&nbsp;Chư thiên&nbsp;</em>(<em>Devatāsaṃyutta</em>) và&nbsp;<em>Tương ưng</em><em>Thiên tử</em>&nbsp;(<em>Devaputtasaṃyutta</em>) là hai&nbsp;<em>Tương ưng</em>&nbsp;đề cập về từng vị&nbsp;thiên tử&nbsp;hoặc nhiều vị&nbsp;thiên tử&nbsp;đã đến thỉnh&nbsp;đức Phật&nbsp;giảng pháp, hoặc nhờ&nbsp;đức Phật&nbsp;xác chứng về&nbsp;kiến thức&nbsp;Phật pháp&nbsp;của họ. Có những&nbsp;bài kinh&nbsp;ngắn trong hai&nbsp;<em>Tương ưng</em>&nbsp;này (<em>S</em>. I. 36, 39) đề cập đến những&nbsp;chân lý&nbsp;phổ quát của&nbsp;xã hội, không&nbsp;thuần túy&nbsp;Phật pháp.<br>Thứ ba,&nbsp;<em>Tương ưng&nbsp;Kosala</em>&nbsp;(<em>Kosalasaṃyutta</em>) đề cập đến những tâm tư,&nbsp;suy nghĩ, hành hoạt của vị&nbsp;Hoàng đế&nbsp;có những&nbsp;liên hệ&nbsp;mật thiết&nbsp;đến&nbsp;đức Phật&nbsp;và&nbsp;Tăng đoàn. Vua Pasenadi (Ba-tư-nặc) là một vị vua có những&nbsp;nỗ lực&nbsp;rất lớn trong việc&nbsp;ứng dụng&nbsp;pháp Phật vào các mối quan hệ&nbsp;gia đình&nbsp;cũng như đường hướng trị nước, an dân.<br>Thứ tư,&nbsp;<em>Tương ưng Ác ma</em>&nbsp;(<em>Mārasaṃyutta</em>) và thứ năm&nbsp;<em>Tương ưng&nbsp;Tỷ-kheo-ni</em>&nbsp;(<em>Bhikkhunīsaṃyutta</em>) cùng đề cập đến một đối tượng biểu trưng cho&nbsp;năng lượng&nbsp;tiêu cực, đó là&nbsp;Ác ma. Theo&nbsp;<em>Tương ưng Ác ma</em>, ngay từ khi vừa mới&nbsp;giác ngộ,&nbsp;Ác ma&nbsp;đã theo&nbsp;đức Phật. Thậm chí có những giai&nbsp;đoạn Ác&nbsp;ma theo Ngài ròng rã đến bảy năm (<em>S</em>. I. 124) và đã dùng nhiều&nbsp;phương cách&nbsp;phá hoại&nbsp;nhưng không làm&nbsp;đức Phật&nbsp;lay động. Đối với các vị Tỷ-kheo-ni trong&nbsp;<em>Tương ưng&nbsp;Tỷ-kheo-ni</em>,&nbsp;Ác ma&nbsp;đã dùng nhiều cách thức, từ khuyến dụ, rủ rê, đến dọa nạt nhưng vẫn không làm cho các Tỷ-kheo-ni&nbsp;sợ hãi&nbsp;hay&nbsp;kinh hoàng.<br>Thứ sáu,&nbsp;<em>Tương ưng Phạm thiên</em>&nbsp;(<em>Brahmasaṃyutta</em>),&nbsp;Phạm thiên&nbsp;Sahampati&nbsp;xuất hiện&nbsp;đầu tiên sau khi&nbsp;đức Phật&nbsp;vừa mới&nbsp;thành đạo&nbsp;và cũng có mặt trong đêm&nbsp;đức Phật&nbsp;nhập Niết-bàn. Có lần,&nbsp;Phạm thiên&nbsp;đã&nbsp;thuyết pháp&nbsp;cho mẹ của một vị Tỷ-kheo, khuyên bà đừng&nbsp;cúng dường&nbsp;Phạm thiên&nbsp;Sahampati ở trên cao kia, tức là Ngài, mà hãy phụng kính vị&nbsp;Phạm thiên&nbsp;trước mặt, chính là Tỷ-kheo Brahmadeva đã&nbsp;chứng quả&nbsp;A-la-hán, vốn là con trai của bà (<em>S</em>. I. 141).<br>Thứ bảy,&nbsp;<em>Tương ưng&nbsp;Bà-la-môn</em>&nbsp;(<em>Brāhmaṇasaṃyutta</em>) đề cập đến những trở ngại, khó khăn trên bước đường&nbsp;hóa đạo&nbsp;của&nbsp;đức Phật&nbsp;khi gặp phải sự chống đối của&nbsp;giai cấp&nbsp;Bà-la-môn. Cũng trong&nbsp;<em>Tương ưng</em>&nbsp;này,&nbsp;đức Phật&nbsp;đã tái định nghĩa thế nào là sự thanh tẩy (<em>S</em>. I. 182), thế nào gọi là&nbsp;khất sĩ&nbsp;(<em>S</em>. I. 182), thế nào gọi là cày ruộng (<em>S</em>. I. 172), thế nào gọi là người&nbsp;hiền lành&nbsp;(<em>S</em>. I. 154)… Trong số những Bà-la-môn chống đối đó, có nhiều người sau khi nghe&nbsp;đức Phật&nbsp;thuyết pháp, đã tỏ ngộ,&nbsp;phát nguyện&nbsp;xuất gia&nbsp;và&nbsp;chứng đắc&nbsp;Thánh quả.<br>Thứ tám,&nbsp;<em>Tương ưng&nbsp;Trưởng lão&nbsp;Vaṅgīsa</em>&nbsp;(<em>Vaṅgīsasaṃyutta</em>) đề cập đến khả năng thi phú của vị Tỷ-kheo cùng tên rất mực&nbsp;tài hoa. Tuy&nbsp;tài hoa&nbsp;là vậy nhưng Tỷ-kheo Vaṅgīsa vẫn bị&nbsp;vô số&nbsp;khổ đau do chưa&nbsp;hàng phục&nbsp;được&nbsp;vọng tâm. Từ khi gặp&nbsp;đức Phật&nbsp;và&nbsp;nỗ lực&nbsp;tu tập, Vaṅgīsa đã&nbsp;chuyển hóa&nbsp;tâm mình,&nbsp;chứng đắc&nbsp;Thánh quả&nbsp;và dùng khả năng riêng có để&nbsp;ca ngợi&nbsp;đức Phật&nbsp;và các vị&nbsp;Thánh Tăng&nbsp;bằng những vần kệ&nbsp;đi vào&nbsp;lòng người.<br>Thứ chín,&nbsp;<em>Tương ưng Rừng</em><strong>&nbsp;</strong>(<em>Vanasaṃyutta</em>) và thứ mười là&nbsp;<em>Tương ưng&nbsp;Dạ-xoa</em>&nbsp;(<em>Yakkhasaṃyutta</em>) đề cập đến hai loại&nbsp;chúng sanh&nbsp;bậc cao là&nbsp;chư thiên&nbsp;(<em>devatā</em>) sống trong rừng và các loài dạ-xoa (<em>yakkha</em>) trong sự&nbsp;liên hệ&nbsp;với chúng Tỷ-kheo nói chung.&nbsp;Cụ thể&nbsp;như, có vị Tỷ-kheo thích ngửi hương sen nên thường đến bên bờ hồ để ngửi&nbsp;hoa sen. Khi ấy, có vị thiên trú ở rừng, ở cây đã khuyên Tỷ-kheo này bằng cách chỉ ra rằng, ngửi hương cũng là&nbsp;hình thức&nbsp;của&nbsp;trộm cắp&nbsp;(<em>S</em>. I. 204).&nbsp;Tương tự&nbsp;như vậy, dạ-xoa Sīvaka đã trấn&nbsp;an cư&nbsp;sĩ&nbsp;Cấp Cô Độc&nbsp;khi vị này lần đầu tiên đến&nbsp;Trúc Lâm&nbsp;để&nbsp;diện kiến&nbsp;đức Phật&nbsp;và&nbsp;chúng Tăng&nbsp;(<em>S</em>. I. 210). Bên cạnh đó, còn có những dạ-xoa&nbsp;bạo ác, không những hù dọa các vị Thánh&nbsp;đệ tử&nbsp;mà còn nhiều lần sách nhiễu&nbsp;đức Thế Tôn&nbsp;(<em>S</em>. I. 218).<br><em>Tương ưng</em>&nbsp;thứ mười một<em>&nbsp;</em>là&nbsp;<em>Tương ưng Sakka</em>&nbsp;(<em>Sakkasaṃyutta</em>).&nbsp;<em>Tương ưng</em>&nbsp;này đề cập đến cuộc chiến&nbsp;dai dẳng&nbsp;giữa&nbsp;chư thiên&nbsp;và a-tu-la. Trong cuộc chiến này, có khi&nbsp;chư thiên&nbsp;thắng và ngược lại,&nbsp;tuy nhiên&nbsp;điều đáng&nbsp;ghi nhận&nbsp;là phẩm hạnh của&nbsp;chư thiên&nbsp;luôn được đề cao. Ngay như&nbsp;Thiên chủ&nbsp;Sakka, trong khi lui binh trốn chạy&nbsp;kẻ thù&nbsp;nhưng vẫn sợ xe của mình cán phải tổ chim non nên bảo người đánh xe né tránh (<em>S</em>. I. 224). Thậm chí đối với&nbsp;kẻ thù,&nbsp;Thiên chủ&nbsp;Sakka cũng không hề có sự&nbsp;gian trá&nbsp;(<em>S</em>. I. 225).</p>



<p class="wp-block-paragraph"><a href="https://thuvienhoasen.org/images/file/9y2BGTds3AgBAE8O/banner-kinh-mung-phat-dan.jpg"></a></p>



<p class="wp-block-paragraph"><strong>2.2&nbsp;</strong><em><strong>Thiên Nhân&nbsp;duyên&nbsp;</strong>(Nidānavagga)</em>Thiên này có 10&nbsp;<em>Tương ưng</em>&nbsp;với khởi đầu là&nbsp;<em>Tương ưng Nhân duyên</em>&nbsp;(<em>Nidānasaṃyutta</em>).&nbsp;<em>Tương ưng Nhân duyên</em>&nbsp;trình bày các&nbsp;phương diện, các khía cạnh đặc thù của 12&nbsp;nhân duyên. Bên cạnh việc trình bày về&nbsp;lý thuyết&nbsp;Duyên khởi&nbsp;(<em>S</em>. II. 25),&nbsp;<em>Tương ưng&nbsp;</em>này cũng đề cập đến những nội dung quan&nbsp;trọng như&nbsp;bốn loại&nbsp;thức ăn&nbsp;(<em>S</em>. II. 11-12),&nbsp;mười lực&nbsp;(<em>S</em>. II. 27), bốn&nbsp;vô sở&nbsp;úy (<em>S</em>. II. 28), cùng các khái niệm quan trọng về tâm, ý, thức (<em>S</em>. II. 94-95).&nbsp;Liên quan đến&nbsp;quan điểm&nbsp;của&nbsp;Phật giáo&nbsp;về&nbsp;vấn đề&nbsp;ăn uống,&nbsp;<em>Tương ưng</em>&nbsp;này cũng đưa ra ví dụ về việc&nbsp;ăn thịt&nbsp;đứa con rất&nbsp;sống động&nbsp;(<em>S</em>. II. 97).<br>Thứ hai,&nbsp;<em>Tương ưng</em><em>Minh kiến</em>&nbsp;(<em>Abhisamayasaṃyutta</em>) chỉ cho sự thấy biết&nbsp;rõ ràng&nbsp;và đầy đủ về&nbsp;giáo pháp&nbsp;(<em>dhammābhisamaya</em>), có&nbsp;ý nghĩa&nbsp;to lớn như là&nbsp;chứng đắc&nbsp;Pháp nhãn&nbsp;(<em>S</em>. II. 133), và một khi&nbsp;thành tựu&nbsp;minh<em>&nbsp;</em>kiến<em>&nbsp;</em>sẽ đoạn&nbsp;tận khổ&nbsp;đau. Những&nbsp;ẩn dụ&nbsp;như đất trên móng tay và quả đất (<em>S</em>. II. 133), hòn sỏi và ngọn núi (<em>S</em>. II. 139)… là những&nbsp;so sánh&nbsp;sinh động&nbsp;nhằm làm&nbsp;sáng tỏ&nbsp;ý nghĩa&nbsp;sâu rộng&nbsp;của minh kiến.<br>Thứ ba,&nbsp;<em>Tương ưng</em><em>Giới</em>&nbsp;(<em>Dhātusaṃyutta</em>) đề cập đến&nbsp;cảnh giới,&nbsp;phạm vi,&nbsp;yếu tố,&nbsp;tính chất, chủng loại của nhiều sự vật,&nbsp;hiện tượng&nbsp;và kể cả&nbsp;con người&nbsp;cùng những thuộc tính của chúng. Đơn cử:&nbsp;“<em>Này các Tỷ-kheo</em>,<em>&nbsp;tùy thuộc&nbsp;theo giới</em>,<em>&nbsp;các&nbsp;chúng sanh&nbsp;cùng&nbsp;hòa hợp</em>,<em>&nbsp;cùng đi&nbsp;với nhau.&nbsp;Chúng sanh&nbsp;liệt&nbsp;ý chí&nbsp;cùng&nbsp;hòa hợp</em>,<em>&nbsp;cùng đi với&nbsp;chúng sanh&nbsp;liệt&nbsp;ý chí.&nbsp;Chúng sanh&nbsp;thiện ý&nbsp;chí cùng&nbsp;hòa hợp</em>,<em>&nbsp;cùng đi với&nbsp;chúng sanh&nbsp;thiện ý&nbsp;chí</em>” (<em>S</em>. II. 154).<br>Thứ tư,&nbsp;<em>Tương ưng</em><em>Vô thỉ</em>&nbsp;(<em>Anamataggasaṃyutta</em>) đề cập<strong>&nbsp;</strong>đến sự&nbsp;luân hồi&nbsp;không có đầu mối của&nbsp;chúng sanh&nbsp;(<em>S</em>. II. 178). Trong mênh mang&nbsp;luân hồi&nbsp;đó, khó có thể&nbsp;tìm thấy&nbsp;một ai chưa từng là người&nbsp;thân thuộc&nbsp;của mỗi&nbsp;chúng sanh&nbsp;(<em>S</em>. II. 189-90). Ngay như ngọn núi Vepulla (Tỳ-phú-la) ở Rājagaha (Vương Xá)<strong>&nbsp;</strong>này, ngoài tên gọi như đã biết thì còn có sáu tên gọi khác ở trong&nbsp;quá khứ&nbsp;xa xưa (<em>S</em>. II. 190).<br>Thứ năm,&nbsp;<em>Tương ưng</em><strong>&nbsp;</strong><em>Kassapa</em>&nbsp;(<em>Kassapasaṃyutta</em>) và thứ bảy<strong>&nbsp;</strong>là&nbsp;<em>Tương ưng</em><strong>&nbsp;</strong><em>Rāhula&nbsp;</em>(<em>Rāhulasaṃyutta</em>) đề cập về&nbsp;công hạnh&nbsp;riêng biệt của hai vị&nbsp;Thánh Tăng&nbsp;này. Với Kassapa, vị&nbsp;Thánh Tăng&nbsp;luôn biết đủ và kham khổ trong&nbsp;tứ sự&nbsp;cần dùng&nbsp;(<em>S</em>. II. 194).&nbsp;Đặc biệt,&nbsp;đức Phật&nbsp;đã từng ban y&nbsp;phấn tảo&nbsp;cho&nbsp;Tôn giả&nbsp;Kassapa và&nbsp;Tôn giả&nbsp;đã&nbsp;vô cùng&nbsp;quý trọng&nbsp;đặc ân&nbsp;này (<em>S</em>. II. 217). Với&nbsp;Tôn giả&nbsp;Rāhula, việc&nbsp;cần cầu&nbsp;học hỏi&nbsp;chính là&nbsp;mong mỏi&nbsp;thường trực&nbsp;của&nbsp;Tôn giả. Nhờ&nbsp;nhận thức&nbsp;và&nbsp;thực tập: “<em>Cái này không phải của tôi</em>,<em>&nbsp;cái này không phải là tôi</em>,<em>&nbsp;cái này không phải tự ngã của tôi</em>”,<em>&nbsp;</em>nên&nbsp;Tôn giả&nbsp;Rāhula đã&nbsp;thành tựu&nbsp;quả vị&nbsp;giải thoát&nbsp;(<em>S</em>. II. 253).<br>Thứ sáu,&nbsp;<em>Tương ưng&nbsp;Lợi đắc</em>,<em>&nbsp;cung kính</em>&nbsp;(<em>Lābhasakkārasaṃyutta</em>) trình bày những đớn đau, khổ lụy do bị&nbsp;chi phối&nbsp;bởi lợi đắc,&nbsp;cung kính,&nbsp;danh vọng&nbsp;(<em>S</em>. II. 225).&nbsp;Ẩn dụ&nbsp;trùng ăn phân là một&nbsp;ẩn dụ&nbsp;có khả năng&nbsp;chấn động&nbsp;tâm thức&nbsp;(<em>S</em>. II. 228). Theo lời&nbsp;đức Phật, có kẻ không hề nói láo dù bị mua chuộc từ một đồng Nikkha&nbsp;cho đến&nbsp;một trăm đồng Nikkha, nhưng sẽ nói láo khi bị lợi đắc,&nbsp;cung kính,&nbsp;danh vọng&nbsp;chi phối.&nbsp;Hình ảnh&nbsp;cây chuối, cây tre, cây lau, con lừa sau khi sanh sản đều bị&nbsp;diệt vong&nbsp;là những ví dụ&nbsp;sinh động&nbsp;chỉ cho những&nbsp;chúng sanh&nbsp;bị cột trói bởi lợi đắc,&nbsp;cung kính&nbsp;và&nbsp;danh vọng&nbsp;(<em>S</em>. II. 241). Những ví dụ này cũng có mặt trong&nbsp;Luật tạng&nbsp;Pāli, chương bảy,&nbsp;<em>Cullavagga</em>.<br>Thứ tám,&nbsp;<em>Tương ưng&nbsp;Lakkhaṇa</em>&nbsp;(<em>Lakkhaṇasaṃyutta</em>) thuật lại những bài&nbsp;pháp thoại&nbsp;của&nbsp;Tôn giả&nbsp;Mahāmoggallāna (Đại Mục-kiền-liên) với&nbsp;Tôn giả&nbsp;Lakkhaṇa. Nội dung chính của những&nbsp;bài kinh&nbsp;này&nbsp;liên quan đến&nbsp;cảnh giới&nbsp;khổ đau của loài&nbsp;ngạ quỷ&nbsp;và&nbsp;Tôn giả&nbsp;Mahāmoggallāna đã chỉ ra do&nbsp;nguyên nhân&nbsp;gì phải thọ nhận khổ đau như vậy. Theo thống kê, có tất cả 21 loài khổ quỷ do&nbsp;Tôn giả&nbsp;Mahāmoggallāna trông thấy và đã kể lại với&nbsp;Tôn giả&nbsp;Lakkhaṇa.<br>Thứ chín,&nbsp;<em>Tương ưng Thí dụ</em>&nbsp;(<em>Opammasaṃyutta</em>) đề cập đến những ví dụ&nbsp;sinh động&nbsp;như ngôi nhà có nóc nhọn với hạnh không&nbsp;phóng dật&nbsp;(<em>S</em>. II. 262).&nbsp;<em>Tương ưng</em>&nbsp;này cũng&nbsp;ghi nhận&nbsp;về&nbsp;câu chuyện&nbsp;cái chốt trống Ānaka và sự pha trộn những&nbsp;yếu tố&nbsp;ngoại lai&nbsp;vào&nbsp;giáo pháp&nbsp;Phật (<em>S</em>. II. 266). Thậm chí&nbsp;hình ảnh&nbsp;con&nbsp;dã can&nbsp;còn được dùng làm ví dụ để chỉ cho vị Tỷ-kheo<strong>&nbsp;</strong>mê ngủ (<em>S</em>. II. 271).&nbsp;Đức Phật&nbsp;dạy rằng: “<em>Đây là sự chết</em>,&nbsp;<em>này các Tỷ-kheo</em>,<em>&nbsp;trong&nbsp;giới luật&nbsp;của bậc Thánh</em>,<em>&nbsp;tức là sự&nbsp;từ bỏ&nbsp;học giới&nbsp;và&nbsp;hoàn tục</em>” (<em>S</em>. II. 270).<br>Thứ mười,&nbsp;<em>Tương ưng</em><strong>&nbsp;</strong><em>Tỷ-kheo</em>&nbsp;(<em>Bhikkhusaṃyutta</em>)<strong>&nbsp;</strong>là&nbsp;<em>Tương ưng</em>cuối cùng&nbsp;trong&nbsp;<em>Thiên Nhân&nbsp;duyên</em>&nbsp;(<em>Nidānavagga</em>). Ở&nbsp;<em>Tương ưng</em>&nbsp;này, một vài&nbsp;hành trạng&nbsp;của các vị&nbsp;đệ tử&nbsp;như Kolita (Mahāmoggallāna), Upatissa (Sāriputta), Nanda… đã được đề cập với nhiều&nbsp;chi tiết&nbsp;đặc thù. Đơn cử như: “<em>Đối với&nbsp;Tôn giả&nbsp;Sāriputta</em>,&nbsp;<em>dầu cho bậc&nbsp;Đạo sư&nbsp;có&nbsp;biến hoại</em>,<strong>&nbsp;</strong><em>trạng huống&nbsp;có đổi khác</em>,<strong>&nbsp;</strong><em>cũng không khởi lên sầu</em>,<strong>&nbsp;</strong><em>bi</em>,<strong>&nbsp;</strong><em>khổ</em>,<strong>&nbsp;</strong><em>ưu</em>,<strong>&nbsp;</strong><em>não</em>” (<em>S</em>. II. 274).</p>



<p class="wp-block-paragraph"><strong>2.3&nbsp;<em>Thiên Uẩn (Khandhavagga)</em></strong></p>



<p class="wp-block-paragraph">Thiên này có 13&nbsp;<em>Tương ưng</em>, khởi đầu là&nbsp;<em>Tương ưng Uẩn</em>&nbsp;(<em>Khandhasaṃyutta</em>), là một trong những&nbsp;<em>Tương ưng</em>&nbsp;dài nhất của&nbsp;<em>Tương ưng bộ</em>.&nbsp;<em>Tương ưng Uẩn</em>&nbsp;chủ yếu đề cập đến&nbsp;năm uẩn&nbsp;và những&nbsp;liên hệ&nbsp;xung quanh&nbsp;năm uẩn&nbsp;này. Theo&nbsp;đức Phật, thân&nbsp;ngũ uẩn&nbsp;là&nbsp;gánh nặng&nbsp;(<em>S</em>. III. 25), là bất toàn, là&nbsp;khổ não: “<em>Ai mang cái thân này</em>,<em>&nbsp;lại tự cho là không bệnh</em>,<em>&nbsp;dầu chỉ trong một giây phút</em>,<em>&nbsp;người ấy phải là người ngu</em>” (<em>S</em>. III. 1). “<em>Năm&nbsp;thủ uẩn&nbsp;này lấy dục làm&nbsp;căn bản</em>” (<em>S</em>. III. 100).&nbsp;Vì vậy, không có gì&nbsp;tốt đẹp&nbsp;khi cố níu kéo, chấp giữ thân&nbsp;năm uẩn&nbsp;này: “<em>Ai&nbsp;chấp trước</em>,<em>&nbsp;này Tỷ-kheo</em>,<em>&nbsp;người ấy bị ma&nbsp;trói buộc</em>,<em>&nbsp;ai&nbsp;không chấp&nbsp;trước</em>,<em>&nbsp;người ấy&nbsp;được giải thoát&nbsp;khỏi&nbsp;Ác ma</em>” (<em>S</em>. III. 73).<br>Thứ hai,&nbsp;<em>Tương ưng&nbsp;Rādha</em>&nbsp;(<em>Rādhasaṃyutta</em>). Trong&nbsp;<em>Tương ưng</em>&nbsp;này,&nbsp;đức Phật&nbsp;đã dùng nhiều&nbsp;phương cách, nhiều ví dụ để dạy cho&nbsp;Tôn giả&nbsp;Rādha đi từ chánh quán&nbsp;cho đến&nbsp;Niết-bàn (<em>S</em>. III. 188).&nbsp;<em>Tương ưng</em>&nbsp;này nêu dẫn định nghĩa về&nbsp;chúng sanh&nbsp;(<em>S</em>. III. 189) cũng như về sợi dây&nbsp;tái sanh&nbsp;(<em>bhavanetti</em>) (<em>S</em>. III. 190). Các&nbsp;pháp như&nbsp;vô thường, khổ, vô ngã… cũng được&nbsp;đức Phật&nbsp;tuần tự&nbsp;giảng cho&nbsp;Tôn giả&nbsp;Rādha.<br>Thứ ba,&nbsp;<em>Tương ưng Kiến</em>&nbsp;(<em>Diṭṭhisaṃyutta</em>) đề cập đến&nbsp;các loại&nbsp;kiến chấp&nbsp;của&nbsp;ngoại đạo. Điều&nbsp;đặc biệt&nbsp;nhất trong&nbsp;<em>Tương ưng</em>&nbsp;này là đã nêu dẫn&nbsp;quan điểm&nbsp;triết học&nbsp;về bảy thân (<em>sattime kāyā</em>) của Pakudha Kaccāyana (Bà-phù-đà Ca-chiên-diên), vị&nbsp;giáo chủ&nbsp;của một trong sáu trường phái&nbsp;triết học&nbsp;ở thời&nbsp;đức Phật&nbsp;(<em>S</em>. III. 211).<br>Thứ tư,&nbsp;<em>Tương ưng</em><em>Nhập</em>&nbsp;(<em>Okkantasaṃyutta</em>). Nhập ở đây mang nghĩa là&nbsp;đi vào, được sanh vào. Ở đây, những ai có&nbsp;lòng tin, có&nbsp;tín giải, biết chắc rằng sáu căn đều&nbsp;vô thường,&nbsp;biến hoại&nbsp;thì “<em>Vị ấy được gọi là&nbsp;tùy tín hành</em>,&nbsp;<em>đã nhập chánh tánh</em>,<em>&nbsp;đã nhập&nbsp;chân nhân&nbsp;địa</em>,&nbsp;<em>đã vượt&nbsp;phàm phu&nbsp;địa</em>.&nbsp;<em>Vị ấy không có thể làm những hành động gì</em>,&nbsp;<em>do làm hành động ấy phải sanh vào&nbsp;địa ngục</em>,&nbsp;<em>bàng sanh</em>,&nbsp;<em>ngạ quỷ</em>;&nbsp;<em>một vị không có thể&nbsp;mệnh chung&nbsp;mà không&nbsp;chứng quả&nbsp;Dự lưu</em>” (<em>S</em>. III. 225). Các kinh trong&nbsp;<em>Tương ưng</em>&nbsp;này chỉ là sự&nbsp;mở rộng&nbsp;về&nbsp;sáu trần, sáu thức,&nbsp;sáu xúc, sáu thọ…<br>Thứ năm,&nbsp;<em>Tương ưng Sanh</em>&nbsp;(<em>Uppādasaṃyutta</em>). Sanh (<em>uppāda</em>) nghĩa là sự sanh, sự trú, sự thành, sự&nbsp;xuất hiện&#8230; được trình bày theo nguyên tắc&nbsp;duyên sanh.&nbsp;Cụ thể&nbsp;như: “<em>Này các Tỷ-kheo</em>,&nbsp;<em>sự sanh</em>,&nbsp;<em>sự trú</em>,&nbsp;<em>sự thành</em>,&nbsp;<em>sự&nbsp;xuất hiện&nbsp;của mắt là sự sanh của khổ</em>,&nbsp;<em>sự trú của&nbsp;bệnh hoạn</em>,&nbsp;<em>sự&nbsp;xuất hiện&nbsp;của già chết</em>” (<em>S</em>. III. 228). Sự&nbsp;sanh khởi&nbsp;của các căn còn lại cũng&nbsp;tương tự&nbsp;như vậy.<br>Thứ sáu,&nbsp;<em>Tương ưng Phiền não</em>&nbsp;(<em>Kilesasaṃyutta</em>).&nbsp;<em>Tương ưng</em>&nbsp;này&nbsp;định danh&nbsp;tùy phiền não&nbsp;và các&nbsp;phương diện&nbsp;khác của&nbsp;tùy phiền não&nbsp;(<em>S</em>. III. 232).<br>Thứ bảy,&nbsp;<em>Tương ưng&nbsp;Sāriputta&nbsp;</em>(<em>Sāriputtasaṃyutta</em>)&nbsp;mô tả&nbsp;quá trình&nbsp;tuần tự&nbsp;nhập và xuất chín định&nbsp;thứ đệ, từ&nbsp;Sơ thiền&nbsp;cho đến&nbsp;Diệt thọ tưởng định&nbsp;của&nbsp;Tôn giả&nbsp;Sāriputta (<em>S</em>. III. 235-238). Cũng trong&nbsp;<em>Tương ưng</em>&nbsp;này, nữ du sĩ Sūcimukhī đã&nbsp;cật vấn&nbsp;Tôn giả&nbsp;Sāriputta về mười cách ăn và được&nbsp;Tôn giả&nbsp;giải thích&nbsp;đầy đủ (<em>S</em>. III. 238).<br>Bốn&nbsp;<em>Tương ưng</em>&nbsp;như&nbsp;<em>Tương ưng Loài rồng</em>&nbsp;(<em>Nāgasaṃyutta</em>),&nbsp;<em>Tương ưng&nbsp;Kim Sí điểu</em>&nbsp;(<em>Supaṇṇasaṃyutta</em>),&nbsp;<em>Tương ưng&nbsp;Càn-thát-bà</em>&nbsp;(<em>Gandhabbakāyasaṃyutta</em>) và&nbsp;<em>Tương ưng&nbsp;Thần mây</em>&nbsp;(<em>Valāhakasaṃyutta</em>) trình bày về những&nbsp;cách sinh&nbsp;ra, sự khác biệt giữa các&nbsp;chúng sanh&nbsp;đặc thù này, cũng như do&nbsp;nhân duyên&nbsp;gì để sanh về các loài ấy. Trong những&nbsp;<em>Tương ưng</em>&nbsp;này, bên cạnh lời dạy của&nbsp;đức Phật&nbsp;còn chuyên chở những thông tin thuộc tín niệm&nbsp;văn hóa,&nbsp;triết học&nbsp;của&nbsp;xã hội&nbsp;Ấn Độ&nbsp;cổ đại.<br>Thứ mười hai,&nbsp;<em>Tương ưng&nbsp;Vacchagotta</em>&nbsp;(<em>Vacchagottasaṃyutta</em>) nêu dẫn các&nbsp;kiến chấp&nbsp;về&nbsp;thế giới&nbsp;và&nbsp;con người&nbsp;của du sĩ&nbsp;ngoại đạo&nbsp;Vacchagotta với những câu hỏi như: “<em>Thế giới&nbsp;là thường còn</em>” hay “<em>Thế giới&nbsp;là không thường còn</em>”; “<em>Thế giới&nbsp;hữu biên</em>” hay “<em>Thế giới&nbsp;vô biên</em>”; “<em>Sinh mạng và&nbsp;thân thể&nbsp;là một</em>” hay “<em>Sinh mạng và&nbsp;thân thể&nbsp;là khác</em>”; “<em>Như Lai&nbsp;có&nbsp;tồn tại&nbsp;sau khi chết</em>” hay “<em>Như Lai&nbsp;không tồn tại&nbsp;sau khi chết</em>”; “<em>Như Lai&nbsp;có&nbsp;tồn tại&nbsp;và không có&nbsp;tồn tại&nbsp;sau khi chết</em>”<em>&nbsp;</em>hay<em>&nbsp;</em>“<em>Như Lai&nbsp;không tồn tại&nbsp;và&nbsp;không không&nbsp;tồn tại&nbsp;sau khi chết</em>” (<em>S</em>. III. 257). Thật ra,&nbsp;<em>Tương ưng</em><em>Vacchagotta</em>&nbsp;có nhiều điểm tương đồng với&nbsp;<em>Tương ưng&nbsp;Không thuyết</em>&nbsp;(<em>Abyākatasaṃyutta</em>) ở&nbsp;<em>Thiên&nbsp;Sáu xứ</em>&nbsp;(<em>Saḷāyatanavagga</em>).<br><em>Tương ưng</em>cuối cùng&nbsp;của&nbsp;<em>Thiên Uẩn</em>&nbsp;là&nbsp;<em>Tương ưng&nbsp;Thiền</em>&nbsp;(<em>Jhānasaṃyutta</em>). Trong&nbsp;<em>Tương ưng</em>&nbsp;này đã khéo&nbsp;phân biệt&nbsp;giữa&nbsp;thiền định&nbsp;và&nbsp;thiền chứng&nbsp;(<em>samādhimūlakasamāpatti</em>) thông qua bốn hạng người&nbsp;tu tập&nbsp;(<em>S</em>. III. 265).&nbsp;Đồng thời,&nbsp;<em>Tương ưng</em><em>Thiền</em>&nbsp;cũng chỉ rõ thế nào là&nbsp;thiện xảo&nbsp;về&nbsp;chỉ trú&nbsp;trong&nbsp;thiền định&nbsp;(<em>samādhimūlakaṭhiti</em>),&nbsp;thiện xảo&nbsp;về xuất khởi trong&nbsp;thiền định&nbsp;(<em>samādhimūlakavuṭṭhāna</em>),&nbsp;thiện xảo&nbsp;về sự&nbsp;thuần thục&nbsp;trong&nbsp;thiền định&nbsp;(<em>samādhimūlakakallita</em>).</p>



<p class="wp-block-paragraph"><strong>2.4&nbsp;<em>Thiên&nbsp;Sáu xứ&nbsp;(Saḷāyatanavagga)</em></strong>Thiên này có 10&nbsp;<em>Tương ưng</em>&nbsp;với&nbsp;<em>Tương ưng</em>&nbsp;đầu tiên là&nbsp;<em>Tương ưng&nbsp;Sáu xứ</em>&nbsp;(<em>Saḷāyatanasaṃyutta</em>).<strong>&nbsp;</strong>Đây là&nbsp;<em>Tương ưng</em>&nbsp;dài thứ hai trong&nbsp;<em>Tương ưng bộ</em>. Nội dung của&nbsp;<em>Tương ưng</em>&nbsp;này đề cập đến&nbsp;tính chất&nbsp;vô thường, khổ,&nbsp;vô ngã&nbsp;trong mắt, tai, mũi, lưỡi, thân và ý.&nbsp;Đức Phật&nbsp;nói rằng: “<em>Ai&nbsp;ưa thích&nbsp;mắt</em>,&nbsp;<em>này các Tỷ-kheo</em>,&nbsp;<em>người ấy&nbsp;ưa thích&nbsp;khổ</em>.&nbsp;<em>Ai&nbsp;ưa thích&nbsp;khổ</em>,&nbsp;<em>Ta nói người ấy không&nbsp;thoát khỏi&nbsp;khổ</em>” (<em>S</em>. IV. 13). “<em>Do duyên mắt và các sắc khởi lên&nbsp;nhãn thức</em>” (<em>S</em>. IV. 67). Chính&nbsp;vì vậy,&nbsp;cần phải&nbsp;hộ trì các căn,&nbsp;tiết độ trong ăn uống&nbsp;và&nbsp;chú tâm cảnh giác, ngay trong&nbsp;hiện tại&nbsp;sống được<strong>&nbsp;</strong>an lạc,&nbsp;hoan hỷ&nbsp;và tạo&nbsp;nguyên nhân&nbsp;bắt đầu đoạn tận các&nbsp;lậu hoặc&nbsp;(<em>S</em>. IV. 175).&nbsp;Hình ảnh&nbsp;khúc gỗ trôi sông, nếu&nbsp;như không&nbsp;tấp vào bờ này hay bờ kia, không bị&nbsp;mục nát, không bị&nbsp;phi nhân&nbsp;nhặt lấy… tất sẽ trôi ra biển lớn. Cũng vậy, vị Tỷ-kheo không bị dính mắc bởi sáu nội xứ và sáu ngoại xứ,&nbsp;tâm không&nbsp;chấp thủ… sẽ xuôi về Niết-bàn (<em>S</em>. IV. 179).<br>Thứ hai,&nbsp;<em>Tương ưng Thọ</em>&nbsp;(<em>Vedanāsaṃyutta</em>) đề cập đến ba thọ, gồm&nbsp;lạc thọ,&nbsp;khổ thọ&nbsp;và bất khổ&nbsp;bất lạc&nbsp;thọ. “<em>Ba thọ này</em>,&nbsp;<em>do xúc sanh</em>,&nbsp;<em>lấy xúc làm&nbsp;căn bản</em>,&nbsp;<em>lấy xúc làm&nbsp;nhân duyên</em>,&nbsp;<em>lấy xúc làm&nbsp;trợ duyên</em>” (<em>S</em>. IV. 215).&nbsp;Đức Phật&nbsp;khẳng định rằng: “<em>Phàm cái gì được&nbsp;cảm thọ</em>,&nbsp;<em>cái ấy nằm trong&nbsp;đau khổ</em>” (<em>S</em>. IV. 216).<br>Thứ ba,&nbsp;<em>Tương ưng&nbsp;Nữ nhân</em>&nbsp;(<em>Mātugāmasaṃyutta</em>) đề cập đến những đức tánh&nbsp;khả ý&nbsp;và không&nbsp;khả ý&nbsp;của người&nbsp;phụ nữ&nbsp;(<em>S</em>. IV. 238), những điểm đặc thù chỉ riêng có ở&nbsp;phụ nữ&nbsp;(<em>S</em>. IV. 239) và cả những tật xấu của&nbsp;phụ nữ&nbsp;như&nbsp;phẫn nộ,&nbsp;sân hận, tật đố,&nbsp;xan tham, biếng nhác…&nbsp;Ngoài ra,&nbsp;<em>Tương ưng</em>&nbsp;này cũng đề cập đến những&nbsp;tăng trưởng&nbsp;tốt đẹp&nbsp;dành cho&nbsp;phụ nữ&nbsp;(<em>S</em>. IV. 250).&nbsp;<em>Tương ưng&nbsp;Nữ nhân</em>&nbsp;đã chuyên chở một vài&nbsp;chi tiết&nbsp;không phải&nbsp;lời Phật dạy&nbsp;mà là những&nbsp;quan niệm, những&nbsp;định kiến&nbsp;của&nbsp;xã hội&nbsp;Ấn Độ&nbsp;cổ đại đối với&nbsp;phụ nữ.<br>Thứ tư,&nbsp;<em>Tương ưng&nbsp;Jambukhādaka</em>&nbsp;(<em>Jambukhādakasaṃyutta</em>) và thứ năm,&nbsp;<em>Tương ưng&nbsp;Sāmaṇḍaka</em>&nbsp;(<em>Sāmaṇḍakasaṃyutta</em>) ghi lại những lời dạy của&nbsp;Tôn giả&nbsp;Sāriputta với du sĩ&nbsp;ngoại đạo&nbsp;Jambukhādaka và Sāmaṇḍaka về những&nbsp;vấn đề&nbsp;như Niết-bàn và&nbsp;con đường&nbsp;dẫn đến Niết-bàn (<em>S</em>. IV. 251); thế nào là vị A-la-hán và&nbsp;con đường&nbsp;dẫn đến&nbsp;quả vị&nbsp;A-la-hán (<em>S</em>. IV. 251);&nbsp;phương cách&nbsp;điều hòa&nbsp;hơi thở&nbsp;và&nbsp;đạt đến&nbsp;điều hòa&nbsp;hơi thở&nbsp;tối thượng&nbsp;(<em>S</em>. IV. 254); thế nào là thọ (<em>S</em>. IV. 255); thế nào là&nbsp;lậu hoặc,&nbsp;vô minh,&nbsp;khát ái,&nbsp;bộc lưu,&nbsp;chấp thủ&nbsp;(<em>S</em>. IV. 256-58)… đã được&nbsp;Tôn giả&nbsp;Sāriputta&nbsp;giảng giải&nbsp;thỏa đáng.<br>Thứ sáu,&nbsp;<em>Tương ưng&nbsp;Moggallāna&nbsp;</em>(<em>Moggallānasaṃyutta</em>) đề cập đến&nbsp;tứ thiền&nbsp;và&nbsp;tứ vô sắc định&nbsp;do&nbsp;Tôn giả&nbsp;Mahāmoggallāna&nbsp;giảng thuyết&nbsp;cho chúng Tỷ-kheo (<em>S</em>. IV. 262-68).&nbsp;Ngoài ra,&nbsp;<em>Tương ưng</em>&nbsp;này cũng&nbsp;ghi nhận&nbsp;sự kiện&nbsp;Tôn giả&nbsp;Mahāmoggallāna lên&nbsp;cõi trời&nbsp;Tāvatiṃsa (Tam Thập Tam thiên)&nbsp;thuyết pháp&nbsp;cho&nbsp;chư thiên&nbsp;(<em>S</em>. IV. 269-80).<br>Thứ bảy,&nbsp;<em>Tương ưng&nbsp;Citta</em>&nbsp;(<em>Cittasaṃyutta</em>). Citta (Tâm)<strong>&nbsp;</strong>là tên riêng của một&nbsp;vị cư&nbsp;sĩ&nbsp;tại gia&nbsp;của&nbsp;đức Phật, có nhiều điều đặc dị,&nbsp;phi phàm.&nbsp;Vị cư&nbsp;sĩ này có những nét tương đồng với&nbsp;cư sĩ&nbsp;Duy-ma-cật trong kinh văn Hán tạng. Trước hết, sau khi&nbsp;đảnh lễ&nbsp;chư Tăng,&nbsp;cư sĩ&nbsp;Citta đã&nbsp;thuyết pháp&nbsp;cho chúng Tỷ-kheo (<em>S</em>. IV. 281). Có&nbsp;trường hợp,&nbsp;cư sĩ&nbsp;Citta đã&nbsp;giải thích&nbsp;bài kệ&nbsp;cho&nbsp;Trưởng lão&nbsp;Kāmabhu (<em>S</em>. IV. 291). Trong&nbsp;trường hợp&nbsp;khác,&nbsp;cư sĩ&nbsp;Citta đã luận biện với các vị Nigaṇṭha (<em>S</em>. IV. 297). Ở đây,&nbsp;sở dĩ&nbsp;có khả năng như thế vì&nbsp;cư sĩ&nbsp;Citta đã&nbsp;chứng đắc&nbsp;Tứ thiền&nbsp;(<em>S</em>. IV. 300). Ngay cả trong lúc&nbsp;lâm chung,&nbsp;vị cư&nbsp;sĩ này còn&nbsp;an ủi&nbsp;ngược lại những người thăm bệnh mà trong số đó có cả&nbsp;chư thiên&nbsp;ở rừng, ở cây và khiến cho tất cả&nbsp;thính chúng&nbsp;được giải thoát&nbsp;(<em>S</em>. IV. 302).&nbsp;<em>Tương ưng</em>&nbsp;này cũng&nbsp;ghi nhận&nbsp;về&nbsp;năng lực&nbsp;thuyết giảng&nbsp;và&nbsp;sức mạnh&nbsp;thần thông&nbsp;của hai vị Tỷ-kheo trẻ mới tu. Vị thứ nhất tên là Isidatta có khả&nbsp;năng thuyết&nbsp;pháp cho các vị Tỷ-kheo&nbsp;trưởng lão&nbsp;(<em>S</em>. IV. 285)<strong>&nbsp;</strong>và vị thứ hai là Tỷ-kheo Mahaka đã&nbsp;thực hành&nbsp;thần thông, khiến mưa rơi xuống để&nbsp;cúng dường&nbsp;sự&nbsp;mát mẻ&nbsp;đến các bậc&nbsp;Trưởng lão&nbsp;(<em>S</em>. IV. 288).<br>Thứ tám,&nbsp;<em>Tương ưng&nbsp;Thôn trưởng</em>&nbsp;(<em>Gāmaṇisaṃyutta</em>). Trong&nbsp;<em>Tương ưng</em>&nbsp;này,&nbsp;đức Phật&nbsp;hóa giải những&nbsp;định kiến&nbsp;sai lầm&nbsp;cho các vị thôn trưởng về các&nbsp;quan niệm&nbsp;như tàn bạo và&nbsp;hiền lành&nbsp;(<em>S</em>. IV. 305). Người làm kẻ khác&nbsp;loạn tâm,&nbsp;đam mê&nbsp;chơi bời sẽ bị đọa vào&nbsp;địa ngục&nbsp;Hý Tiếu (Pahāsa) (<em>S</em>. IV. 306).&nbsp;Đặc biệt,&nbsp;<em>Tương ưng</em>&nbsp;này nêu rõ sự khác biệt giữa cầu siêu theo&nbsp;quan điểm&nbsp;của Bà-la-môn và cầu siêu theo&nbsp;quan điểm&nbsp;của&nbsp;Phật giáo&nbsp;(<em>S</em>. IV. 311).<br>Thứ chín,&nbsp;<em>Tương ưng Vô vi</em>&nbsp;(<em>Asaṅkhatasaṃyutta</em>) định nghĩa thế nào là&nbsp;vô vi&nbsp;và&nbsp;con đường&nbsp;dẫn đến&nbsp;vô vi&nbsp;(<em>S</em>. IV. 360).&nbsp;<em>Tương ưng</em>&nbsp;này cũng&nbsp;liệt kê&nbsp;những tên khác nhau chỉ cho&nbsp;vô lậu&nbsp;(<em>S</em>. IV. 370).<br><em>Tương ưng</em>&nbsp;thứ mười của&nbsp;<em>Thiên&nbsp;Sáu xứ</em>&nbsp;là&nbsp;<em>Tương ưng&nbsp;Không thuyết&nbsp;</em>(<em>Abyākatasaṃyutta</em>).&nbsp;<em>Tương ưng</em>&nbsp;này đề cập đến những câu hỏi mà không được&nbsp;Như Lai&nbsp;trả lời&nbsp;vì chúng không&nbsp;thiết thực&nbsp;với&nbsp;đương cơ&nbsp;của người hỏi (<em>S</em>. IV. 388). Điểm đặc thù trong&nbsp;<em>Tương ưng</em>&nbsp;này&nbsp;ghi nhận&nbsp;về&nbsp;trường hợp&nbsp;Tỷ-kheo-ni Khema&nbsp;thuyết pháp&nbsp;cho Vua Pasenadi (<em>S</em>. IV. 374).&nbsp;Vị trí&nbsp;của&nbsp;bài kinh&nbsp;này nên được xếp vào trong&nbsp;<em>Tương ưng&nbsp;Kosala</em>&nbsp;hoặc&nbsp;<em>Tương ưng&nbsp;Tỷ-kheo-ni</em>&nbsp;thì&nbsp;thích hợp&nbsp;hơn.</p>



<p class="wp-block-paragraph"><strong>2.5&nbsp;<em>Thiên Đại (Mahāvagga)</em></strong><em>Thiên Đại&nbsp;</em>(<em>Mahāvagga</em>) có 12&nbsp;<em>Tương ưng</em>&nbsp;với&nbsp;<em>Tương ưng&nbsp;Đạo</em>&nbsp;(<em>Maggasaṃyutta</em>) là&nbsp;<em>Tương ưng</em>&nbsp;đầu tiên. Ở&nbsp;<em>Tương ưng</em>&nbsp;này,&nbsp;đức Phật&nbsp;giải thích&nbsp;một nửa&nbsp;Phạm hạnh&nbsp;và&nbsp;toàn bộ&nbsp;Phạm hạnh&nbsp;cho&nbsp;Tôn giả&nbsp;Ānanda (<em>S</em>. V. 1). Những&nbsp;bài kinh&nbsp;kế tiếp,&nbsp;đức Phật&nbsp;trình bày,&nbsp;giải thích&nbsp;những&nbsp;phương diện&nbsp;khác nhau của&nbsp;Thánh đạo&nbsp;tám ngành, từ&nbsp;chánh kiến&nbsp;cho đến&nbsp;chánh định. “<em>Cái gì là giá&nbsp;chống đỡ&nbsp;cho tâm</em>?<em>&nbsp;Chính là&nbsp;Thánh đạo&nbsp;tám ngành</em>” (<em>S</em>. V. 20).<br>Thứ hai,&nbsp;<em>Tương ưng&nbsp;Giác chi</em>&nbsp;(<em>Bojjhaṅgasaṃyutta</em>). “<em>Cho đến&nbsp;như thế nào</em>,<em>&nbsp;bạch&nbsp;Thế Tôn</em>,&nbsp;<em>được gọi là&nbsp;giác chi</em>?<em>”</em>&nbsp;“<em>Vì chúng đưa đến&nbsp;giác ngộ</em>,<em>&nbsp;này các Tỷ-kheo, do vậy nên chúng được gọi là&nbsp;giác chi</em>” (<em>S</em>. V. 72). Nếu&nbsp;hành giả&nbsp;tu tập&nbsp;thuần thục&nbsp;theo&nbsp;bảy giác chi&nbsp;thì có thể đoạn trừ bệnh tật (<em>S</em>. V. 79-81). Vì sao vậy, vì&nbsp;bảy giác chi&nbsp;có khả năng đoạn trừ những&nbsp;cấu uế&nbsp;trong tâm cũng như muốn có vàng&nbsp;tinh luyện&nbsp;thì phải trừ sạch những&nbsp;cấu uế&nbsp;của vàng (<em>S</em>. V. 92). Như vậy: “<em>Này các Tỷ-kheo</em>,<em>&nbsp;với&nbsp;mục đích&nbsp;thắng tri</em>,<em>&nbsp;liễu tri</em>,<em>&nbsp;đoạn diệt</em>,<em>&nbsp;đoạn tận năm thượng phần&nbsp;kiết sử</em>,<em>&nbsp;bảy giác chi&nbsp;cần phải&nbsp;tu tập</em>” (<em>S</em>. V. 139).<br>Thứ ba,&nbsp;<em>Tương ưng&nbsp;Niệm xứ</em>&nbsp;(<em>Satipaṭṭhānasaṃyutta</em>).<strong>&nbsp;</strong><em>Tương ưng</em>&nbsp;này đề cập đến pháp tu&nbsp;bốn niệm xứ&nbsp;gồm thân, thọ, tâm, pháp.&nbsp;Pháp môn&nbsp;bốn niệm xứ&nbsp;được&nbsp;đức Phật&nbsp;khẳng định rằng: “<em>Có&nbsp;con đường&nbsp;độc nhất này</em>,<em>&nbsp;này các Tỷ-kheo</em>,&nbsp;<em>khiến cho các loài&nbsp;hữu tình&nbsp;được&nbsp;thanh tịnh</em>,<em>&nbsp;vượt qua&nbsp;được&nbsp;sầu bi</em>,&nbsp;<em>chấm dứt&nbsp;khổ ưu</em>,<em>&nbsp;chứng đạt chánh lý</em>,<em>&nbsp;chứng ngộ&nbsp;Niết-bàn</em>” (<em>S</em>. V. 141).&nbsp;Bốn niệm xứ&nbsp;cũng là nội dung&nbsp;tu tập&nbsp;được&nbsp;đức Phật&nbsp;huấn thị trong kỳ&nbsp;an cư&nbsp;cuối cùng&nbsp;tại làng Beluva thuộc thành Vesāli (<em>S</em>. V. 152). Theo&nbsp;đức Phật,&nbsp;bốn niệm xứ&nbsp;được&nbsp;tu tập&nbsp;là&nbsp;điều kiện&nbsp;cơ bản để&nbsp;Chánh pháp&nbsp;được&nbsp;tồn tại&nbsp;lâu dài&nbsp;(<em>S</em>. V. 172).<br>Thứ tư,&nbsp;<em>Tương ưng&nbsp;Căn</em>&nbsp;(<em>Indriyasaṃyutta</em>). “<em>Này các Tỷ-kheo</em>,<em>&nbsp;có năm căn này</em>.<em>&nbsp;Thế nào là năm</em>?<em>&nbsp;Tín căn</em>,&nbsp;<em>tấn căn</em>,&nbsp;<em>niệm căn</em>,&nbsp;<em>định căn</em>,&nbsp;<em>tuệ căn</em>.&nbsp;<em>Này các Tỷ-kheo những pháp này là năm căn</em>” (<em>S</em>. V. 193).&nbsp;Hành giả&nbsp;khi&nbsp;tu tập, cần quán&nbsp;tín căn&nbsp;trong bốn&nbsp;chánh tín,&nbsp;tấn căn&nbsp;trong&nbsp;bốn chánh cần,&nbsp;niệm căn&nbsp;trong&nbsp;bốn niệm xứ,&nbsp;định căn&nbsp;trong&nbsp;bốn thiền,&nbsp;tuệ căn&nbsp;trong&nbsp;bốn Thánh đế&nbsp;(<em>S</em>. V. 196). Giữa căn và lực có mối&nbsp;liên hệ&nbsp;chặt chẽ&nbsp;với nhau. “<em>Cái gì là&nbsp;tín căn</em>,&nbsp;<em>này các Tỷ-kheo</em>,&nbsp;<em>cái ấy là&nbsp;tín lực</em>.&nbsp;<em>Cái gì là&nbsp;tín lực</em>,&nbsp;<em>cái ấy là&nbsp;tín căn</em>…&nbsp;<em>Cái gì là&nbsp;tuệ căn</em>,&nbsp;<em>cái ấy là&nbsp;tuệ lực</em>.&nbsp;<em>Cái gì là&nbsp;tuệ lực</em>,&nbsp;<em>cái ấy là&nbsp;tuệ căn</em>”<em>&nbsp;</em>(<em>S</em>. V. 219).<br>Thứ năm,&nbsp;<em>Tương ưng&nbsp;Chánh cần</em>&nbsp;(<em>Sammappadhānasaṃyutta</em>),&nbsp;gồm có&nbsp;bốn: “<em>Ở đây</em>,&nbsp;<em>này các Tỷ-kheo</em>,&nbsp;<em>Tỷ-kheo đối với các ác</em>,&nbsp;<em>bất thiện&nbsp;pháp chưa sanh</em>,&nbsp;<em>khởi lên&nbsp;ý muốn&nbsp;không cho&nbsp;sanh khởi</em>,&nbsp;<em>tinh cần</em>,&nbsp;<em>tinh tấn</em>,&nbsp;<em>quyết tâm</em>,&nbsp;<em>cố gắng</em>.&nbsp;<em>Đối với các ác</em>,&nbsp;<em>bất thiện&nbsp;pháp đã sanh</em>,&nbsp;<em>khởi lên&nbsp;ý muốn&nbsp;đoạn tận</em>,&nbsp;<em>tinh cần</em>,&nbsp;<em>tinh tấn</em>,&nbsp;<em>quyết tâm</em>,&nbsp;<em>cố gắng</em>.<em>&nbsp;Đối với các&nbsp;thiện pháp&nbsp;chưa sanh</em>,&nbsp;<em>khởi lên&nbsp;ý muốn&nbsp;làm cho&nbsp;sanh khởi</em>,&nbsp;<em>tinh cần</em>,&nbsp;<em>tinh tấn</em>,&nbsp;<em>quyết tâm</em>,&nbsp;<em>cố gắng</em>.&nbsp;<em>Đối với các&nbsp;thiện pháp&nbsp;đã sanh</em>,&nbsp;<em>khởi lên&nbsp;ý muốn&nbsp;làm cho&nbsp;an trú</em>,&nbsp;<em>không cho vong thất</em>,&nbsp;<em>làm cho&nbsp;tăng trưởng</em>,&nbsp;<em>làm cho&nbsp;quảng đại</em>,&nbsp;<em>tu tập</em>,&nbsp;<em>làm cho&nbsp;viên mãn</em>,&nbsp;<em>tinh cần</em>,&nbsp;<em>tinh tấn</em>,&nbsp;<em>quyết tâm</em>,&nbsp;<em>cố gắng</em>.&nbsp;<em>Những pháp này</em>,&nbsp;<em>này các Tỷ-kheo</em>,&nbsp;<em>là&nbsp;bốn chánh cần</em>.”&nbsp;<em>Như vậy</em>,<em>&nbsp;này các Tỷ-kheo</em>,&nbsp;<em>Tỷ-kheo&nbsp;tu tập&nbsp;bốn chánh cần</em>,&nbsp;<em>làm cho&nbsp;sung mãn&nbsp;bốn chánh cần</em>” (<em>S</em>. V. 224). Như vậy: “<em>Để thắng tri</em>,&nbsp;<em>liễu tri</em>,&nbsp;<em>đoạn diệt</em>,&nbsp;<em>đoạn tận năm thượng phần&nbsp;kiết sử</em>,&nbsp;<em>bốn chánh cần&nbsp;này&nbsp;cần phải&nbsp;tu tập</em>” (<em>S</em>. V. 247).<br>Thứ sáu,&nbsp;<em>Tương ưng&nbsp;Lực</em>&nbsp;(<em>Balasaṃyutta</em>).&nbsp;“<em>Có&nbsp;năm lực&nbsp;này</em>,&nbsp;<em>này các Tỷkheo</em>.&nbsp;<em>Thế nào là năm</em>?&nbsp;<em>Tín lực</em>,&nbsp;<em>tấn lực</em>,&nbsp;<em>niệm lực</em>,<em>&nbsp;định lực</em>,&nbsp;<em>tuệ lực</em>.&nbsp;<em>Những pháp này, này các Tỷ-kheo</em>,&nbsp;<em>là&nbsp;năm lực</em>” (<em>S</em>. V. 249). Nhờ&nbsp;tu tập&nbsp;năm lực&nbsp;này đến mức&nbsp;thuần thục&nbsp;sẽ hướng&nbsp;hành giả&nbsp;xuôi về Niết-bàn.<br>Thứ bảy,&nbsp;<em>Tương ưng&nbsp;Như ý túc</em>&nbsp;(<em>Iddhipādasaṃyutta</em>).&nbsp;“<em>Ở đây</em>,<em>&nbsp;này các Tỷkheo</em>,<em>&nbsp;Tỷ-kheo&nbsp;tu tập&nbsp;như ý túc&nbsp;câu hữu&nbsp;với dục định&nbsp;tinh cần&nbsp;hành</em>;<em>&nbsp;tu tập&nbsp;như ý túc&nbsp;câu hữu&nbsp;với&nbsp;tinh tấn&nbsp;định&nbsp;tinh cần&nbsp;hành</em>;<em>&nbsp;tu tập&nbsp;như ý túc&nbsp;câu hữu&nbsp;với&nbsp;tâm định&nbsp;tinh cần&nbsp;hành</em>;<em>&nbsp;tu tập&nbsp;như ý túc&nbsp;câu hữu&nbsp;với tư</em><strong>&nbsp;</strong><em>duy định&nbsp;tinh cần&nbsp;hành</em>.&nbsp;<em>Những pháp này</em>,<em>&nbsp;này các Tỷ-kheo</em>,<em>&nbsp;là&nbsp;bốn như ý túc</em>,<em>&nbsp;được&nbsp;tu tập</em>,<em>&nbsp;được làm cho&nbsp;sung mãn</em>,<em>&nbsp;đưa từ bờ bên này&nbsp;đến bờ bên kia</em>” (<em>S</em>. V. 254). “<em>Và do&nbsp;tu tập</em>,<em>&nbsp;do làm cho&nbsp;sung mãn&nbsp;bốn như ý túc&nbsp;này</em>,<em>&nbsp;Như Lai&nbsp;được gọi là bậc A-la-hán&nbsp;Chánh Đẳng Giác</em>” (<em>S</em>. V. 257).<br>Thứ tám,&nbsp;<em>Tương ưng&nbsp;Anuruddha</em>&nbsp;(<em>Anuruddhasaṃyutta</em>).&nbsp;<em>Tương ưng</em>&nbsp;này đề cập đến&nbsp;tư duy, sự&nbsp;thực hành&nbsp;và&nbsp;giảng thuyết&nbsp;của&nbsp;Tôn giả&nbsp;Anuruddha đối với&nbsp;bốn niệm xứ. Thậm chí gặp lúc bệnh tật, nhờ quán&nbsp;bốn niệm xứ&nbsp;nên&nbsp;khổ thọ&nbsp;về thân có khởi lên cũng không&nbsp;ảnh hưởng&nbsp;đến tâm (<em>S</em>. V. 302).<br>Thứ chín,&nbsp;<em>Tương ưng&nbsp;Thiền</em>&nbsp;(<em>Jhānasaṃyutta</em>).&nbsp;<em>Tương ưng</em>&nbsp;này đề cập về&nbsp;tứ thiền&nbsp;và những ví dụ&nbsp;liên quan&nbsp;nhằm làm&nbsp;sáng tỏ&nbsp;tứ thiền. Nhờ&nbsp;tu tập&nbsp;thuần thục&nbsp;và&nbsp;thành tựu&nbsp;tứ thiền&nbsp;nên năm thượng phần&nbsp;kiết sử&nbsp;được thắng tri,&nbsp;liễu tri,&nbsp;đoạn diệt, đoạn tận (<em>S</em>. V. 309).<br>Thứ mười,&nbsp;<em>Tương ưng&nbsp;Hơi thở&nbsp;vô</em>,<em>&nbsp;hơi thở&nbsp;ra&nbsp;</em>(<em>Ānāpānasaṃyutta</em>).<strong>&nbsp;</strong>Đây là pháp&nbsp;thiền tập&nbsp;với nhiều&nbsp;diệu dụng&nbsp;vì “<em>ngay trong&nbsp;hiện tại&nbsp;có thể&nbsp;chứng đắc&nbsp;Chánh trí</em>,<em>&nbsp;nếu còn dư y thì&nbsp;chứng quả&nbsp;Bất lai</em>” (<em>S</em>. V. 313).&nbsp;Duyên khởi pháp&nbsp;hành này bắt nguồn từ nhiều vị Tỷ-kheo sau khi&nbsp;tu pháp&nbsp;quán bất tịnh, đã nảy sinh sự&nbsp;chán ghét&nbsp;thân mình cùng cực nên có 30 vị Tỷ-kheo đã&nbsp;tự sát&nbsp;trong một ngày (<em>S</em>. V. 320). Từ&nbsp;thực tế&nbsp;đó,&nbsp;đức Phật&nbsp;đã dạy&nbsp;pháp hành&nbsp;này với sự khẳng định&nbsp;chắc chắn: “<em>Này các Tỷ-kheo</em>,<em>&nbsp;định niệm&nbsp;hơi thở&nbsp;vô</em>,<em>&nbsp;hơi thở&nbsp;ra này được&nbsp;tu tập</em>,<em>&nbsp;được làm cho&nbsp;sung mãn&nbsp;là&nbsp;tịch tịnh</em>,<em>&nbsp;thù diệu</em>,<em>&nbsp;thuần nhất</em>,<em>&nbsp;lạc trú</em>,<em>&nbsp;làm cho các ác</em>,<em>&nbsp;bất thiện&nbsp;pháp đã sanh biến mất</em>,<em>&nbsp;tịnh chỉ&nbsp;lập tức</em>” (<em>S</em>. V. 320). Không những vậy, trong một&nbsp;trường hợp&nbsp;khác,&nbsp;đức Phật&nbsp;tái khẳng định: “<em>Này các Tỷkheo</em>,<em>&nbsp;ai muốn nói một cách chơn chánh</em>,<em>&nbsp;đây là Thánh trú</em>,<em>&nbsp;đây là&nbsp;Phạm trú</em>,<em>&nbsp;đây là&nbsp;Như Lai&nbsp;trú</em>,<em>&nbsp;người ấy nói một cách chơn chánh</em>,<em>&nbsp;phải nói định niệm&nbsp;hơi thở&nbsp;vô</em>,<em>&nbsp;hơi thở&nbsp;ra là Thánh trú</em>,<em>&nbsp;là&nbsp;Phạm trú</em>,<em>&nbsp;là&nbsp;Như Lai&nbsp;trú</em>” (<em>S</em>. V. 325).<br>Thứ mười một,&nbsp;<em>Tương ưng&nbsp;Dự lưu</em>&nbsp;(<em>Sotāpattisaṃyutta</em>). Khi một&nbsp;hành giả&nbsp;thành tựu&nbsp;niềm&nbsp;tịnh tín&nbsp;bất động&nbsp;đối với Phật, Pháp, Tăng và giới,&nbsp;hành giả&nbsp;đó&nbsp;thành tựu&nbsp;quả vị&nbsp;Dự lưu&nbsp;(<em>S</em>. V. 342).&nbsp;Dự lưu&nbsp;là&nbsp;Thánh vị&nbsp;đầu tiên trong bốn&nbsp;Thánh quả.&nbsp;Đạt được&nbsp;quả vị&nbsp;này,&nbsp;hành giả&nbsp;có thể tự&nbsp;tuyên bố&nbsp;về mình: “<em>Ta đã đoạn tận&nbsp;địa ngục</em>,<em>&nbsp;ta đã đoạn tận loài&nbsp;bàng sanh</em>,<em>&nbsp;ta đã đoạn tận&nbsp;cõi ngạ quỷ</em>,<em>&nbsp;ta đã đoạn tận&nbsp;ác xứ</em>,<em>&nbsp;ác thú</em>,<em>&nbsp;đọa xứ</em>.<em>&nbsp;Ta là bậc&nbsp;Dự Lưu</em>,&nbsp;<em>không còn bị thối đọa</em>,&nbsp;<em>quyết chắc&nbsp;chứng quả&nbsp;giác ngộ</em>” (<em>S</em>. V. 358). Cũng trong&nbsp;<em>Tương ưng</em>&nbsp;này,&nbsp;đức Phật&nbsp;đưa ra định nghĩa thế nào là người&nbsp;cư sĩ: “<em>Ai&nbsp;quy y Phật</em>,<em>&nbsp;này Mahānāma</em>,&nbsp;<em>quy y Pháp</em>,&nbsp;<em>quy y&nbsp;chúng Tăng</em>.&nbsp;<em>Cho đến&nbsp;như vậy</em>,&nbsp;<em>này Mahānāma</em>,&nbsp;<em>là người&nbsp;cư sĩ</em>” (<em>S</em>. V. 395).<br>Thứ mười hai<strong>&nbsp;</strong>là<strong>&nbsp;</strong><em>Tương ưng&nbsp;Sự thật</em>&nbsp;(<em>Saccasaṃyutta</em>).&nbsp;<em>Tương ưng</em>&nbsp;này lược thuyết, quảng thuyết các&nbsp;phương diện&nbsp;khác nhau của bốn&nbsp;chân lý&nbsp;cao thượng,&nbsp;bao gồm&nbsp;cả bài pháp quan trọng đầu tiên gọi là&nbsp;<em>Kinh&nbsp;Chuyển pháp luân</em>&nbsp;(<em>Dhammacakkappavattanasutta</em>) (<em>S</em>. V. 420).</p>



<p class="wp-block-paragraph"><strong>3.&nbsp;Kết luận</strong>Để&nbsp;giữ gìn&nbsp;sự&nbsp;toàn vẹn&nbsp;kho tàng&nbsp;Chánh pháp, các bậc Thánh&nbsp;đệ tử&nbsp;của&nbsp;đức Phật&nbsp;đã vận dụng nhiều&nbsp;phương cách&nbsp;khác nhau. Một trong những&nbsp;phương cách&nbsp;tối ưu nhằm bổ trợ cho sự ghi nhớ, đó là việc sắp xếp các kinh theo&nbsp;các chủ&nbsp;đề, sự vật,&nbsp;hiện tượng, con người… chung một mối&nbsp;liên hệ&nbsp;với một&nbsp;trật tự&nbsp;nhất định. Nhờ vậy, người&nbsp;tu học&nbsp;sẽ dễ dàng lưu giữ nhiều&nbsp;vấn đề&nbsp;do tính&nbsp;liên hệ&nbsp;gợi mở của chúng, vì đây là một trong những&nbsp;quy luật&nbsp;cơ bản của&nbsp;tư duy. Việc tổ chức, sắp xếp những&nbsp;bài kinh&nbsp;có những thuộc tính giống nhau vào thành từng nhóm như trong&nbsp;<em>Tương ưng bộ</em>&nbsp;là&nbsp;việc làm&nbsp;có khoa học mà&nbsp;Phật giáo&nbsp;đã&nbsp;thực hiện&nbsp;từ rất sớm.<br>Nhờ&nbsp;tính chất&nbsp;đặc thù đó nên đã có những nội dung&nbsp;liên hệ&nbsp;đến&nbsp;giáo pháp, đến&nbsp;đức Phật&nbsp;được&nbsp;ghi nhận&nbsp;đầy đủ và trình bày&nbsp;hết sức&nbsp;phong phú, khó có thể&nbsp;tìm thấy&nbsp;trong bốn bộ&nbsp;<em>Nikāya</em><strong>&nbsp;</strong>còn lại. Không những vậy,&nbsp;<em>Tương ưng bộ</em>&nbsp;này còn&nbsp;giữ gìn&nbsp;được những tư liệu cổ xưa&nbsp;liên quan đến&nbsp;phong tục tập quán và&nbsp;quan điểm&nbsp;triết học&nbsp;trong&nbsp;xã hội&nbsp;Ấn Độ&nbsp;cổ đại. Qua đó&nbsp;gián tiếp&nbsp;khẳng định rằng, có những tư liệu, những lời dạy của&nbsp;đức Phật&nbsp;mang tính cổ xưa hoặc gần với&nbsp;nguyên thủy&nbsp;đã có mặt trong&nbsp;<em>Tương ưng bộ</em>&nbsp;này. Bên cạnh đó, sự tương đồng về những&nbsp;bài kệ&nbsp;giữa&nbsp;<em>Tương ưng bộ</em>&nbsp;và&nbsp;<em>Kinh</em><em>Tập</em><strong>&nbsp;</strong>cũng như hai&nbsp;tác phẩm&nbsp;thuộc&nbsp;Luật tạng&nbsp;Pāli là&nbsp;<em>Mahāvagga</em><strong>&nbsp;</strong>và<strong>&nbsp;</strong><em>Cullavagga</em>, đã góp phần bổ sung tính&nbsp;chân thực&nbsp;và tương đồng về&nbsp;phương diện&nbsp;văn bản.<br>Dịch phẩm&nbsp;<em>Tương ưng bộ</em>&nbsp;của cố&nbsp;Trưởng lão&nbsp;Hòa thượng&nbsp;Thích&nbsp;Minh Châu&nbsp;đã&nbsp;trải qua&nbsp;ba lần tái bản. Trong ấn bản lần này,&nbsp;bộ kinh&nbsp;được bổ sung một số&nbsp;tiêu đề&nbsp;tương ứng&nbsp;với nguyên tác Pāli, một số phụ chú, trích dẫn&nbsp;tham chiếu&nbsp;Pāli, Hán văn, Anh văn và một vài nhuận sắc&nbsp;cần thiết, do các thành viên của Viện&nbsp;Nghiên cứu&nbsp;Phật học&nbsp;Việt Nam&nbsp;được phân công&nbsp;thực hiện.&nbsp;Chúng tôi&nbsp;tin tưởng&nbsp;rằng, đây là một dịch phẩm tiếng Việt&nbsp;<em>Tương ưng bộ</em>&nbsp;khá&nbsp;hoàn thiện&nbsp;tính đến thời điểm hiện nay.</p>



<p class="wp-block-paragraph"><em>Viện&nbsp;Nghiên cứu&nbsp;Phật học&nbsp;Việt Nam,</em><em>ngày 19-9-2019</em><br>Cẩn chí<br><strong>TT.TS. THÍCH MINH THÀNH</strong><br>(Đồng Tổng&nbsp;Biên tập&nbsp;Tam tạng&nbsp;Thánh điển&nbsp;Phật giáo Việt Nam)</p>



<hr class="wp-block-separator has-alpha-channel-opacity"/>



<p class="wp-block-paragraph"><a href="http://vncphathoc.com/dai-tang-kinh-viet-nam/kinh-tuong-ung-bo/dan-luan-kinh-tuong-ung-bo.html#_ftnref1">[1]</a>&nbsp;Dhammakitti Mahāsāmi.&nbsp;<em>Saddhammasaṅgaha</em>&nbsp;(<em>Diệu pháp&nbsp;yếu lược</em>), tr. by Bhikkhu Indacanda, (Colombo: Sri Jayawardhanaramaya, 2003), tr. 19.</p>



<p class="wp-block-paragraph"><a href="http://vncphathoc.com/dai-tang-kinh-viet-nam/kinh-tuong-ung-bo/dan-luan-kinh-tuong-ung-bo.html#_ftnref2">[2]</a><em>Sāratthappakāsinī</em>, Devatāsaṃyuttaṃ: Tattha saṃyuttāgamo<strong>&nbsp;</strong>nāma sagāthāvaggo, nidānavaggo, khandhakavaggo, saḷāyatanavaggo, mahāvaggoti pañcavaggo hoti. Suttato &#8211; ‘‘Satta suttasahassāni, satta suttasatāni ca dvāsaṭṭhi ceva suttāni, eso saṃyuttasaṅgaho.’’</p>



<p class="wp-block-paragraph"><a href="http://vncphathoc.com/dai-tang-kinh-viet-nam/kinh-tuong-ung-bo/dan-luan-kinh-tuong-ung-bo.html#_ftnref3">[3]</a><em>Sāratthappakāsinī</em>, Ganthārambhakathā: Saṃyuttavaggapaṭimaṇḍitassa, saṃyuttaāgamavarassa; Buddhānubuddhasaṃvaṇṇitassa, ñāṇappabhedajananassa.</p>



<p class="wp-block-paragraph"><a href="http://vncphathoc.com/dai-tang-kinh-viet-nam/kinh-tuong-ung-bo/dan-luan-kinh-tuong-ung-bo.html#_ftnref4">[4]</a><em>The Connected Discourses of the Buddha</em>,&nbsp;<em>A Translation of the</em><em>Saṃyutta Nikāya</em>, tr. by Bhikkhu Bodhi (Massachusetts: Wisdom Publications, 2000), p. 23f.</p>



<p class="wp-block-paragraph"><a href="http://vncphathoc.com/dai-tang-kinh-viet-nam/kinh-tuong-ung-bo/dan-luan-kinh-tuong-ung-bo.html#_ftnref5">[5]</a><a href="https://www.tipitaka.org/">https://www.tipitaka.org/.</a>&nbsp;Phiên bản điện tử Pāḷi Tipiṭaka do Vipassana Research Institute (Ấn Độ)&nbsp;thực hiện&nbsp;được&nbsp;chúng tôi&nbsp;khảo cứu và trên cơ sở đó đánh số trong bản tiếng Việt.</p>



<p class="wp-block-paragraph"><a href="http://vncphathoc.com/dai-tang-kinh-viet-nam/kinh-tuong-ung-bo/dan-luan-kinh-tuong-ung-bo.html#_ftnref6">[6]</a><em>The Connected Discourses of the Buddha</em>,&nbsp;<em>A Translation of the</em><em>Saṃyutta Nikāya</em>, tr. by Bhikkhu Bodhi (Massachusetts: Wisdom Publications, 2000), p. 26. Cf. For the<em>&nbsp;Sāratthappakāsinī,&nbsp;</em>the&nbsp;<em>Saṃyutta Nikāya</em><em>Commentary</em>, itself provides us with a check on the contents of the collection at our disposal, and from this it is evident that there are no suttas commented on by Buddhaghosa that are missing from the&nbsp;<em>Saṃyutta</em><em>Nikāya</em>&nbsp;we currently possess.</p>



<p class="wp-block-paragraph"><a href="http://vncphathoc.com/dai-tang-kinh-viet-nam/kinh-tuong-ung-bo/dan-luan-kinh-tuong-ung-bo.html#_ftnref7">[7]</a><em>The Connected Discourses of the Buddha</em>,&nbsp;<em>A Translation of the</em><em>Saṃyutta Nikāya</em>, tr. by Bhikkhu Bodhi (Massachusetts: Wisdom Publications, 2000), p. 23.&nbsp;<sup>8</sup><em>Ibid</em>., p. 54.</p>



<p class="wp-block-paragraph"><a href="http://vncphathoc.com/dai-tang-kinh-viet-nam/kinh-tuong-ung-bo/dan-luan-kinh-tuong-ung-bo.html#_ftnref8">[8]</a><em>Sacred Books of the East</em>, vol. 25, tr. by George Bühler (Oxford: Oxford University Press, 1886), p. 195. Cf<em>.&nbsp;</em>In childhood a female must be subject to her father, in youth to her husband, when her lord is dead to her sons; a woman must never be independent<em>.</em>&nbsp;Xem thêm&nbsp;<em>Tương ưng bộ</em>&nbsp;(<em>S</em>. V. 246): “Do đầy đủ một&nbsp;sức mạnh, này các Tỷ-kheo, người đàn ông&nbsp;tiếp tục&nbsp;chinh phục&nbsp;người đàn bà. Thế nào là một sức mạnh?&nbsp;Sức mạnh&nbsp;của người làm chủ (<em>issariyabalena</em>). Người đàn bà đã bị&nbsp;chinh phục&nbsp;bởi&nbsp;sức mạnh&nbsp;của người làm chủ, này các Tỷ-kheo, thời&nbsp;sức mạnh&nbsp;nhan sắc&nbsp;không&nbsp;che chở&nbsp;được,&nbsp;sức mạnh&nbsp;tài sản&nbsp;không&nbsp;che chở&nbsp;được,&nbsp;sức mạnh&nbsp;bà con&nbsp;không&nbsp;che chở&nbsp;được,&nbsp;sức mạnh&nbsp;con trai không&nbsp;che chở&nbsp;được,&nbsp;sức mạnh&nbsp;giới hạnh&nbsp;không&nbsp;che chở&nbsp;được” (HT. Thích&nbsp;Minh Châu&nbsp;dịch).</p>



<p class="wp-block-paragraph"><a href="http://vncphathoc.com/dai-tang-kinh-viet-nam/kinh-tuong-ung-bo/dan-luan-kinh-tuong-ung-bo.html#_ftnref9">[9]</a>&nbsp;Oskar von Hinüber,&nbsp;<em>Handbook of Pāli Literature</em>&nbsp;(Berlin: Walter de Gruyter, 1996), p. 36. Cf. According to<em>&nbsp;S</em>. V, p. vi, the Sinhalese and the Burmese manuscripts of Saṃyutta Nikāya<em>&nbsp;</em>almost look like copies of two different texts.</p>



<p class="wp-block-paragraph"></p>



<div class="wp-block-blockspare-blockspare-iconset aligncenter blockspare-2232968c-b013-4 blockspare-blocks" blockspare-animation=""><style>.blockspare-2232968c-b013-4 .blockspare-block-icon-wrapper{text-align:center;margin-top:30px;margin-right:0px;margin-bottom:30px;margin-left:0px}.blockspare-2232968c-b013-4 .blockspare-block-icon-wrapper .blockspare-block-icon{padding-top:30px;padding-right:30px;padding-bottom:30px;padding-left:30px;color:#fff;border-radius:50%}.blockspare-2232968c-b013-4 .blockspare-block-icon-wrapper .blockspare-block-icon::after{background-color:#ce242c;opacity:1}</style><div class="blockspare-block-icon-wrapper"><div class="blockspare-block-icon blockspare-icon-size-medium blockspare-icon-style2 blockspare-hover-item"><i class="far fa-file-pdf" aria-hidden="true"></i></div></div></div>



<p class="wp-block-paragraph"><a href="https://thuvienhoasen.org/images/file/yej8bJCf2QgBAFdC/pdf-icon-4-.jpg"></a></p>



<div class="wp-block-file aligncenter"><a id="wp-block-file--media-85d0aab9-94ce-4231-92ef-98fa3e30a23c" href="https://tangkinhcac.org/wp-content/uploads/2026/02/3.-KINH-TUONG-UNG-BO-Saṃyutta-Nikaya_compressed.pdf">3. KINH TƯƠNG ƯNG BỘ (Saṃyutta Nikāya)_compressed</a><a href="https://tangkinhcac.org/wp-content/uploads/2026/02/3.-KINH-TUONG-UNG-BO-Saṃyutta-Nikaya_compressed.pdf" class="wp-block-file__button wp-element-button" download aria-describedby="wp-block-file--media-85d0aab9-94ce-4231-92ef-98fa3e30a23c">Download</a></div>



<p class="wp-block-paragraph"><br><a href="https://tangkinhcac.org/wp-content/uploads/2026/02/00-phan-mo-dau-1.pdf">00.-Phần-Mở-Đầu</a><br><a href="https://tangkinhcac.org/wp-content/uploads/2026/02/01-tuong-ung-chu-thien-devata-samyutta-.pdf" data-type="link" data-id="https://tangkinhcac.org/wp-content/uploads/2026/02/01-tuong-ung-chu-thien-devata-samyutta-.pdf">01.-Tương-Ưng-Chư-Thiên-(Devatā-Saṃyutta)</a><br><a href="https://tangkinhcac.org/wp-content/uploads/2026/02/02-tuong-ung-thien-tu-devaputta-samyutta-.pdf" data-type="link" data-id="https://tangkinhcac.org/wp-content/uploads/2026/02/02-tuong-ung-thien-tu-devaputta-samyutta-.pdf">02.-Tương-Ưng-Thiên-Tử-(Devaputta-Saṃyutta)</a><br><a href="https://tangkinhcac.org/wp-content/uploads/2026/02/03-tuong-ung-kosala-kosala-samyutta-.pdf">03.-Tương-Ưng-Kosala-(Kosala-Saṃyutta)</a><br><a href="https://tangkinhcac.org/wp-content/uploads/2026/02/04-tuong-ung-ac-ma-m-ra-sa-yutta-.pdf">04.-Tương-Ưng-Ác-Ma-(Māra-Saṃyutta)</a><br><a href="https://tangkinhcac.org/wp-content/uploads/2026/02/05-tuong-ung-ty-kheo-ni-bhikkhun-sa-yutta-.pdf">05.-Tương-Ưng-Tỷ-Kheo-Ni-(Bhikkhunī-Saṃyutta)</a><br><a href="https://tangkinhcac.org/wp-content/uploads/2026/02/06-tuong-ung-pham-thien-brahma-sa-yutta-.pdf">06.-Tương-Ưng-Phạm-Thiên-(Brahma-Saṃyutta)</a><br><a href="https://tangkinhcac.org/wp-content/uploads/2026/02/07-tuong-ung-ba-la-mon-br-hma-a-sa-yutta-.pdf">07.-Tương-Ưng-Bà-La-Môn-(Brāhmaṇa-Saṃyutta)</a><br><a href="https://tangkinhcac.org/wp-content/uploads/2026/02/08-tuong-ung-truong-lao-va-g-sa-va-g-sa-sa-yutta-.pdf">08.-Tương-Ưng-Trưởng-Lão-Vaṅgīsa-(Vaṅgīsa-Saṃyutta)</a><br><a href="https://tangkinhcac.org/wp-content/uploads/2026/02/09-tuong-ung-rung-vana-sa-yutta-.pdf">09.-Tương-Ưng-Rừng-(Vana-Saṃyutta)</a><br></p>



<p class="wp-block-paragraph"><a href="https://tangkinhcac.org/wp-content/uploads/2026/02/10-tuong-ung-da-xoa-yakkha-sa-yutta-.pdf">10.-Tương-Ưng-Dạ-Xoa-(Yakkha-Saṃyutta)</a><br><a href="https://tangkinhcac.org/wp-content/uploads/2026/02/11-tuong-ung-sakka-sakka-sa-yutta-.pdf">11.-Tương-Ưng-Sakka-(Sakka-Saṃyutta)</a><br><a href="https://tangkinhcac.org/wp-content/uploads/2026/02/12-tuong-ung-nhan-duyen-nid-na-sa-yutta-.pdf">12.-Tương-Ưng-Nhân-Duyên-(Nidāna-Saṃyutta)</a><br><a href="https://tangkinhcac.org/wp-content/uploads/2026/02/13-tuong-ung-minh-kien-abhisamaya-sa-yutta-.pdf">13.-Tương-Ưng-Minh-Kiến-(Abhisamaya-Saṃyutta)</a><br><a href="https://tangkinhcac.org/wp-content/uploads/2026/02/14-tuong-ung-gioi-dha-tu-sa-yutta-.pdf">14.-Tương-Ưng-Giới-(Dhātu-Saṃyutta)</a><br><a href="https://tangkinhcac.org/wp-content/uploads/2026/02/15-tuong-ung-vo-thi-anamatagga-sa-yutta-.pdf">15.-Tương-Ưng-Vô-Thỉ-(Anamatagga-Saṃyutta)</a><br><a href="https://tangkinhcac.org/wp-content/uploads/2026/02/16-tuong-ung-kassapa-kassapa-sa-yutta-.pdf">16.-Tương-Ưng-Kassapa-(Kassapa-Saṃyutta)</a><br><a href="https://tangkinhcac.org/wp-content/uploads/2026/02/17-tuong-ung-loi-dac-cung-kinh-la-bhasakka-ra-sa-yutta-.pdf">17.-Tương-Ưng-Lợi-Đắc,-Cung-Kính-(Lābhasakkāra-Saṃyutta)</a><br><a href="https://tangkinhcac.org/wp-content/uploads/2026/02/18-tuong-ung-ra-hula-ra-hula-sa-yutta-.pdf">18.-Tương-Ưng-Rāhula-(Rāhula-Saṃyutta)</a><br><a href="https://tangkinhcac.org/wp-content/uploads/2026/02/19-tuong-ung-lakkhana-lakkhana-sa-yutta-.pdf">19.-Tương-Ưng-Lakkhaṇa-(Lakkhaṇa-Saṃyutta)</a><br></p>



<p class="wp-block-paragraph"><a href="https://tangkinhcac.org/wp-content/uploads/2026/02/20-tuong-ung-thi-du-opamma-sa-yutta-.pdf">20.-Tương-Ưng-Thí-Dụ-(Opamma-Saṃyutta)</a><br><a href="https://tangkinhcac.org/wp-content/uploads/2026/02/21-tuong-ung-ty-kheo-bhikkhu-sa-yutta-.pdf">21.-Tương-Ưng-Tỷ-Kheo-(Bhikkhu-Saṃyutta)</a><br><a href="https://tangkinhcac.org/wp-content/uploads/2026/02/22-tuong-ung-uan-khandha-sa-yutta-.pdf">22.-Tương-Ưng-Uẩn-(Khandha-Saṃyutta)</a><br><a href="https://tangkinhcac.org/wp-content/uploads/2026/02/23-tuong-ung-r-dha-r-dha-samyutta-.pdf" data-type="link" data-id="https://tangkinhcac.org/wp-content/uploads/2026/02/23-tuong-ung-r-dha-r-dha-samyutta-.pdf">23.-Tương-Ưng-Rādha-(Rādha-Saṃyutta)</a><br><a href="https://tangkinhcac.org/wp-content/uploads/2026/02/24-tuong-ung-kien-ditthi-samyutta-.pdf">24.-Tương-Ưng-Kiến-(Diṭṭhi-Saṃyutta)</a><br><a href="https://tangkinhcac.org/wp-content/uploads/2026/02/25-tuong-ung-nhap-okkanta-samyutta-.pdf">25.-Tương-Ưng-Nhập-(Okkanta-Saṃyutta)</a><br><a href="https://tangkinhcac.org/wp-content/uploads/2026/02/26-tuong-ung-sanh-upp-da-samyutta-.pdf">26.-Tương-Ưng-Sanh-(Uppāda-Saṃyutta)</a><br><a href="https://tangkinhcac.org/wp-content/uploads/2026/02/27-tuong-ung-phien-nao-kilesa-samyutta-.pdf">27.-Tương-Ưng-Phiền-Não-(Kilesa-Saṃyutta)</a><br><a href="https://tangkinhcac.org/wp-content/uploads/2026/02/28-tuong-ung-s-riputta-s-riputta-samyutta-.pdf">28.-Tương-Ưng-Sāriputta-(Sāriputta-Saṃyutta)</a></p>



<p class="wp-block-paragraph"><a href="https://tangkinhcac.org/wp-content/uploads/2026/02/29-tuong-ung-loai-rong-n-ga-samyutta-.pdf">29.-Tương-Ưng-Loài-Rồng-(Nāga-Saṃyutta)</a><br></p>



<p class="wp-block-paragraph"><a href="https://tangkinhcac.org/wp-content/uploads/2026/02/30-tuong-ung-kim-si-dieu-supanna-samyutta-.pdf">30.-Tương-Ưng-Kim-Sí-Điểu-(Supaṇṇa-Saṃyutta)</a><br><a href="https://tangkinhcac.org/wp-content/uploads/2026/02/31-tuong-ung-can-that-ba-gandhabbak-ya-samyutta-.pdf">31.-Tương-Ưng-Càn-Thát-Bà-(Gandhabbakāya-Saṃyutta)</a><br><a href="https://tangkinhcac.org/wp-content/uploads/2026/02/32-tuong-ung-than-may-val-haka-samyutta-.pdf">32.-Tương-Ưng-Thần-Mây-(Valāhaka-Saṃyutta)</a><br><a href="https://tangkinhcac.org/wp-content/uploads/2026/02/33-tuong-ung-vacchagota-vacchagotta-samyutta-.pdf">33.-Tương-Ưng-Vacchagota-(Vacchagotta-Saṃyutta)</a><br><a href="https://tangkinhcac.org/wp-content/uploads/2026/02/34-tuong-ung-thien-jh-na-samyutta-.pdf">34.-Tương-Ưng-Thiền-(Jhāna-Saṃyutta)</a><br><a href="https://tangkinhcac.org/wp-content/uploads/2026/02/35-tuong-ung-sau-xu-sal-yatana-samyutta-.pdf">35.-Tương-Ưng-Sáu-Xứ-(Saḷāyatana-Saṃyutta)</a><br><a href="https://tangkinhcac.org/wp-content/uploads/2026/02/36-tuong-ung-tho-vedana-sa-yutta-.pdf">36.-Tương-Ưng-Thọ-(Vedanā-Saṃyutta)</a><br><a href="https://tangkinhcac.org/wp-content/uploads/2026/02/37-tuong-ung-nu-nhan-ma-tuga-ma-samyutta-.pdf">37.-Tương-Ưng-Nữ-Nhân-(Mātugāma-Saṃyutta)</a><br><a href="https://tangkinhcac.org/wp-content/uploads/2026/02/38-tuong-ung-jambukh-daka-jambukha-daka-samyutta-.pdf">38.-Tương-Ưng-Jambukhādaka-(Jambukhādaka-Saṃyutta)</a><br><a href="https://tangkinhcac.org/wp-content/uploads/2026/02/39-tuong-ung-sa-mandaka-sa-mandaka-samyutta-.pdf">39.-Tương-Ưng-Sāmaṇḍaka-(Sāmaṇḍaka-Saṃyutta)</a><br></p>



<p class="wp-block-paragraph"><a href="https://tangkinhcac.org/wp-content/uploads/2026/02/40-tuong-ung-moggal-na-moggalla-na-samyutta-.pdf">40.-Tương-Ưng-Moggalāna-(Moggallāna-Saṃyutta)</a><br><a href="https://tangkinhcac.org/wp-content/uploads/2026/02/41-tuong-ung-citta-citta-samyutta-.pdf">41.-Tương-Ưng-Citta-(Citta-Saṃyutta)</a><br><a href="https://tangkinhcac.org/wp-content/uploads/2026/02/42-tuong-ung-thon-truong-ga-mani-sa-yutta-.pdf">42.-Tương-Ưng-Thôn-Trưởng-(Gāmaṇi-Sạṃyutta)</a><br><a href="https://tangkinhcac.org/wp-content/uploads/2026/02/43-tuong-ung-vo-vi-asa-khata-samyutta-.pdf">43.-Tương-Ưng-Vô-Vi-(Asaṅkhata-Saṃyutta)</a><br><a href="https://tangkinhcac.org/wp-content/uploads/2026/02/44-tuong-ung-khong-thuyet-abya-kata-samyutta-.pdf">44.-Tương-Ưng-Không-Thuyết-(Abyākata-Saṃyutta)</a><br><a href="https://tangkinhcac.org/wp-content/uploads/2026/02/45-tuong-ung-dao-magga-samyutta-.pdf">45.-Tương-Ưng-Đạo-(Magga-Saṃyutta)</a><br><a href="https://tangkinhcac.org/wp-content/uploads/2026/02/46-tuong-ung-giac-chi-bojjhan-ga-samyutta-.pdf">46.-Tương-Ưng-Giác-Chi-(Bojjhaṅga-Saṃyutta)</a><br><a href="https://tangkinhcac.org/wp-content/uploads/2026/02/47-tuong-ung-niem-xu-satipa-h-na-sa-yutta-.pdf">47.-Tương-Ưng-Niệm-Xứ-(Satipaṭṭhāna-Saṃyutta)</a><br><a href="https://tangkinhcac.org/wp-content/uploads/2026/02/48-tuong-ung-can-indriya-sa-yutta-.pdf">48.-Tương-Ưng-Căn-(Indriya-Saṃyutta)</a><br><a href="https://tangkinhcac.org/wp-content/uploads/2026/02/49-tuong-ung-chanh-can-sammappadh-na-sa-yutta-.pdf">49.-Tương-Ưng-Chánh-Cần-(Sammappadhāna-Saṃyutta)</a><br></p>



<p class="wp-block-paragraph"><a href="https://tangkinhcac.org/wp-content/uploads/2026/02/50-tuong-ung-luc-bala-sa-yutta-.pdf">50.-Tương-Ưng-Lực-(Bala-Saṃyutta)</a><br><a href="https://tangkinhcac.org/wp-content/uploads/2026/02/51-tuong-ung-nhu-y-tuc-iddhip-da-sa-yutta-.pdf">51.-Tương-Ưng-Như-Ý-Túc-(Iddhipāda-Saṃyutta)</a><br><a href="https://tangkinhcac.org/wp-content/uploads/2026/02/52-tuong-ung-anuruddha-anuruddha-sa-yutta-.pdf">52.-Tương-Ưng-Anuruddha-(Anuruddha-Saṃyutta)</a><br><a href="https://tangkinhcac.org/wp-content/uploads/2026/02/53-tuong-ung-thien-jh-na-sa-yutta-.pdf">53.-Tương-Ưng-Thiền-(Jhāna-Saṃyutta)</a><br><a href="https://tangkinhcac.org/wp-content/uploads/2026/02/54-tuong-ung-hoi-tho-vo-hoi-tho-ra-n-p-na-sa-yutta-.pdf">54.-Tương-Ưng-Hơi-Thở-Vô,-Hơi-Thở-Ra-(Ānāpāna-Saṃyutta)</a><br><a href="https://tangkinhcac.org/wp-content/uploads/2026/02/55-tuong-ung-du-luu-sot-patti-sa-yutta-.pdf">55.-Tương-Ưng-Dự-Lưu-(Sotāpatti-Saṃyutta)</a><br><a href="https://tangkinhcac.org/wp-content/uploads/2026/02/56-tuong-ung-su-that-sacca-sa-yutta-.pdf">56.-Tương-Ưng-Sự-Thật-(Sacca-Saṃyutta)</a><br><a href="https://tangkinhcac.org/wp-content/uploads/2026/02/phu-luc-2.pdf">Phụ-Lục</a><br><br></p>



<p class="has-text-align-right wp-block-paragraph"><a href="https://drive.google.com/file/d/1wOhGFlQbl0s-lJZnn0xgfDwplqkZlT0z/view?usp=drive_link">https://drive.google.com/file/d/1wOhGFlQbl0s-lJZnn0xgfDwplqkZlT0z/view?usp=drive_link</a></p>
<p>The post <a href="https://tangkinhcac.org/kinh-tuong-ung-bo-sa%e1%b9%83yutta-nikaya-bo-moi/">Kinh Tương Ưng Bộ &#8211; Saṃyutta Nikāya -Tam Tạng Thánh Điển Phật Giáo Việt Nam</a> appeared first on <a href="https://tangkinhcac.org">Tàng Kinh Các</a>.</p>
]]></content:encoded>
					
		
		
			</item>
		<item>
		<title>Kinh Trung Bộ &#8211; The Middle Length Discourses Of The Buddha [Song Ngữ Việt-anh]</title>
		<link>https://tangkinhcac.org/kinh-trung-bo-the-middle-length-discourses-of-the-buddha-song-ngu-viet-anh/</link>
		
		<dc:creator><![CDATA[admin]]></dc:creator>
		<pubDate>Fri, 13 Feb 2026 22:16:07 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Đại Tạng Kinh Tiếng Việt]]></category>
		<category><![CDATA[English Sutra Collection]]></category>
		<category><![CDATA[Kinh điển bằng Anh ngữ]]></category>
		<category><![CDATA[Kinh Tạng Nam Truyền]]></category>
		<category><![CDATA[Kinh Trung Bộ]]></category>
		<category><![CDATA[Pdf]]></category>
		<category><![CDATA[Thích Minh Châu]]></category>
		<category><![CDATA[Kinh trung bộ]]></category>
		<category><![CDATA[kinh trung bộ song ngữ]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://tangkinhcac.org/?p=413</guid>

					<description><![CDATA[<p>KINH TRUNG BỘ THE MIDDLE LENGTH DISCOURSES OF THE BUDDHA[SONG NGỮ VIỆT-ANH]Xem bản gốc do HT. Thích Minh Châu dịch Việt Dịch từ Pāli: HT. Thích&#160;Minh Châu.English Translation from Pāli: Bhikkhu Ñāṇamoli &#38; Bhikkhu Bodhi.Khái quát Nội dung Kinh&#160;Trung Bộ&#160;(Tác giả: TT. Thích Nhật Từ).A Summary of the Middle Discourses of the Buddha (Author: Bhikkhu Bodhi).Thực hiện&#160;sách [&#8230;]</p>
<p>The post <a href="https://tangkinhcac.org/kinh-trung-bo-the-middle-length-discourses-of-the-buddha-song-ngu-viet-anh/">Kinh Trung Bộ &#8211; The Middle Length Discourses Of The Buddha [Song Ngữ Việt-anh]</a> appeared first on <a href="https://tangkinhcac.org">Tàng Kinh Các</a>.</p>
]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[
<p class="has-text-align-center wp-block-paragraph"><strong>KINH TRUNG BỘ </strong><br><em><strong>THE MIDDLE LENGTH DISCOURSES OF THE BUDDHA</strong><br>[SONG NGỮ VIỆT-ANH]<br><a href="https://tangkinhcac.org/kinh-trung-bo-majjhima-nikaya-bo-moi/">Xem bản gốc do HT. Thích Minh Châu dịch</a></em></p>



<p class="has-text-align-center wp-block-paragraph">Việt Dịch từ Pāli: HT. Thích&nbsp;Minh Châu.<br>English Translation from Pāli: Bhikkhu Ñāṇamoli &amp; Bhikkhu Bodhi.<br>Khái quát Nội dung Kinh&nbsp;Trung Bộ&nbsp;(Tác giả: TT. Thích Nhật Từ).<br>A Summary of the Middle Discourses of the Buddha (Author: Bhikkhu Bodhi).<br>Thực hiện&nbsp;sách Song Ngữ Anh-Việt&nbsp;đối chiếu:&nbsp;Thế Giới&nbsp;Phật Giáo&nbsp;.org (quốc tế).<br></p>



<p class="has-text-align-center wp-block-paragraph"><br><a href="https://www.thuvienhoasen.org/images/file/yej8bJCf2QgBAFdC/pdf-icon-4-.jpg"></a></p>


<div style="--ub-icon-rotation:rotate(0deg);--ub-icon-size:40px;--ub-icon-justification:center;--ub-icon-border-top:  undefined;--ub-icon-border-right:  undefined;--ub-icon-border-bottom:  undefined;--ub-icon-border-left:  undefined" class="wp-block-ub-icon" id="ub-icon-"><div class="ub_icon"><div class="ub_icon_wrapper"><svg xmlns="http://www.w3.org/2000/svg" viewbox="0 0 384 512"><path d="M181.9 256.1c-5-16-4.9-46.9-2-46.9 8.4 0 7.6 36.9 2 46.9zm-1.7 47.2c-7.7 20.2-17.3 43.3-28.4 62.7 18.3-7 39-17.2 62.9-21.9-12.7-9.6-24.9-23.4-34.5-40.8zM86.1 428.1c0 .8 13.2-5.4 34.9-40.2-6.7 6.3-29.1 24.5-34.9 40.2zM248 160h136v328c0 13.3-10.7 24-24 24H24c-13.3 0-24-10.7-24-24V24C0 10.7 10.7 0 24 0h200v136c0 13.2 10.8 24 24 24zm-8 171.8c-20-12.2-33.3-29-42.7-53.8 4.5-18.5 11.6-46.6 6.2-64.2-4.7-29.4-42.4-26.5-47.8-6.8-5 18.3-.4 44.1 8.1 77-11.6 27.6-28.7 64.6-40.8 85.8-.1 0-.1.1-.2.1-27.1 13.9-73.6 44.5-54.5 68 5.6 6.9 16 10 21.5 10 17.9 0 35.7-18 61.1-61.8 25.8-8.5 54.1-19.1 79-23.2 21.7 11.8 47.1 19.5 64 19.5 29.2 0 31.2-32 19.7-43.4-13.9-13.6-54.3-9.7-73.6-7.2zM377 105L279 7c-4.5-4.5-10.6-7-17-7h-6v128h128v-6.1c0-6.3-2.5-12.4-7-16.9zm-74.1 255.3c4.1-2.7-2.5-11.9-42.8-9 37.1 15.8 42.8 9 42.8 9z"></path></svg></div></div></div>



<p class="wp-block-paragraph">Xem sách PDF, hoặc download:</p>



<p class="wp-block-paragraph"><a href="https://tangkinhcac.org/wp-content/uploads/2026/02/000-Khai-Quat-Noi-Dung-Kinh-Trung-Bo-_-A-Summary-of-the-Middle-Length-Discourses-of-the-Buddha-1.pdf">000. Khái Quát Nội Dung Kinh Trung Bộ &#8211; A Summary of the Middle Length Discourses of the Buddha<br></a><a href="https://tangkinhcac.org/wp-content/uploads/2026/02/000-Muc-Luc-_-Trung-Bo-Kinh-_-The-Middle-Length-Discourses-of-the-Buddha-1.pdf">000. Mục Lục &#8211; Trung Bộ Kinh &#8211; The Middle Length Discourses of the Buddha</a><a href="https://thegioiphatgiao.org/viet-anh/kinh-trung-bo/000-Kh%C3%A1i-Qu%C3%A1t-N%E1%BB%99i-Dung-Kinh-Trung-B%E1%BB%99-_-A-Summary-of-the-Middle-Length-Discourses-of-the-Buddha.pdf"></a></p>



<p class="wp-block-paragraph"><strong><a href="https://thegioiphatgiao.org/viet-anh/kinh-trung-bo-phan-2-the-middle-length-discourses-of-the-buddha-song-ngu-viet-anh.html">&nbsp;</a></strong></p>



<p class="wp-block-paragraph"><strong>Phần 1:</strong></p>



<p class="wp-block-paragraph"><a href="https://tangkinhcac.org/wp-content/uploads/2026/02/001-Kinh-Phap-Mon-Can-Ban-_-The-Root-of-All-Things-1.pdf" data-type="link" data-id="https://tangkinhcac.org/wp-content/uploads/2026/02/001-Kinh-Phap-Mon-Can-Ban-_-The-Root-of-All-Things-1.pdf">001. Kinh Pháp Môn Căn Bản &#8211; The Root of All Things<br></a><a href="https://tangkinhcac.org/wp-content/uploads/2026/02/002-Kinh-Tat-Ca-Cac-Lau-Hoac-_-All-the-Taints-1.pdf">002. Kinh Tất Cả Các Lậu Hoặc &#8211; All the Taints<br></a><a href="https://tangkinhcac.org/wp-content/uploads/2026/02/003-Kinh-Thua-Tu-Phap-_-Heirs-in-Dhamma-1.pdf">003. Kinh Thừa Tự Pháp &#8211; Heirs in Dhamma<br></a><a href="https://tangkinhcac.org/wp-content/uploads/2026/02/004-Kinh-So-Hai-va-Khiep-Dam-_-Fear-and-Dread-1.pdf">004. Kinh Sợ Hãi và Khiếp Đảm &#8211; Fear and Dread<br></a><a href="https://tangkinhcac.org/wp-content/uploads/2026/02/005-Kinh-Khong-Ue-Nhiem-_-Without-Blemishes-1.pdf">005. Kinh Không Uế Nhiễm &#8211; Without Blemishes<br></a><a href="https://tangkinhcac.org/wp-content/uploads/2026/02/006-Kinh-Uoc-Nguyen-_-If-a-Bhikkhu-Should-Wish-1.pdf">006. Kinh Ước Nguyện &#8211; If a Bhikkhu Should Wish<br></a><a href="https://tangkinhcac.org/wp-content/uploads/2026/02/007-Kinh-Vi-Du-Tam-Vai-_-The-Simile-of-the-Cloth-1.pdf">007. Kinh Ví Dụ Tấm Vải &#8211; The Simile of the Cloth<br></a><a href="https://tangkinhcac.org/wp-content/uploads/2026/02/008-Kinh-Doan-Giam-_-Effacement-1.pdf">008. Kinh Đoạn Giảm &#8211; Effacement<br></a><a href="https://tangkinhcac.org/wp-content/uploads/2026/02/009-Kinh-Chanh-Tri-Kien-_-Right-View-1.pdf">009. Kinh Chánh Tri Kiến &#8211; Right View<br><br></a><a href="https://tangkinhcac.org/wp-content/uploads/2026/02/010-Kinh-Niem-Xu-_-The-Foundations-of-Mindfulness-1.pdf">010. Kinh Niệm Xứ &#8211; The Foundations of Mindfulness<br></a><a href="https://tangkinhcac.org/wp-content/uploads/2026/02/011-Tieu-Kinh-Su-Tu-Hong-_-The-Shorter-Discourse-on-the-Lions-Roar-1.pdf">011. Tiểu Kinh Sư Tử Hống &#8211; The Shorter Discourse on the Lion&#8217;s Roar</a><a href="https://thegioiphatgiao.org/viet-anh/kinh-trung-bo/011-Ti%E1%BB%83u-Kinh-S%C6%B0-T%E1%BB%AD-H%E1%BB%91ng-_-The-Shorter-Discourse-on-the-Lion-s-Roar.pdf"><br></a><a href="https://tangkinhcac.org/wp-content/uploads/2026/02/012-Dai-Kinh-Su-Tu-Hong-_-The-Greater-Discourse-on-the-Lions-Roar-1.pdf">012. Đại Kinh Sư Tử Hống &#8211; The Greater Discourse on the Lion&#8217;s Roar</a><a href="https://thegioiphatgiao.org/viet-anh/kinh-trung-bo/012-%C3%90%E1%BA%A1i-Kinh-S%C6%B0-T%E1%BB%AD-H%E1%BB%91ng-_-The-Greater-Discourse-on-the-Lion-s-Roar.pdf"><br></a><a href="https://tangkinhcac.org/wp-content/uploads/2026/02/013-Dai-Kinh-Kho-Uan-_-The-Greater-Discourse-on-the-Mass-of-Suffering-1.pdf">013. Đại Kinh Khổ Uẩn &#8211; The Greater Discourse on the Mass of Suffering<br></a><a href="https://tangkinhcac.org/wp-content/uploads/2026/02/014-Tieu-Kinh-Kho-Uan-_-The-Shorter-Discourse-on-the-Mass-of-Suffering-1.pdf">014. Tiểu Kinh Khổ Uẩn &#8211; The Shorter Discourse on the Mass of Suffering<br></a><a href="https://tangkinhcac.org/wp-content/uploads/2026/02/015-Kinh-Tu-Luong-_-Inference-1.pdf">015. Kinh Tư Lượng &#8211; Inference<br></a><a href="https://tangkinhcac.org/wp-content/uploads/2026/02/016-Kinh-Tam-Hoang-Vu-_-The-Wilderness-in-the-Heart-1.pdf">016. Kinh Tâm Hoang Vu &#8211; The Wilderness in the Heart<br></a><a href="https://tangkinhcac.org/wp-content/uploads/2026/02/017-Kinh-Khu-Rung-_-Jungle-Thickets-1.pdf">017. Kinh Khu Rừng &#8211; Jungle Thickets<br></a><a href="https://tangkinhcac.org/wp-content/uploads/2026/02/018-Kinh-Mat-Hoan-_-The-Honeyball-1.pdf">018. Kinh Mật Hoàn &#8211; The Honeyball<br></a><a href="https://tangkinhcac.org/wp-content/uploads/2026/02/019-Kinh-Song-Tam-_-Two-Kinds-of-Thought-1.pdf">019. Kinh Song Tầm &#8211; Two Kinds of Thought<br><br></a><a href="https://tangkinhcac.org/wp-content/uploads/2026/02/020-Kinh-An-Tru-Tam-_-The-Removal-of-Distracting-Thoughts-1.pdf">020. Kinh An Trú Tầm &#8211; The Removal of Distracting Thoughts<br></a><a href="https://tangkinhcac.org/wp-content/uploads/2026/02/021-Kinh-Vi-Du-Cai-Cua-_-The-Simile-of-the-Saw-1.pdf">021. Kinh Ví Dụ Cái Cưa &#8211; The Simile of the Saw<br></a><a href="https://tangkinhcac.org/wp-content/uploads/2026/02/022-Kinh-Vi-Du-Con-Ran-_-The-Simile-of-the-Snake-1.pdf">022. Kinh Ví Dụ Con Rắn &#8211; The Simile of the Snake<br></a><a href="https://tangkinhcac.org/wp-content/uploads/2026/02/023-Kinh-Go-Moi-_-The-Ant-Hill-1.pdf">023. Kinh Gò Mối &#8211; The Ant Hill<br></a><a href="https://tangkinhcac.org/wp-content/uploads/2026/02/024-Kinh-Tram-Xe-_-The-Relay-Chariots-1.pdf">024. Kinh Trạm Xe &#8211; The Relay Chariots<br></a><a href="https://tangkinhcac.org/wp-content/uploads/2026/02/025-Kinh-Bay-Moi-_-The-Bait-1.pdf">025. Kinh Bẫy Mồi &#8211; The Bait<br></a><a href="https://tangkinhcac.org/wp-content/uploads/2026/02/026-Kinh-Thanh-Cau-_-The-Noble-Search-1.pdf">026. Kinh Thánh Cầu &#8211; The Noble Search<br></a><a href="https://tangkinhcac.org/wp-content/uploads/2026/02/027-Tieu-Kinh-Thi-Du-Dau-Chan-Voi-_-The-Shorter-Discourse-on-the-Simile-of-the-Elephants-Footprint-1.pdf">027. Tiểu Kinh Thí Dụ Dấu Chân Voi &#8211; The Shorter Discourse on the Simile of the Elephant’s Footprint<br></a><a href="https://tangkinhcac.org/wp-content/uploads/2026/02/028-Dai-Kinh-Thi-Du-Dau-Chan-Voi-_-The-Greater-Discourse-on-the-Simile-of-the-Elephants-Footprint-1.pdf">028. Đại Kinh Thí Dụ Dấu Chân Voi &#8211; The Greater Discourse on the Simile of the Elephant’s Footprint<br></a><a href="https://tangkinhcac.org/wp-content/uploads/2026/02/029-Dai-Kinh-Thi-Du-Loi-Cay-_-The-Greater-Discourse-on-the-Simile-of-the-Heartwood-1.pdf">029. Đại Kinh Thí Dụ Lõi Cây &#8211; The Greater Heartwood Simile Discourse<br><br></a><a href="https://tangkinhcac.org/wp-content/uploads/2026/02/030-Tieu-Kinh-Thi-Du-Loi-Cay-_-The-Shorter-Discourse-on-the-Simile-of-the-Heartwood-1.pdf">030. Tiểu Kinh Thí Dụ Lõi Cây &#8211; The Shorter Discourse on the Simile of the Heartwood<br></a><a href="https://tangkinhcac.org/wp-content/uploads/2026/02/031-Tieu-Kinh-Rung-Sung-Bo-_-The-Shorter-Discourse-in-Gosinga-1.pdf">031. Tiểu Kinh Rừng Sừng Bò &#8211; The Shorter Discourse in Gosinga<br></a><a href="https://tangkinhcac.org/wp-content/uploads/2026/02/032-Dai-Kinh-Rung-Sung-Bo-_-The-Greater-Discourse-in-Gosinga-1.pdf">032. Đại Kinh Rừng Sừng Bò &#8211; The Greater Discourse in Gosinga<br></a><a href="https://tangkinhcac.org/wp-content/uploads/2026/02/033-Dai-Kinh-Nguoi-Chan-Bo-_-The-Greater-Discourse-on-the-Cowherd-1.pdf">033. Đại Kinh Người Chăn Bò &#8211; The Greater Discourse on the Cowherd<br></a><a href="https://tangkinhcac.org/wp-content/uploads/2026/02/034-Tieu-Kinh-Nguoi-Chan-Bo-_-The-Shorter-Discourse-on-the-Cowherd-1.pdf">034. Tiểu Kinh Người Chăn Bò &#8211; The Shorter Discourse on the Cowherd<br></a><a href="https://tangkinhcac.org/wp-content/uploads/2026/02/035-Tieu-Kinh-Saccaka-_-The-Shorter-Discourse-to-Saccaka-1.pdf">035. Tiểu Kinh Saccaka &#8211; The Shorter Discourse to Saccaka<br></a><a href="https://tangkinhcac.org/wp-content/uploads/2026/02/036-Dai-Kinh-Saccaka-_-The-Greater-Discourse-to-Saccaka-1.pdf">036. Đại Kinh Saccaka &#8211; The Greater Discourse to Saccaka<br></a><a href="https://tangkinhcac.org/wp-content/uploads/2026/02/037-Tieu-Kinh-Doan-Tan-Ai-_-The-Shorter-Discourse-on-the-Destruction-of-Craving-1.pdf">037. Tiểu Kinh Đoạn Tận Ái &#8211; The Shorter Discourse on the Destruction of Craving<br></a><a href="https://tangkinhcac.org/wp-content/uploads/2026/02/038-Dai-Kinh-Doan-Tan-Ai-_-The-Greater-Discource-on-Destruction-of-Craving-1.pdf">038. Đại Kinh Đoạn Tận Ái &#8211; The Greater Discource on Destruction of Craving<br></a><a href="https://tangkinhcac.org/wp-content/uploads/2026/02/039-Dai-Kinh-Xom-Ngua-_-The-Greater-Discourse-at-Assapura-1.pdf">039. Đại Kinh Xóm Ngựa &#8211; The Greater Discourse at Assapura<br><br></a><a href="https://tangkinhcac.org/wp-content/uploads/2026/02/040-Tieu-Kinh-Xom-Ngua-_-The-Shorter-Discourse-at-Assapura-1.pdf">040. Tiểu Kinh Xóm Ngựa &#8211; The Shorter Discourse at Assapura<br></a><a href="https://tangkinhcac.org/wp-content/uploads/2026/02/041-Kinh-Saleyyaka-_-The-Brahmins-of-Sala-1.pdf">041. Kinh Sāleyyaka &#8211; The Brahmins of Sālā<br></a><a href="https://tangkinhcac.org/wp-content/uploads/2026/02/042-Kinh-Veranjaka-_-The-Brahmins-of-Veranja-1.pdf">042. Kinh Verañjaka &#8211; The Brahmins of Verañjaka</a><a href="https://thegioiphatgiao.org/viet-anh/kinh-trung-bo/042-Kinh-Vera%C3%B1jaka-_-The-Brahmins-of-Vera%C3%B1jaka.pdf"><br></a><a href="https://tangkinhcac.org/wp-content/uploads/2026/02/043-Dai-Kinh-Phuong-Quang-_-The-Greater-Series-of-Questions-and-Answers-1.pdf">043. Đại Kinh Phương Quảng &#8211; The Greater Series of Questions and Answers<br></a><a href="https://tangkinhcac.org/wp-content/uploads/2026/02/044-Tieu-Kinh-Phuong-Quang-_-The-Shorter-Series-of-Questions-and-Answers-1.pdf">044. Tiểu Kinh Phương Quảng &#8211; The Shorter Series of Questions and Answers<br></a><a href="https://tangkinhcac.org/wp-content/uploads/2026/02/045-Tieu-Kinh-Phap-Hanh-_-The-Shorter-Discourse-on-Ways-of-Undertaking-Things-1.pdf">045. Tiểu Kinh Pháp Hành &#8211; The Shorter Discourse on Ways of Undertaking Things<br></a><a href="https://tangkinhcac.org/wp-content/uploads/2026/02/046-Dai-Kinh-Phap-Hanh-_-The-Greater-Discourse-on-Ways-of-Undertaking-Things-1.pdf">046. Đại Kinh Pháp Hành &#8211; The Greater Discourse on Ways of Undertaking Things<br></a><a href="https://tangkinhcac.org/wp-content/uploads/2026/02/047-Kinh-Tu-Sat-_-The-Inquirer-1.pdf">047. Kinh Tư Sát &#8211; The Inquirer<br></a><a href="https://tangkinhcac.org/wp-content/uploads/2026/02/048-Kinh-Kosambiya-_-The-Kosambians-1.pdf">048. Kinh Kosambiya &#8211; The Kosambians<br></a><a href="https://tangkinhcac.org/wp-content/uploads/2026/02/049-Kinh-Pham-Thien-Cau-Thinh-_-The-Invitation-of-a-Brahma-1.pdf">049. Kinh Phạm Thiên Cầu Thỉnh &#8211; The Invitation of a Brahmā<br></a><a href="https://tangkinhcac.org/wp-content/uploads/2026/02/050-Kinh-Hang-Ma-_-The-Rebuke-to-Mara-1.pdf">050. Kinh Hàng Ma &#8211; The Rebuke to Māra</a></p>



<p class="wp-block-paragraph"><br><strong>Phần 2:</strong></p>



<p class="wp-block-paragraph"><a href="https://tangkinhcac.org/wp-content/uploads/2026/02/051-Kinh-Kandaraka-_-To-Kandaraka-1.pdf">051. Kinh Kandaraka &#8211; To Kandaraka<br></a><a href="https://tangkinhcac.org/wp-content/uploads/2026/02/052-Kinh-Bat-Thanh-_-To-the-Man-from-Aṭṭhakanagara-1.pdf">052. Kinh Bát Thành &#8211; To the Man from Aṭṭhakanāgara<br></a><a href="https://tangkinhcac.org/wp-content/uploads/2026/02/053-Kinh-Huu-Hoc-_-The-Disciple-in-Higher-Training-1.pdf">053. Kinh Hữu Học &#8211; The Disciple in Higher Training<br></a><a href="https://tangkinhcac.org/wp-content/uploads/2026/02/054-Kinh-Potaliya-_-To-Potaliya-1.pdf" data-type="link" data-id="https://tangkinhcac.org/wp-content/uploads/2026/02/054-Kinh-Potaliya-_-To-Potaliya-1.pdf">054. Kinh Potaliya &#8211; To Potaliya<br></a><a href="https://tangkinhcac.org/wp-content/uploads/2026/02/055-Kinh-Jivaka-_-To-Jivaka-1.pdf" data-type="link" data-id="https://tangkinhcac.org/wp-content/uploads/2026/02/055-Kinh-Jivaka-_-To-Jivaka-1.pdf">055. Kinh Jīvaka &#8211; To Jīvaka<br></a><a href="https://tangkinhcac.org/wp-content/uploads/2026/02/056-Kinh-Uu-ba-ly-_-To-Upali-1.pdf">056. Kinh Ưu ba ly &#8211; To Upāli<br></a><a href="https://tangkinhcac.org/wp-content/uploads/2026/02/057-Kinh-Hanh-Con-Cho-_-The-Dog-Duty-Ascetic-1.pdf">057. Kinh Hạnh Con Chó &#8211; The Dog Duty Ascetic<br></a><a href="https://tangkinhcac.org/wp-content/uploads/2026/02/058-Kinh-Vuong-Tu-Vo-Uy-_-To-Prince-Abhaya-1.pdf">058. Kinh Vương Tử Vô Úy &#8211; To Prince Abhaya<br></a><a href="https://tangkinhcac.org/wp-content/uploads/2026/02/059-Kinh-Nhieu-Cam-Tho-_-The-Many-Kinds-of-Feeling-1.pdf">059. Kinh Nhiều Cảm Thọ &#8211; The Many Kinds of Feeling<br><br></a><a href="https://tangkinhcac.org/wp-content/uploads/2026/02/060-Kinh-Khong-Gi-Chuyen-Huong-_-The-Incontrovertible-Teaching-1.pdf">060. Kinh Không Gì Chuyển Hướng &#8211; The Incontrovertible Teaching<br></a><a href="https://tangkinhcac.org/wp-content/uploads/2026/02/061-Kinh-Giao-Gioi-La-hau-la-o-Rung-Am-ba-la-_-Advice-to-Rahula-at-Ambalaṭṭhika-1.pdf">061. Kinh Giáo Giới La hầu la ở Rừng Ambala &#8211; Advice to Rāhula at Ambalaṭṭhikā<br></a><a href="https://tangkinhcac.org/wp-content/uploads/2026/02/062-Dai-Kinh-Giao-Gioi-La-hau-la-_-The-Greater-Discourse-of-Advice-to-Rahula-1.pdf">062. Đại Kinh Giáo Giới La hầu la &#8211; The Greater Discourse of Advice to Rāhula<br></a><a href="https://tangkinhcac.org/wp-content/uploads/2026/02/063-Tieu-Kinh-Maluṅkya-_-The-Shorter-Discourse-to-Malunkyaputta-1.pdf">063. Tiểu Kinh Māluṅkyā &#8211; The Shorter Discourse to Mālunkyāputta<br></a><a href="https://tangkinhcac.org/wp-content/uploads/2026/02/064-Dai-Kinh-Maluṅkya-_-The-Greater-Discourse-to-Malunkyaputta-1.pdf">064. Đại Kinh Māluṅkyā &#8211; The Greater Discourse to Mālunkyāputta<br></a><a href="https://tangkinhcac.org/wp-content/uploads/2026/02/065-Kinh-Bhaddali-_-To-Bhaddali-1.pdf">065. Kinh Bhaddāli &#8211; To Bhaddāli</a></p>



<p class="wp-block-paragraph"><a href="https://www.thuvienhoasen.org/images/file/9y2BGTds3AgBAE8O/banner-kinh-mung-phat-dan.jpg"></a></p>



<p class="wp-block-paragraph"><a href="https://thegioiphatgiao.org/viet-anh/kinh-trung-bo/066-Kinh-V%C3%AD-D%E1%BB%A5-Con-Chim-C%C3%A1y-_-The-Simile-of-the-Quail.pdf">066. Kinh Ví Dụ Con </a><a href="https://tangkinhcac.org/wp-content/uploads/2026/02/066-Kinh-Vi-Du-Con-Chim-Cay-_-The-Simile-of-the-Quail-1.pdf" data-type="link" data-id="https://tangkinhcac.org/wp-content/uploads/2026/02/066-Kinh-Vi-Du-Con-Chim-Cay-_-The-Simile-of-the-Quail-1.pdf">Chim</a><a href="https://thegioiphatgiao.org/viet-anh/kinh-trung-bo/066-Kinh-V%C3%AD-D%E1%BB%A5-Con-Chim-C%C3%A1y-_-The-Simile-of-the-Quail.pdf"> Cáy &#8211; The Simile of the Quail<br></a><a href="https://tangkinhcac.org/wp-content/uploads/2026/02/067-Kinh-Catuma-_-At-Catuma-1.pdf" data-type="link" data-id="https://tangkinhcac.org/wp-content/uploads/2026/02/067-Kinh-Catuma-_-At-Catuma-1.pdf">067. Kinh Cātumā &#8211; At Cātumā<br></a><a href="https://tangkinhcac.org/wp-content/uploads/2026/02/068-Kinh-Naḷakapana-_-At-Naḷakapana-1.pdf">068. Kinh Naḷakapāna &#8211; At Naḷakapāna<br></a><a href="https://tangkinhcac.org/wp-content/uploads/2026/02/069-Kinh-Goliyani-_-Gulissani-1.pdf">069. Kinh Gulissāni &#8211; Gulissāni<br><br></a><a href="https://tangkinhcac.org/wp-content/uploads/2026/02/070-Kinh-Kiṭagiri-_-At-Kiṭagiri-1.pdf">070. Kinh Kīṭāgiri &#8211; At Kīṭāgiri<br></a><a href="https://tangkinhcac.org/wp-content/uploads/2026/02/071-Kinh-Tam-Minh-Vacchagotta-_-To-Vacchagotta-on-the-Threefold-True-Knowledge-1.pdf">071. Kinh Vacchagotta về Tam Minh &#8211; To Vacchagotta on the Threefold True Knowledge<br></a><a href="https://tangkinhcac.org/wp-content/uploads/2026/02/072-Kinh-Aggivacchagotta-_-To-Vacchagotta-on-Fire-1.pdf">072. Kinh Vacchagotta về Lửa &#8211; To Vacchagotta on Fire<br></a><a href="https://tangkinhcac.org/wp-content/uploads/2026/02/073-Dai-Kinh-Vaccaghotta-_-The-Greater-Discourse-to-Vacchagotta-1.pdf">073. Đại Kinh Vaccaghotta &#8211; The Greater Discourse to Vacchagotta<br></a><a href="https://tangkinhcac.org/wp-content/uploads/2026/02/074-Kinh-Truong-Trao-_-To-Dighanakha-1.pdf">074. Kinh Trường Trảo &#8211; To Dīghanakha<br></a><a href="https://tangkinhcac.org/wp-content/uploads/2026/02/075-Kinh-Magaṇḍiya-_-To-Magandiya-1.pdf">075. Kinh Māgaṇḍiya &#8211; To Māgandiya<br></a><a href="https://tangkinhcac.org/wp-content/uploads/2026/02/076-Kinh-Sandaka-_-To-Sandaka-1.pdf">076. Kinh Sandaka &#8211; To Sandaka<br></a><a href="https://tangkinhcac.org/wp-content/uploads/2026/02/077-Dai-Kinh-Sakuludayi-_-The-Greater-Discourse-to-Sakuludayin-1.pdf">077. Đại Kinh Sakuludāyi &#8211; The Greater Discourse to Sakuludāyin<br></a><a href="https://tangkinhcac.org/wp-content/uploads/2026/02/078-Kinh-Samaṇamaṇḍika-_-Samaṇamaṇḍikaputta-1.pdf">078. Kinh Samaṇamaṇḍika &#8211; Samaṇamaṇḍikāputta<br></a><a href="https://tangkinhcac.org/wp-content/uploads/2026/02/079-Tieu-Kinh-Sakuludayi-_-A-Shorter-Discourse-to-Sakuludayin-1.pdf">079. Tiểu Kinh Sakuludāyi &#8211; A Shorter Discourse to Sakuludāyin<br><br></a><a href="https://tangkinhcac.org/wp-content/uploads/2026/02/080-Kinh-Vekhanassa-_-To-Vekhanassa-1.pdf">080. Kinh Vekhanassa &#8211; To Vekhanassa<br></a><a href="https://tangkinhcac.org/wp-content/uploads/2026/02/081-Kinh-Ghaṭikara-_-Ghaṭikara-the-Potter-1.pdf">081. Kinh Ghaṭīkāra &#8211; Ghaṭīkāra the Potter<br></a><a href="https://tangkinhcac.org/wp-content/uploads/2026/02/082-Kinh-Raṭṭhapala-_-On-Raṭṭhapala-1.pdf">082. Kinh Raṭṭhapāla &#8211; On Raṭṭhapāla<br></a><a href="https://tangkinhcac.org/wp-content/uploads/2026/02/083-Kinh-Makhadeva-_-King-Makhadeva-1.pdf">083. Kinh Makhādeva &#8211; King Makhādeva<br></a><a href="https://tangkinhcac.org/wp-content/uploads/2026/02/084-Kinh-Madhura-_-At-Madhura-1.pdf">084. Kinh Madhurā &#8211; At Madhurā<br></a><a href="https://tangkinhcac.org/wp-content/uploads/2026/02/085-Kinh-Vuong-Tu-Bo-De-_-To-Prince-Bodhi-1.pdf">085. Kinh Vương Tử Bồ Đề &#8211; To Prince Bodhi<br></a><a href="https://tangkinhcac.org/wp-content/uploads/2026/02/086-Kinh-Aṅgulimala-_-On-Aṅgulimala-1.pdf">086. Kinh Aṅgulimāla &#8211; On Angulimāla<br></a><a href="https://tangkinhcac.org/wp-content/uploads/2026/02/087-Kinh-Ai-Sanh-_-Born-from-Those-Who-Are-Dear-1.pdf">087. Kinh Ái Sanh &#8211; Born from Those Who Are Dear<br></a><a href="https://tangkinhcac.org/wp-content/uploads/2026/02/088-Kinh-Bahitika-_-The-Cloak-1.pdf">088. Kinh Bāhitika &#8211; The Cloak<br></a><a href="https://tangkinhcac.org/wp-content/uploads/2026/02/089-Kinh-Phap-Trang-Nghiem-_-Monuments-to-the-Dhamma-1.pdf">089. Kinh Pháp Trang Nghiêm &#8211; Monuments to the Dhamma<br><br></a><a href="https://tangkinhcac.org/wp-content/uploads/2026/02/090-Kinh-Kaṇṇakatthala-_-At-Kaṇṇakatthala-1.pdf">090. Kinh Kaṇṇakatthala &#8211; At Kaṇṇakatthala<br></a><a href="https://tangkinhcac.org/wp-content/uploads/2026/02/091-Kinh-Brahmayu-_-Brahmayu-1.pdf">091. Kinh Brahmāyu &#8211; Brahmāyu<br></a><a href="https://tangkinhcac.org/wp-content/uploads/2026/02/092-Kinh-Sela-_-To-Sela-1.pdf">092. Kinh Sela &#8211; To Sela<br></a><a href="https://tangkinhcac.org/wp-content/uploads/2026/02/093-Kinh-Assalayana-_-To-Assalayana-1.pdf">093. Kinh Assalāyana &#8211; To Assalāyana<br></a><a href="https://tangkinhcac.org/wp-content/uploads/2026/02/094-Kinh-Ghoṭamukha-_-To-Ghoṭamukha-1.pdf">094. Kinh Ghoṭamukha &#8211; To Ghoṭamukha<br></a><a href="https://tangkinhcac.org/wp-content/uploads/2026/02/095-Kinh-Caṅki-_-With-Canki-1.pdf">095. Kinh Caṅkī &#8211; With Cankī<br></a><a href="https://tangkinhcac.org/wp-content/uploads/2026/02/096-Kinh-Esukari-_-To-Esukari-1.pdf">096. Kinh Esukārī &#8211; To Esukārī<br></a><a href="https://tangkinhcac.org/wp-content/uploads/2026/02/097-Kinh-Dhananjani-_-To-Dhananjani-1.pdf">097. Kinh Dhānañjāni &#8211; To Dhānañjāni<br></a><a href="https://tangkinhcac.org/wp-content/uploads/2026/02/098-Kinh-Vaseṭṭha-_-To-Vaseṭṭha-1.pdf">098. Kinh Vāseṭṭha &#8211; To Vāseṭṭha<br></a><a href="https://tangkinhcac.org/wp-content/uploads/2026/02/099-Kinh-Subha-_-To-Subha-1.pdf">099. Kinh Subha &#8211; To Subha<br></a><a href="https://tangkinhcac.org/wp-content/uploads/2026/02/100-Kinh-Saṅgarava-_-To-Saṅgarava-1.pdf">100. Kinh Saṅgārava &#8211; To Sangārava</a></p>



<p class="wp-block-paragraph"><strong>Phần 3:</strong></p>



<p class="wp-block-paragraph"><a href="https://tangkinhcac.org/wp-content/uploads/2026/02/101-Kinh-Devadaha-_-At-Devadaha-1.pdf">101. Kinh Devadaha &#8211; At Devadaha<br></a><a href="https://tangkinhcac.org/wp-content/uploads/2026/02/102-Kinh-Nam-va-Ba-_-The-Five-and-Three-1.pdf">102. Kinh Năm và Ba &#8211; The Five and Three<br></a><a href="https://tangkinhcac.org/wp-content/uploads/2026/02/103-Kinh-Nghi-Nhu-The-Nao-_-What-Do-You-Think-About-Me-1.pdf">103. Kinh Nghĩ Như Thế Nào &#8211; What Do You Think About Me<br></a><a href="https://tangkinhcac.org/wp-content/uploads/2026/02/104-Kinh-Lang-Sama-_-At-Samagama-1.pdf">104. Kinh Làng Sāma &#8211; At Sāmagāma<br></a><a href="https://tangkinhcac.org/wp-content/uploads/2026/02/105-Kinh-Thien-Tinh-_-To-Sunakkhatta-1.pdf">105. Kinh Thiện Tinh &#8211; To Sunakkhatta<br></a><a href="https://tangkinhcac.org/wp-content/uploads/2026/02/106-Kinh-Bat-Dong-Loi-Ich-_-The-Way-to-the-Imperturbable-1.pdf">106. Kinh Bất Động Lợi Ích &#8211; The Way to the Imperturbable<br></a><a href="https://tangkinhcac.org/wp-content/uploads/2026/02/107-Kinh-Gaṇaka-Moggallana-_-To-Gaṇaka-Moggallana-1.pdf">107. Kinh Gaṇaka Moggallāna &#8211; To Gaṇaka Moggallāna<br></a><a href="https://tangkinhcac.org/wp-content/uploads/2026/02/108-Kinh-Gopaka-Moggallana-_-With-Gopaka-Moggallana-1.pdf">108. Kinh Gopaka Moggallāna &#8211; With Gopaka Moggallāna<br></a><a href="https://tangkinhcac.org/wp-content/uploads/2026/02/109-Dai-Kinh-Man-Nguyet-_-The-Greater-Discourse-on-the-Full-Moon-Night-1.pdf">109. Đại Kinh Mãn Nguyệt &#8211; The Greater Discourse on the Full Moon Night<br></a><a href="https://tangkinhcac.org/wp-content/uploads/2026/02/110-Tieu-Kinh-Man-Nguyet-_-The-Shorter-Discourse-on-the-Full-Moon-Night-1.pdf"><br>110. Tiểu Kinh Mãn Nguyệt &#8211; The Shorter Discourse on the Full Moon Night<br></a><a href="https://tangkinhcac.org/wp-content/uploads/2026/02/111-Kinh-Bat-Doan-_-One-by-One-as-They-Occurred-1.pdf">111. Kinh Bất Đoạn &#8211; One by One as They Occurred<br></a><a href="https://tangkinhcac.org/wp-content/uploads/2026/02/112-Kinh-Sau-Thanh-Tinh-_-The-Sixfold-Purity-1.pdf">112. Kinh Sáu Thanh Tịnh &#8211; The Sixfold Purity<br></a><a href="https://tangkinhcac.org/wp-content/uploads/2026/02/113-Kinh-Chan-Nhan-_-The-True-Man-1.pdf">113. Kinh Chân Nhân &#8211; The True Man<br></a><a href="https://tangkinhcac.org/wp-content/uploads/2026/02/114-Kinh-Nen-Hanh-Tri-Khong-Nen-Hanh-Tri-_-To-Be-Cultivated-and-Not-to-Be-Cultivated-1.pdf">114. Kinh Nên Hành Trì Không Nên Hành Trì &#8211; To Be Cultivated and Not to Be Cultivated</a><a href="https://thegioiphatgiao.org/viet-anh/kinh-trung-bo/114-Kinh-N%C3%AAn-H%C3%A0nh-Tr%C3%AC-Kh%C3%B4ng-N%C3%AAn-H%C3%A0nh-Tr%C3%AC-_-To-Be-Cultivated-and-Not-to-Be-Cultivated.pdf"><br></a><a href="https://tangkinhcac.org/wp-content/uploads/2026/02/115-Kinh-Da-Gioi-_-The-Many-Kinds-of-Elements-1.pdf">115. Kinh Đa Giới &#8211; The Many Kinds of Elements<br></a><a href="https://tangkinhcac.org/wp-content/uploads/2026/02/116-Kinh-Thon-Tien-_-Isigili-the-Gullet-of-the-Seers-1.pdf">116. Kinh Thôn Tiên &#8211; Isigili the Gullet of the Seers<br></a><a href="https://tangkinhcac.org/wp-content/uploads/2026/02/117-Dai-Kinh-Bon-Muoi-_-The-Great-Forty-1.pdf">117. Đại Kinh Bốn Mươi &#8211; The Great Forty<br></a><a href="https://tangkinhcac.org/wp-content/uploads/2026/02/118-Kinh-Quan-Niem-Hoi-Tho-_-Mindfulness-of-Breathing-1.pdf">118. Kinh Quán Niệm Hơi Thở &#8211; Mindfulness of Breathing<br></a><a href="https://tangkinhcac.org/wp-content/uploads/2026/02/119-Kinh-Than-Hanh-Niem-_-Mindfulness-of-the-Body-1.pdf">119. Kinh Thân Hành Niệm &#8211; Mindfulness of the Body<br><br></a><a href="https://tangkinhcac.org/wp-content/uploads/2026/02/120-Kinh-Hanh-Sanh-_-Reappearance-by-Aspiration-1.pdf">120. Kinh Hành Sanh &#8211; Reappearance by Aspiration<br></a><a href="https://tangkinhcac.org/wp-content/uploads/2026/02/121-Kinh-Tieu-Khong-_-The-Shorter-Discourse-on-Voidness-1.pdf">121. Kinh Tiểu Không &#8211; The Shorter Discourse on Voidness<br></a><a href="https://tangkinhcac.org/wp-content/uploads/2026/02/122-Kinh-Dai-Khong-_-The-Greater-Discourse-on-Voidness-1.pdf">122. Kinh Đại Không &#8211; The Greater Discourse on Voidness<br></a><a href="https://tangkinhcac.org/wp-content/uploads/2026/02/123-Kinh-Hy-Huu-Vi-Tang-Huu-Phap-_-Wonderful-and-Marvellous-1.pdf">123. Kinh Hy Hữu Vị Tằng Hữu Pháp &#8211; Wonderful and Marvellous<br></a><a href="https://tangkinhcac.org/wp-content/uploads/2026/02/124-Kinh-Bac-cau-la-_-Bakkula-1.pdf">124. Kinh Bạc câu la &#8211; Bakkula<br></a><a href="https://tangkinhcac.org/wp-content/uploads/2026/02/125-Kinh-Dieu-Ngu-Dia-_-The-Grade-of-the-Tamed-1.pdf">125. Kinh Điều Ngự Địa &#8211; The Grade of the Tamed<br></a><a href="https://tangkinhcac.org/wp-content/uploads/2026/02/126-Kinh-Phu-di-_-Bhumija-1.pdf">126. Kinh Phù di &#8211; Bhūmija<br></a><a href="https://tangkinhcac.org/wp-content/uploads/2026/02/127-Kinh-A-na-luat-_-Anuruddha-1.pdf">127. Kinh A na luật &#8211; Anuruddha<br></a><a href="https://tangkinhcac.org/wp-content/uploads/2026/02/128-Kinh-Tuy-Phien-Nao-_-Imperfections-1.pdf">128. Kinh Tùy Phiền Não &#8211; Imperfections<br></a><a href="https://tangkinhcac.org/wp-content/uploads/2026/02/129-Kinh-Hien-Ngu-_-Fools-and-Wise-Men-1.pdf">129. Kinh Hiền Ngu &#8211; Fools and Wise Men<br><br></a><a href="https://tangkinhcac.org/wp-content/uploads/2026/02/130-Kinh-Thien-Su-_-The-Divine-Messengers-1.pdf">130. Kinh Thiên Sứ &#8211; The Divine Messengers<br></a><a href="https://tangkinhcac.org/wp-content/uploads/2026/02/131-Kinh-Nhat-Da-Hien-Gia-_-A-Single-Excellent-Night-1.pdf">131. Kinh Nhất Dạ Hiền Giả &#8211; A Single Excellent Night<br></a><a href="https://tangkinhcac.org/wp-content/uploads/2026/02/132-Kinh-A-nan-Nhat-Da-Hien-Gia-_-Ananda-and-A-Single-Excellent-Night-1.pdf">132. Kinh A nan Nhất Dạ Hiền Giả &#8211; Ānanda and A Single Excellent Night<br></a><a href="https://tangkinhcac.org/wp-content/uploads/2026/02/133-Kinh-Dai-Ca-chien-dien-Nhat-Da-Hien-Gia-_-Maha-Kaccana-and-A-Single-Excellent-Night-1.pdf">133. Kinh Đại Ca chiên diên Nhất Dạ Hiền Giả &#8211; Mahā Kaccāna and A Single Excellent Night<br></a><a href="https://tangkinhcac.org/wp-content/uploads/2026/02/134-Kinh-Lomasakaṅgiya-Nhat-Da-Hien-Gia-_-Lomasakangiya-and-A-Single-Excellent-Night-1.pdf">134. Kinh Lomasakaṅgiya Nhất Dạ Hiền Giả &#8211; Lomasakangiya and A Single Excellent Night<br></a><a href="https://tangkinhcac.org/wp-content/uploads/2026/02/135-Tieu-Kinh-Nghiep-Phan-Biet-_-The-Shorter-Exposition-of-Action-1.pdf">135. Tiểu Kinh Nghiệp Phân Biệt &#8211; The Shorter Exposition of Action<br></a><a href="https://tangkinhcac.org/wp-content/uploads/2026/02/136-Dai-Kinh-Nghiep-Phan-Biet-_-The-Greater-Exposition-of-Action-1.pdf">136. Đại Kinh Nghiệp Phân Biệt &#8211; The Greater Exposition of Action<br></a><a href="https://tangkinhcac.org/wp-content/uploads/2026/02/137-Kinh-Phan-Biet-Sau-Xu-_-The-Exposition-of-the-Sixfold-Base-1.pdf">137. Kinh Phân Biệt Sáu Xứ &#8211; The Exposition of the Sixfold Base<br></a><a href="https://tangkinhcac.org/wp-content/uploads/2026/02/138-Kinh-Tong-Thuyet-va-Biet-Thuyet-_-The-Exposition-of-a-Summary-1.pdf">138. Kinh Tổng Thuyết và Biệt Thuyết &#8211; The Exposition of a Summary<br></a><a href="https://tangkinhcac.org/wp-content/uploads/2026/02/139-Kinh-Vo-Tranh-Phan-Biet-_-The-Exposition-of-Non-Conflict-1.pdf" data-type="link" data-id="https://tangkinhcac.org/wp-content/uploads/2026/02/139-Kinh-Vo-Tranh-Phan-Biet-_-The-Exposition-of-Non-Conflict-1.pdf">139. Kinh Vô Tránh Phân Biệt &#8211; The Exposition of Non Conflict<br><br></a><a href="https://tangkinhcac.org/wp-content/uploads/2026/02/140-Kinh-Gioi-Phan-Biet-_-The-Exposition-of-the-Elements-1.pdf">140. Kinh Giới Phân Biệt &#8211; The Exposition of the Elements<br></a><a href="https://tangkinhcac.org/wp-content/uploads/2026/02/141-Kinh-Phan-Biet-ve-Su-That-_-The-Exposition-of-the-Truths-1.pdf">141. Kinh Phân Biệt về Sự Thật &#8211; The Exposition of the Truths<br></a><a href="https://tangkinhcac.org/wp-content/uploads/2026/02/142-Kinh-Phan-Biet-Cung-Duong-_-The-Exposition-of-Offerings-1.pdf">142. Kinh Phân Biệt Cúng Dường &#8211; The Exposition of Offerings<br></a><a href="https://tangkinhcac.org/wp-content/uploads/2026/02/143-Kinh-Giao-Gioi-Cap-Co-Doc-_-Advice-to-Anathapiṇḍika-1.pdf">143. Kinh Giáo Giới Cấp Cô Độc &#8211; Advice to Anāthapiṇḍika<br></a><a href="https://tangkinhcac.org/wp-content/uploads/2026/02/144-Kinh-Giao-Gioi-Channa-_-Advice-to-Channa-1.pdf">144. Kinh Giáo Giới Channa &#8211; Advice to Channa<br></a><a href="https://tangkinhcac.org/wp-content/uploads/2026/02/145-Kinh-Giao-Gioi-Phu-lau-na-_-Advice-to-Puṇṇa-1.pdf">145. Kinh Giáo Giới Phú lâu na &#8211; Advice to Puṇṇa<br></a><a href="https://tangkinhcac.org/wp-content/uploads/2026/02/146-Kinh-Giao-Gioi-Nandaka-_-Advice-from-Nandaka-1.pdf">146. Kinh Giáo Giới Nandaka &#8211; Advice from Nandaka<br></a><a href="https://tangkinhcac.org/wp-content/uploads/2026/02/147-Tieu-Kinh-Giao-Gioi-La-hau-la-_-The-Shorter-Discourse-of-Advice-to-Rahula-1.pdf">147. Tiểu Kinh Giáo Giới La hầu la &#8211; The Shorter Discourse of Advice to Rāhula<br></a><a href="https://tangkinhcac.org/wp-content/uploads/2026/02/148-Kinh-Sau-Sau-_-The-Six-Sets-of-Six-1.pdf">148. Kinh Sáu Sáu &#8211; The Six Sets of Six<br></a><a href="https://tangkinhcac.org/wp-content/uploads/2026/02/149-Dai-Kinh-Sau-Xu-_-The-Great-Sixfold-Base-1.pdf">149. Đại Kinh Sáu Xứ &#8211; The Great Sixfold Base<br><br></a><a href="https://tangkinhcac.org/wp-content/uploads/2026/02/150-Kinh-Noi-cho-Dan-Nagaravinda-_-To-the-Nagaravindans-1.pdf">150. Kinh Nói cho Dân Nagaravinda &#8211; To the Nagaravindans<br></a><a href="https://tangkinhcac.org/wp-content/uploads/2026/02/151-Kinh-Khat-Thuc-Thanh-Tinh-_-The-Purification-of-Almsfood-1.pdf">151. Kinh Khất Thực Thanh Tịnh &#8211; The Purification of Almsfood<br></a><a href="https://tangkinhcac.org/wp-content/uploads/2026/02/152-Kinh-Can-Tu-Tap-_-The-Development-of-the-Faculties-1.pdf">152. Kinh Căn Tu Tập &#8211; The Development of the Faculties</a></p>



<p class="wp-block-paragraph"></p>



<p class="has-text-align-right wp-block-paragraph">nguồn : thegioiphatgiao.org &amp; thư viện hoa sen</p>



<p class="wp-block-paragraph"></p>
<p>The post <a href="https://tangkinhcac.org/kinh-trung-bo-the-middle-length-discourses-of-the-buddha-song-ngu-viet-anh/">Kinh Trung Bộ &#8211; The Middle Length Discourses Of The Buddha [Song Ngữ Việt-anh]</a> appeared first on <a href="https://tangkinhcac.org">Tàng Kinh Các</a>.</p>
]]></content:encoded>
					
		
		
			</item>
		<item>
		<title>Tóm tắt kinh Trung Bộ</title>
		<link>https://tangkinhcac.org/tom-tat-kinh-trung-bo/</link>
		
		<dc:creator><![CDATA[admin]]></dc:creator>
		<pubDate>Fri, 13 Feb 2026 21:52:06 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Kinh Trung Bộ]]></category>
		<category><![CDATA[Thích Minh Châu]]></category>
		<category><![CDATA[Kinh trung bộ]]></category>
		<category><![CDATA[thích minh châu]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://tangkinhcac.org/?p=407</guid>

					<description><![CDATA[<p>THÍCH&#160;MINH CHÂU TÓM TẮT&#160; KINH&#160;TRUNG BỘ (MAJJHIMA NIKAYA) Nhà xuất bản&#160;Văn Hóa&#160;Sài Gòn 2011 LỜI THƯA Chúng tôi, hàng&#160;môn đệ&#160;của&#160;Hòa thượng&#160;thượng Minh hạ Châu, xin&#160;trân trọng&#160;giới thiệu&#160;cùng quý&#160;độc giả&#160;một&#160;tác phẩm&#160;nữa của&#160;Hòa thượng&#160;mà&#160;chúng tôi&#160;vừa sưu tập: “Tóm Tắt Kinh Trung Bộ”. Tập sách có khoảng 400 trang nhưng quá trình hình thành nó lại là một [&#8230;]</p>
<p>The post <a href="https://tangkinhcac.org/tom-tat-kinh-trung-bo/">Tóm tắt kinh Trung Bộ</a> appeared first on <a href="https://tangkinhcac.org">Tàng Kinh Các</a>.</p>
]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[
<p class="wp-block-paragraph"><strong>THÍCH&nbsp;MINH CHÂU</strong></p>



<p class="wp-block-paragraph"><strong>TÓM TẮT&nbsp;</strong></p>



<p class="wp-block-paragraph"><strong>KINH&nbsp;TRUNG BỘ</strong></p>



<p class="wp-block-paragraph"><strong>(MAJJHIMA NIKAYA)</strong></p>



<p class="wp-block-paragraph">Nhà xuất bản&nbsp;Văn Hóa&nbsp;Sài Gòn 2011</p>



<p class="wp-block-paragraph"><strong>LỜI THƯA</strong></p>



<p class="wp-block-paragraph"><a href="https://dieungu.org/images/file/ZPS0zRbu0ggBALE8/tom-tat-kinh-trung-bo.jpg"></a>Chúng tôi, hàng&nbsp;môn đệ&nbsp;của&nbsp;Hòa thượng&nbsp;thượng Minh hạ Châu, xin&nbsp;trân trọng&nbsp;giới thiệu&nbsp;cùng quý&nbsp;độc giả&nbsp;một&nbsp;tác phẩm&nbsp;nữa của&nbsp;Hòa thượng&nbsp;mà&nbsp;chúng tôi&nbsp;vừa sưu tập: “Tóm Tắt Kinh Trung Bộ”.</p>



<p class="wp-block-paragraph">Tập sách có khoảng 400 trang nhưng quá trình hình thành nó lại là một sự chuẩn bị và&nbsp;thực hiện&nbsp;công phu.</p>



<p class="wp-block-paragraph">Thực vậy,&nbsp;Hòa thượng&nbsp;khởi sự&nbsp;nghiên cứu&nbsp;chuyên sâu Kinh&nbsp;Trung Bộ&nbsp;vào năm 1952, lúc ngài đang du học ở Sri Lanka, nhưng&nbsp;cho đến&nbsp;những năm đầu thập niên 60, 70 của thế kỷ trước, ngài mới bắt đầu dịch&nbsp;bộ kinh&nbsp;này từ nguyên bản Pāli ra tiếng Việt.&nbsp;Bộ kinh&nbsp;được xuất bản lần thứ nhất gồm ba tập,&nbsp;hoàn tất&nbsp;vào năm 1978.</p>



<p class="wp-block-paragraph">Ba tập này được tái bản vào năm 1986, lần này&nbsp;Hòa thượng&nbsp;có&nbsp;sửa chữa&nbsp;một số&nbsp;từ ngữ&nbsp;đã dùng cho đúng.&nbsp;Cuối cùng,&nbsp;toàn bộ&nbsp;bản&nbsp;dịch Kinh&nbsp;Trung Bộ&nbsp;của&nbsp;Hòa thượng&nbsp;được in xong vào&nbsp;Đại tạng kinh&nbsp;Việt Nam&nbsp;năm 1992.</p>



<p class="wp-block-paragraph">Bên cạnh đó, từ năm 1978 đến năm 1992,&nbsp;Hòa thượng&nbsp;đã mở nhiều khóa&nbsp;giảng Kinh&nbsp;Trung Bộ&nbsp;cho&nbsp;Tăng Ni&nbsp;Phật tử&nbsp;tại&nbsp;Thiền viện&nbsp;Vạn Hạnh&nbsp;Thành phố Hồ&nbsp;Chí Minh&nbsp;cũng như cho&nbsp;Tăng Ni&nbsp;sinh Trường Cao cấp&nbsp;Phật học&nbsp;tại chùa&nbsp;Quán Sứ&nbsp;– Hà Nội và tại Thành phố Hồ&nbsp;Chí Minh. Hẳn ngài đã&nbsp;đánh giá&nbsp;rất cao Kinh&nbsp;Trung Bộ&nbsp;trong&nbsp;công trình&nbsp;dịch thuật lớn nhất của ngài, đó là&nbsp;toàn thể&nbsp;năm bộ Nikāya được dịch từ nguyên bản Pāli sang Việt ngữ.</p>



<p class="wp-block-paragraph">Nhân lần tái bản&nbsp;bộ kinh&nbsp;này vào năm 1986,&nbsp;Hòa thượng&nbsp;đã viết trong Lời&nbsp;Giới Thiệu: “Chưa học Kinh&nbsp;Trung Bộ&nbsp;là chưa nắm được&nbsp;tinh hoa&nbsp;của&nbsp;đạo Phật&nbsp;Nguyên thủy. Chưa&nbsp;nghiên cứu&nbsp;Kinh&nbsp;Trung Bộ&nbsp;rất có thể rơi vào những lệch lạc định nghĩa các danh từ chuyên sâu trong&nbsp;đạo Phật&nbsp;mà&nbsp;đức Phật&nbsp;đã&nbsp;dày công&nbsp;định nghĩa mỗi khi Ngài&nbsp;thuyết giảng&nbsp;giáo lý&nbsp;của Ngài”.</p>



<p class="wp-block-paragraph">Trong quá trình&nbsp;thuyết pháp&nbsp;và giảng dạy&nbsp;kinh điển&nbsp;Pāli,&nbsp;Hòa thượng&nbsp;Bổn sư&nbsp;chúng tôi&nbsp;vẫn&nbsp;đặc biệt&nbsp;chú trọng đến Kinh&nbsp;Trung Bộ. Ngài đã dành&nbsp;thì giờ&nbsp;nhiều nhất cho&nbsp;bộ kinh&nbsp;này. Cũng do đó, ngài đã đem công sức&nbsp;tóm tắt&nbsp;toàn bộ&nbsp;152 kinh của&nbsp;bộ kinh&nbsp;này, nhằm trang bị cho hàng&nbsp;Phật tử&nbsp;kiến thức&nbsp;căn bản&nbsp;để vững tiến trên&nbsp;con đường&nbsp;tu học.&nbsp;Chúng tôi&nbsp;còn nhớ mỗi khi giao cho&nbsp;chúng tôi&nbsp;đánh máy bản thảo, ngài đều dặn dò phải&nbsp;cẩn thận&nbsp;đối với từng chữ, từng câu và sau đó ngài tự tay chấp bút chỉnh sửa những chỗ ngài chưa&nbsp;vừa ý. Ngay khi&nbsp;chúng tôi&nbsp;tìm được bản thảo đã được đánh máy và được&nbsp;sửa chữa&nbsp;cẩn thận,&nbsp;chúng tôi&nbsp;vội xin ngài&nbsp;cho phép&nbsp;thực hiện&nbsp;việc xuất bản.&nbsp;Chúng tôi&nbsp;rất&nbsp;hoan hỷ&nbsp;làm công việc này, vì ngoài&nbsp;ý định&nbsp;sưu tập và phát hành,&nbsp;toàn bộ&nbsp;các&nbsp;công trình&nbsp;nghiên cứu, dịch thuật, giảng dạy và&nbsp;thuyết pháp&nbsp;của&nbsp;Hòa thượng&nbsp;còn&nbsp;đáp ứng&nbsp;yêu cầu&nbsp;của rất nhiều&nbsp;Tăng Ni&nbsp;Phật tử&nbsp;muốn có được một bản&nbsp;Tóm Tắt&nbsp;Kinh&nbsp;Trung Bộ&nbsp;do chính&nbsp;Hòa thượng&nbsp;thực hiện.</p>



<p class="wp-block-paragraph">Đây là lần xuất bản và phát hành đầu tiên của tập sách “Tóm Tắt Kinh Trung Bộ”,&nbsp;chúng tôi&nbsp;đê đầu&nbsp;đảnh lễ&nbsp;Hòa thượng&nbsp;Bổn sư đã&nbsp;một lần&nbsp;nữa để lại cho&nbsp;chúng tôi&nbsp;một&nbsp;tài liệu&nbsp;giá trị&nbsp;liên hệ&nbsp;đến những gì mà suốt nhiều chục năm qua&nbsp;Hòa thượng&nbsp;vẫn&nbsp;tận tâm&nbsp;giảng dạy cho&nbsp;chúng tôi;&nbsp;đồng thời&nbsp;chúng tôi&nbsp;nghĩ rằng tập sách này cũng rất&nbsp;cần thiết, bổ ích cho những ai muốn đến với&nbsp;giáo lý nguyên thủy&nbsp;của&nbsp;đức Phật.</p>



<p class="wp-block-paragraph">Tập sách “Tóm Tắt Kinh Trung Bộ” này là tập thứ 10 do&nbsp;chúng tôi&nbsp;sưu tập để kính tặng&nbsp;Tăng Ni&nbsp;Phật tử&nbsp;Việt Nam&nbsp;trong và ngoài nước nhân kỷ niệm sinh nhật lần thứ 93 của&nbsp;Hòa thượng&nbsp;Bổn sư&nbsp;chúng tôi.</p>



<p class="wp-block-paragraph">Nhân đây,&nbsp;chúng tôi&nbsp;xin&nbsp;chân thành&nbsp;cám ơn&nbsp;gia đình&nbsp;Phật tử&nbsp;Nguyễn Ngọc Hà&nbsp;Pháp danh&nbsp;Diệu Phương đã&nbsp;phát tâm&nbsp;tôn kính&nbsp;ấn tống&nbsp;Pháp bảo&nbsp;này.</p>



<p class="wp-block-paragraph">Phật lịch 2554 – Dương lịch 2010</p>



<p class="wp-block-paragraph">Tp. Hồ&nbsp;Chí Minh, Trọng hạ Canh Dần 2010</p>



<p class="wp-block-paragraph"><strong><em>Môn đồ&nbsp;của&nbsp;Hòa thượng&nbsp;Viện chủ&nbsp;Thiền viện&nbsp;Vạn Hạnh</em></strong></p>



<p class="wp-block-paragraph"><strong>LỜI&nbsp;GIỚI THIỆU</strong></p>



<p class="wp-block-paragraph">Thể theo lời&nbsp;yêu cầu&nbsp;của&nbsp;Tăng Ni&nbsp;Phật tử,&nbsp;bước đầu&nbsp;chúng tôi&nbsp;cho soạn bản&nbsp;tóm tắt&nbsp;các kinh thuộc KINH&nbsp;TRUNG BỘ&nbsp;(Majjhima Nikāya) để giúp các&nbsp;Tăng Ni&nbsp;Phật tử&nbsp;nghiên cứu&nbsp;Kinh tạng&nbsp;Pāli.</p>



<p class="wp-block-paragraph">Bộ Majjhima Nikāya có tất cả 152 kinh, đã được in và phát hành. Ở đây,&nbsp;chúng tôi&nbsp;xin ghi ơn&nbsp;Ni sư&nbsp;Trí Hải&nbsp;và một số học viên lớp Pāli đã giúp&nbsp;chúng tôi&nbsp;ghi chép lại bản&nbsp;tóm tắt&nbsp;này để sớm&nbsp;hoàn thành&nbsp;sách này như&nbsp;hiện có.</p>



<p class="wp-block-paragraph">Nếu có những&nbsp;thiếu sót&nbsp;gì trong công tác này, mong&nbsp;Tăng Ni,&nbsp;Phật tử&nbsp;và&nbsp;độc giả&nbsp;lượng thứ&nbsp;cho, vì nhân sự có hạn,&nbsp;thời gian&nbsp;lại không có nhiều.</p>



<p class="wp-block-paragraph">Viết tại Viện&nbsp;Phật học&nbsp;Vạn Hạnh<br>nhân ngày lễ&nbsp;Thành Đạo&nbsp;theo&nbsp;truyền thống&nbsp;Bắc tông<br>(8.12. Kỷ Mùi), tức ngày 25.1.1980.<br>Viện trưởng,</p>



<p class="wp-block-paragraph"><strong><em>Tỷ-kheo Thích&nbsp;Minh Châu</em></strong></p>



<p class="wp-block-paragraph"><a href="https://thuvienhoasen.org/images/file/b3Zxv51G0QgBAKVJ/pdf-download-2.jpg"></a><br><a href="https://thuvienhoasen.org/images/file/pMpxsbVG1wgQAAdy/tom-tat-kinh-trung-bo-thich-minh-chau-2010.pdf">Tóm Tắt Kinh Trung Bộ &#8211; Thích Minh Châu 2010</a></p>



<h3 class="wp-block-heading">MỤC LỤC<br>Tập I (Kinh số 1-50)</h3>



<figure class="wp-block-table"><table class="has-fixed-layout"><tbody><tr><td><strong>(1)&nbsp;Kinh Pháp môn căn bản&nbsp;</strong><em>(a)</em><strong><br>(2)&nbsp;Kinh Tất cả lậu hoặc&nbsp;</strong><em>(a)</em><strong><br>(3)&nbsp;Kinh Thừa tự Pháp<br>(4)&nbsp;Kinh Sợ hãi và khiếp đảm&nbsp;</strong><em>(a)</em><strong><br>(5)&nbsp;Kinh Không uế nhiễm<br>(6)&nbsp;Kinh Ước nguyện<br>(7)&nbsp;Kinh Ví dụ tấm vải&nbsp;</strong><em>(a)</em><strong><br>(8)&nbsp;Kinh Đoạn giảm&nbsp;</strong><em>(a)</em><strong><a href="https://thuvienhoasen.org/images/file/9y2BGTds3AgBAE8O/banner-kinh-mung-phat-dan.jpg"></a><br>(9)&nbsp;Kinh Chánh tri kiến&nbsp;</strong><em>(a)</em><br><strong>(10)&nbsp;Kinh Niệm xứ&nbsp;</strong><em>(a)</em><strong><br>(11)&nbsp;Tiểu kinh Sư tử hống&nbsp;</strong><em>(a)</em><strong><br>(12)&nbsp;Đại kinh Sư tử hống</strong><em>&nbsp;(a)<br></em><strong>(13)&nbsp;Đại kinh Khổ uẩn&nbsp;</strong><em>(a)</em><strong><br>(14)&nbsp;Tiểu kinh Khổ uẩn<br>(15)&nbsp;Kinh&nbsp;Tư lượng<br>(16)&nbsp;Kinh Tâm hoang vu<br>(17)&nbsp;Kinh Khu rừng<br>(18)&nbsp;Kinh Mật hoàn&nbsp;</strong><em>(a)</em><strong><br>(19)&nbsp;Kinh Song tầm&nbsp;</strong><em>(a)</em><strong><br>(20)&nbsp;Kinh An trú tầm&nbsp;</strong><em>(a)</em><strong><br>(21)&nbsp;Kinh Ví dụ cái cưa&nbsp;</strong><em>(a)</em><strong><br>(22)&nbsp;Kinh Ví dụ con rắn</strong><em>&nbsp;(a)<br></em><strong>(23)&nbsp;Kinh Gò mối<br>(24)&nbsp;Kinh Trạm xe&nbsp;</strong><em>(a)</em><strong><br>(25)&nbsp;Kinh Bẫy mồi</strong></td><td><strong>(26)&nbsp;Kinh Thánh cầu<br>(27)&nbsp;Tiểu kinh Ví dụ dấu chân voi<br>(28)&nbsp;Đại kinh Ví dụ dấu chân voi<br>(29)&nbsp;Đại kinh&nbsp;Ví dụ lõi cây<br>(30)&nbsp;Tiểu kinh Ví dụ lõi cây<br>(31)&nbsp;Tiểu kinh&nbsp;Khu rừng sừng bò<br>(32)&nbsp;Đại kinh&nbsp;Khu rừng sừng bò<br>(33)&nbsp;Đại kinh Người chăn bò</strong><em><br></em><strong>(34)&nbsp;Tiểu kinh Người chăn bò<br>(35)&nbsp;Tiểu kinh Saccaka<br>(36)&nbsp;Đại kinh Saccaka&nbsp;</strong><em>(a)</em><br><strong>(37)&nbsp;Tiểu kinh Đoạn tận ái<br>(38)&nbsp;Đại kinh Đoạn tận ái<br>(39)&nbsp;Đại kinh Xóm ngựa<br>(40)&nbsp;Tiểu kinh Xóm ngựa</strong><em><br></em><strong>(41)&nbsp;Kinh Saleyyaka&nbsp;</strong><em>(a)</em><strong><br>(42)&nbsp;Kinh Veranjaka<br>(43)&nbsp;Đại kinh Phương quảng<br>(44)&nbsp;Tiểu kinh Phương quảng&nbsp;</strong><em>(a)</em><strong><br>(45)&nbsp;Tiểu kinh Pháp hành&nbsp;</strong><em>(a)</em><strong><br>(46)&nbsp;Đại kinh Pháp hành<br>(47)&nbsp;Kinh Tư sát<br>(48)&nbsp;Kinh Kosampiya<br>(49)&nbsp;Kinh Phạm thiên cầu thỉnh<br>(50)&nbsp;Kinh Hàng ma</strong></td></tr></tbody></table></figure>



<h3 class="wp-block-heading">Tập II (Kinh số 51-100)</h3>



<figure class="wp-block-table"><table class="has-fixed-layout"><tbody><tr><td><strong>(51)&nbsp;Kinh Kandaraka<br>(52)&nbsp;Kinh Bát thành<br>(53)&nbsp;Kinh Hữu học<br>(54)&nbsp;Kinh Potaliya<br>(55)&nbsp;Kinh Jivaka<em><br></em>(56)&nbsp;Kinh Ưu-ba-ly<br>(57)&nbsp;Kinh Hạnh con chó&nbsp;<em>(a)</em><br>(58)&nbsp;Kinh Vương&nbsp;tử Vô-úy&nbsp;<em>(a)</em><br>(59)&nbsp;Kinh Nhiều cảm thọ<br>(60)&nbsp;Kinh Không gì chuyển hướng<em><br></em>(61)&nbsp;Kinh Giáo&nbsp;giới La-hầu-la ở Am-bà-la&nbsp;<em>(a)</em><br>(62)&nbsp;Đại kinh Giáo giới La-hầu-la<br>(63)&nbsp;Tiểu kinh Malunkyaputta&nbsp;<em>(a)</em><br>(64)&nbsp;Đại kinh&nbsp;Malunkyaputta<br>(65)&nbsp;Kinh Bhaddali<em><br></em>(66)&nbsp;Kinh Ví dụ con chim cáy<br>(67)&nbsp;Kinh Catuma<br>(68)&nbsp;Kinh Nalakapana<br>(69)&nbsp;Kinh Gulissani<br>(70)&nbsp;Kinh Kitagiri<br>(71)&nbsp;Kinh Vacchagotta về tam minh<br>(72)&nbsp;Kinh Vacchagotta về lửa&nbsp;<em>(a)</em><br>(73)&nbsp;Đại kinh&nbsp;Vacchagotta<br>(74)&nbsp;Kinh Trường Trảo<br>(75)&nbsp;Kinh Magandiya&nbsp;<em>(a)</em></strong></td><td><strong>(76)&nbsp;Kinh Sandaka<br>(77)&nbsp;Đại kinh&nbsp;Sakuludayi<br>(78)&nbsp;Kinh Samanamandika<br>(79)&nbsp;Tiểu kinh Sakuludayi<br>(80)&nbsp;Kinh Vekhanassa<em><br></em>(81)&nbsp;Kinh Ghatikara<br>(82)&nbsp;Kinh Ratthapala&nbsp;<em>(a)</em><br>(83)&nbsp;Kinh Makhadeva<br>(84)&nbsp;Kinh Madhura<br>(85)&nbsp;Kinh Vương&nbsp;tử<em>&nbsp;</em>Bồ-đề<em><br></em>(86)&nbsp;Kinh Angulimala<br>(87)&nbsp;Kinh Ái sanh&nbsp;<em>(a)</em><br>(88)&nbsp;Kinh Bahitika<br>(89)&nbsp;Kinh Pháp trang nghiêm<br>(90)&nbsp;Kinh Kannakatthala<em><br></em>(91)&nbsp;Kinh Brahmayu<br>(92)&nbsp;Kinh Sela<br>(93)&nbsp;Kinh Assalayana<br>(94)&nbsp;Kinh Ghotamukha<br>(95)&nbsp;Kinh Canki<em><br></em>(96)&nbsp;Kinh Esukari<br>(97)&nbsp;Kinh Dhananjani<br>(98)&nbsp;Kinh Vasettha<br>(99)&nbsp;Kinh Subha<br>(100)&nbsp;Kinh Sangarava&nbsp;</strong></td></tr></tbody></table></figure>



<h3 class="wp-block-heading">Tập III (Kinh số 101-152)</h3>



<figure class="wp-block-table"><table class="has-fixed-layout"><tbody><tr><td><strong>(101)&nbsp;Kinh Devadaha<br>(102)&nbsp;Kinh Năm và Ba<br>(103)&nbsp;Kinh Nghĩ như thế nào?<br>(104)&nbsp;Kinh Làng Sama<br>(105)&nbsp;Kinh&nbsp;Thiện tinh</strong><em>&nbsp;(a)<br></em><strong>(106)&nbsp;Kinh&nbsp;Bất động&nbsp;lợi ích<br>(107)&nbsp;Kinh Ganaka Moggalana&nbsp;</strong><em>(a)</em><strong><br>(108)&nbsp;Kinh Gopaka Moggalana&nbsp;</strong><em>(a)</em><strong><br>(109)&nbsp;Đại kinh Mãn nguyệt<br>(110)&nbsp;Tiểu kinh Mãn nguyệt<br>(111)&nbsp;Kinh Bất đoạn<br>(112)&nbsp;Kinh Sáu thanh tịnh<br>(113)&nbsp;Kinh Chân nhân<br>(114)&nbsp;Kinh Nên&nbsp;hành trì, không nên&nbsp;hành trì<br>(115)&nbsp;Kinh Đa giới<br>(116)&nbsp;Kinh Thôn tiên</strong><em><br></em><strong>(117)&nbsp;Đại kinh Bốn mươi&nbsp;</strong><em>(a)</em><strong><br>(118)&nbsp;Kinh Nhập tức Xuất tức niệm&nbsp;</strong><em>(a)</em><strong><br>(119)&nbsp;Kinh Thân hành niệm&nbsp;</strong><em>(a)</em><strong><br>(120)&nbsp;Kinh Hành sanh</strong><em><br></em><strong>(121)&nbsp;Kinh Tiểu không&nbsp;</strong><em>(a)</em><strong><br>(122)&nbsp;Kinh Đại không<br>(123)&nbsp;Kinh Hy hữu vị tằng hữu pháp<br>(124)&nbsp;Kinh Bạc-câu-la<br>(125)&nbsp;Kinh Điều ngự địa&nbsp;</strong><em>(a)<br></em><strong>(126)&nbsp;Kinh Phù-di&nbsp;</strong><em>(a)</em><em>(a) Việt-Anh</em></td><td><strong>(127)&nbsp;Kinh A-na-luật<br>(128)&nbsp;Kinh&nbsp;Tùy phiền não<br>(129)&nbsp;Kinh Hiền ngu<br>(130)&nbsp;Kinh Thiên sứ</strong><em><br></em><strong>(131)&nbsp;Kinh Nhất dạ hiền giả&nbsp;</strong><em>(a)</em><strong><br>(132)&nbsp;Kinh A-nan nhất dạ&nbsp;hiền giả<br>(133)&nbsp;Kinh Đại Ca-chiên-diên nhất dạ&nbsp;hiền giả<br>(134)&nbsp;Kinh Lomasakangiya nhất dạ&nbsp;hiền giả<br>(135)&nbsp;Tiểu kinh Nghiệp phân biệt&nbsp;</strong><em>(a)</em><br><strong>(136)&nbsp;Đại kinh Nghiệp phân biệt&nbsp;</strong><em>(a)</em><br><strong>(137)&nbsp;Kinh Phân biệt sáu xứ<br>(138)&nbsp;Kinh Tổng thuyết và biệt thuyết<br>(139)&nbsp;Kinh Vô tránh phân biệt<br>(140)&nbsp;Kinh Giới phân biệt&nbsp;</strong><em>(a)</em><strong><br>(141)&nbsp;Kinh Phân biệt về sự thật<br>(142)&nbsp;Kinh Phân biệt cúng dường</strong><em><br></em><strong>(143)&nbsp;Kinh Giáo giới Cấp Cô Độc<br>(144)&nbsp;Kinh Giáo giới Channa<br>(145)&nbsp;Kinh Giáo&nbsp;giới Phú-lâu-na<br>(146)&nbsp;Kinh Giáo giới Nandaka<br>(147)&nbsp;Tiểu kinh&nbsp;giáo giới La-hầu-la<br>(148)&nbsp;Kinh Sáu sáu&nbsp;</strong><em>(a)</em><strong><br>(149)&nbsp;Đại kinh Sáu xứ&nbsp;</strong><em>(a)</em><strong><br>(150)&nbsp;Kinh Nói cho dân chúng Nagaravinda<br>(151)&nbsp;Kinh Khất thực thanh tịnh<br>(152)&nbsp;Kinh Căn tu tập&nbsp;</strong><em>(a)</em></td></tr></tbody></table></figure>
<p>The post <a href="https://tangkinhcac.org/tom-tat-kinh-trung-bo/">Tóm tắt kinh Trung Bộ</a> appeared first on <a href="https://tangkinhcac.org">Tàng Kinh Các</a>.</p>
]]></content:encoded>
					
		
		
			</item>
		<item>
		<title>1. Kinh Phạm Võng (Brahmajàla Sutta)</title>
		<link>https://tangkinhcac.org/1-kinh-pham-vong-brahmajala-sutta/</link>
		
		<dc:creator><![CDATA[admin]]></dc:creator>
		<pubDate>Thu, 12 Feb 2026 10:31:50 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[kinh trường bộ html]]></category>
		<category><![CDATA[Thích Minh Châu]]></category>
		<category><![CDATA[kinh phạm võng]]></category>
		<category><![CDATA[kinh trường bộ]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://tangkinhcac.org/?p=108</guid>

					<description><![CDATA[<p>Đại Tạng Kinh Việt NamKINH TRƯỜNG BỘDìgha NikàyaHòa thượng Thích Minh Châu dịch Việt &#8211; Phật Lịch 2535 &#8211; 1991 1.&#160;Kinh Phạm Võng&#160;(Brahmajàla sutta) &#160;Tụng phẩm thứ nhất &#160;1.&#160;Như vầy&#160;tôi nghe. Một thời,&#160;Thế Tôn&#160;đang đi trên&#160;con đường&#160;giữa Ràjagaha (Vương Xá) và Nalandà, cùng với&#160;đại chúng&#160;Tỷ-kheo khoảng năm trăm vị. Lúc bấy giờ có Suppiya du sĩ&#160;ngoại đạo&#160;cũng đi trên&#160;con đường&#160;giữa [&#8230;]</p>
<p>The post <a href="https://tangkinhcac.org/1-kinh-pham-vong-brahmajala-sutta/">1. Kinh Phạm Võng (Brahmajàla Sutta)</a> appeared first on <a href="https://tangkinhcac.org">Tàng Kinh Các</a>.</p>
]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[
<p class="has-text-align-center wp-block-paragraph">Đại Tạng Kinh Việt Nam<br><strong><mark style="background-color:rgba(0, 0, 0, 0);color:#cf2e2e" class="has-inline-color">KINH TRƯỜNG BỘ</mark></strong><br>Dìgha Nikàya<br>Hòa thượng Thích Minh Châu dịch Việt &#8211; Phật Lịch 2535 &#8211; 1991</p>



<p class="wp-block-paragraph"><strong>1.&nbsp;Kinh Phạm Võng</strong><br>&nbsp;(Brahmajàla sutta)<br><br>&nbsp;Tụng phẩm thứ nhất</p>



<p class="wp-block-paragraph">&nbsp;1.&nbsp;Như vầy&nbsp;tôi nghe. Một thời,&nbsp;Thế Tôn&nbsp;đang đi trên&nbsp;con đường&nbsp;giữa Ràjagaha (Vương Xá) và Nalandà, cùng với&nbsp;đại chúng&nbsp;Tỷ-kheo khoảng năm trăm vị. Lúc bấy giờ có Suppiya du sĩ&nbsp;ngoại đạo&nbsp;cũng đi trên&nbsp;con đường&nbsp;giữa Ràjagaha và Nalandà cùng với&nbsp;đệ tử, thanh niên Brahmadatta. Suppiya, du sĩ&nbsp;ngoại đạo&nbsp;dùng&nbsp;vô số&nbsp;phương tiện&nbsp;hủy&nbsp;báng Phật, hủy&nbsp;báng Pháp, hủy báng Tăng, còn&nbsp;đệ tử&nbsp;của du sĩ&nbsp;ngoại đạo&nbsp;Suppiya, thanh niên Brahmadatta, lại dùng&nbsp;vô số&nbsp;phương tiện&nbsp;tán thán&nbsp;Phật,&nbsp;tán thán&nbsp;Pháp,&nbsp;tán thán&nbsp;Tăng. Như vậy cả hai thầy trò nói những lời&nbsp;hoàn toàn&nbsp;tương phản nhau trong khi đi sau lưng&nbsp;đức Phật&nbsp;và chúng Tỷ-kheo.</p>



<p class="wp-block-paragraph">&nbsp;2. Rồi&nbsp;Thế Tôn&nbsp;đến nghỉ một đêm tại Ambalatthikà, nhà nghỉ mát của vua, cùng với chúng Tỷ-kheo. Suppiya, du sĩ&nbsp;ngoại đạo&nbsp;cũng đến nghỉ một đêm tại Ambalatthikà, nhà nghỉ mát của vua, cùng với&nbsp;đệ tử, thanh niên Brahmadatta. Tại đây, du sĩ&nbsp;ngoại đạo&nbsp;Suppiya cũng dùng&nbsp;vô số&nbsp;phương tiện&nbsp;hủy&nbsp;báng Phật, hủy&nbsp;báng Pháp, hủy báng Tăng, còn người&nbsp;đệ tử&nbsp;của du sĩ&nbsp;ngoại đạo&nbsp;Suppiya, thanh niên Brahmadatta, lại dùng&nbsp;vô số&nbsp;phương tiện&nbsp;tán thán&nbsp;Phật,&nbsp;tán thán&nbsp;Pháp,&nbsp;tán thán&nbsp;Tăng. Như vậy cả hai thầy trò nói những lời tương phản nhau trong khi đi sau lưng&nbsp;Thế Tôn&nbsp;và chúng Tỷ-kheo.</p>



<p class="wp-block-paragraph">&nbsp;3. Và khi đêm vừa mới tàn, một số lớn&nbsp;chư Tăng, sau khi&nbsp;thức dậy, đã ngồi họp tại một gian nhà hình tròn và&nbsp;câu chuyện&nbsp;sau đây được bàn đến giữa&nbsp;chư Tăng.</p>



<p class="wp-block-paragraph">&nbsp;&#8211; Này các&nbsp;Hiền giả, thật&nbsp;kỳ diệu&nbsp;thay! Này các&nbsp;Hiền giả, thật&nbsp;hy hữu&nbsp;thay!&nbsp;Thế Tôn, đấng&nbsp;Toàn Tri, Toàn Kiến, đấng A-la-hán, bậc&nbsp;Chánh Đẳng Giác, đã thấu hiểu sự&nbsp;xu hướng&nbsp;sai khác của&nbsp;chúng sanh. Suppiya, kẻ du sĩ&nbsp;ngoại đạo&nbsp;này dùng&nbsp;vô số&nbsp;phương tiện&nbsp;hủy&nbsp;báng Phật, hủy&nbsp;báng Pháp, hủy báng Tăng. Còn&nbsp;đệ tử&nbsp;du sĩ&nbsp;ngoại đạo&nbsp;Suppiya, thanh niên Brahmadatta lại dùng&nbsp;vô số&nbsp;phương tiện,&nbsp;tán thán&nbsp;Phật,&nbsp;tán thán&nbsp;Pháp,&nbsp;tán thán&nbsp;Tăng. Như vậy cả hai thầy trò đã nói những lời&nbsp;hoàn toàn&nbsp;tương phản trong khi đi sau lưng&nbsp;Thế Tôn&nbsp;và chúng Tỷ-kheo.</p>



<p class="wp-block-paragraph">&nbsp;4. Lúc bấy giờ&nbsp;Thế Tôn&nbsp;được biết&nbsp;câu chuyện&nbsp;đang bàn giữa&nbsp;chư Tăng, liền đến tại gian nhà hình tròn và ngồi xuống trên chỗ đã soạn sẵn. Sau khi ngồi xuống,&nbsp;Thế Tôn&nbsp;nói với các vị Tỷ-Kheo :</p>



<p class="wp-block-paragraph">&nbsp;&#8211; Này các Tỷ-kheo,&nbsp;câu chuyện&nbsp;gì được bàn đến trong khi các ngươi ngồi họp tại chỗ này?&nbsp;Vấn đề&nbsp;gì đã được bỏ dở chưa nói xong?</p>



<p class="wp-block-paragraph">&nbsp;Nghe nói như vậy, các Tỷ-kheo bạch&nbsp;Thế Tôn:</p>



<p class="wp-block-paragraph">&nbsp;&#8211; Bạch Thế Tôn! Tại đây, khi đêm vừa mới tàn, chúng con sau khi dậy, ngồi họp tại nơi gian nhà hình tròn và giữa chúng con,&nbsp;câu chuyện&nbsp;sau đây được bàn đến: &#8220;Này các&nbsp;Hiền giả, thật&nbsp;kỳ diệu&nbsp;thay! Này các&nbsp;Hiền giả, thật&nbsp;hy hữu&nbsp;thay!&nbsp;Thế Tôn, đấng&nbsp;Toàn Tri, Toàn Kiến, đấng A-la-hán, bậc&nbsp;Chánh Đẳng Giác, đã thấu hiểu sự&nbsp;xu hướng&nbsp;sai khác của&nbsp;chúng sanh. Suppiya, kẻ du sĩ&nbsp;ngoại đạo&nbsp;này dùng&nbsp;vô số&nbsp;phương tiện&nbsp;hủy&nbsp;báng Phật, hủy&nbsp;báng Pháp, hủy báng Tăng. Còn&nbsp;đệ tử&nbsp;du sĩ&nbsp;ngoại đạo&nbsp;Suppiya, thanh niên Brahmadatta lại dùng&nbsp;vô số&nbsp;phương tiện,&nbsp;tán thán&nbsp;Phật,&nbsp;tán thán&nbsp;Pháp,&nbsp;tán thán&nbsp;Tăng. Như vậy cả hai thầy trò đã nói những lời&nbsp;hoàn toàn&nbsp;tương phản trong khi đi sau lưng&nbsp;Thế Tôn&nbsp;và chúng Tỷ-kheo&#8221;. Bạch&nbsp;Thế Tôn, đó là&nbsp;câu chuyện&nbsp;đang bàn đến nửa chừng của chúng con khi&nbsp;Thế Tôn&nbsp;đến!</p>



<p class="wp-block-paragraph">&nbsp;5. &#8211; Này các Tỷ-kheo, nếu có người hủy báng Ta, hủy&nbsp;báng Pháp&nbsp;hay hủy báng Tăng, các ngươi chớ có&nbsp;vì vậy&nbsp;sanh lòng&nbsp;công phẫn, tức tối, tâm sanh&nbsp;phiền muộn. Này các Tỷ-kheo, nếu có người hủy báng Ta, hủy&nbsp;báng Pháp&nbsp;hay hủy báng Tăng, và nếu các ngươi sanh lòng&nbsp;công phẫn, tức tối, tâm sanh&nbsp;phiền muộn, thời như vậy sẽ có hại cho các ngươi. Nếu có người hủy báng Ta, hủy&nbsp;báng Pháp&nbsp;hay hủy báng Tăng, và nếu các ngươi&nbsp;công phẫn&nbsp;và&nbsp;phiền muộn, thời các ngươi có thể biết được&nbsp;lời nói&nbsp;của những kẻ ấy là đúng hay&nbsp;sai lạc&nbsp;chăng?</p>



<p class="wp-block-paragraph">&nbsp;&#8211; Bạch&nbsp;Thế Tôn, không thể được!</p>



<p class="wp-block-paragraph">&nbsp;&#8211; Này các Tỷ-kheo, khi có người hủy báng Ta, hủy&nbsp;báng Pháp&nbsp;hay hủy báng Tăng, các ngươi phải nói rõ những điểm không đúng&nbsp;sự thật&nbsp;là không đúng&nbsp;sự thật: &#8211; &#8220;Như thế này, điểm này không đúng&nbsp;sự thật; như thế này, điểm này không&nbsp;chính xác; việc này không có giữa&nbsp;chúng tôi; việc này không xảy ra giữa chúng tôi&#8221;.</p>



<p class="wp-block-paragraph">&nbsp;6. Này các Tỷ-kheo, nếu có người&nbsp;tán thán&nbsp;Ta,&nbsp;tán thán&nbsp;Pháp, hay&nbsp;tán thán&nbsp;Tăng, thời các ngươi không nên&nbsp;hoan hỷ,&nbsp;vui mừng,&nbsp;tâm không&nbsp;nên&nbsp;thích thú. Này các Tỷ-kheo, nếu có người&nbsp;tán thán&nbsp;ta,&nbsp;tán thán&nbsp;Pháp hay&nbsp;tán thán&nbsp;Tăng, mà nếu các ngươi&nbsp;hoan hỷ,&nbsp;vui mừng&nbsp;và&nbsp;thích thú&nbsp;thời sẽ có hại cho các ngươi. Này các Tỷ-kheo, nếu có người&nbsp;tán thán&nbsp;Ta,&nbsp;tán thán&nbsp;Pháp hay&nbsp;tán thán&nbsp;Tăng, thời các ngươi hãy&nbsp;công nhận&nbsp;những gì đúng&nbsp;sự thật&nbsp;là đúng&nbsp;sự thật: &#8220;Như thế này, điểm này đúng&nbsp;sự thật, như thế này, điểm này&nbsp;chính xác, việc này có giữa&nbsp;chúng tôi, việc này đã xảy ra giữa chúng tôi&#8221;.</p>



<p class="wp-block-paragraph">&nbsp;7. Này các Tỷ-kheo, thật chỉ thuộc các&nbsp;vấn đề&nbsp;không quan trọng, nhỏ nhặt, chỉ thuộc&nbsp;giới luật&nbsp;mà kẻ&nbsp;phàm phu&nbsp;tán thán&nbsp;Như Lai. Này các Tỷ-kheo, thế nào là những&nbsp;vấn đề&nbsp;không quan trọng, nhỏ nhặt, chỉ thuộc&nbsp;giới luật&nbsp;mà kẻ&nbsp;phàm phu&nbsp;tán thán&nbsp;Như Lai?</p>



<p class="wp-block-paragraph">&nbsp;(Tiểu Giới)</p>



<p class="wp-block-paragraph">&nbsp;8. Sa-môn Gotama&nbsp;từ bỏ&nbsp;sát sanh, tránh xa&nbsp;sát sanh, bỏ trượng, bỏ kiếm, biết&nbsp;tàm quý, có&nbsp;lòng từ, sống&nbsp;thương xót&nbsp;đến&nbsp;hạnh phúc&nbsp;của tất cả&nbsp;chúng sanh&nbsp;và loài&nbsp;hữu tình. &#8211; Này các Tỷ-kheo, đó là lời&nbsp;tán thán&nbsp;Như Lai&nbsp;của kẻ&nbsp;phàm phu.</p>



<p class="wp-block-paragraph">&nbsp;Sa-môn Gotama&nbsp;từ bỏ&nbsp;lấy của không cho, tránh xa sự lấy của không cho, chỉ lấy những vật đã cho, chỉ mong những vật đã cho, tự sống&nbsp;thanh tịnh&nbsp;không có trộm cướp. &#8211; Này các Tỷ-kheo, đó là những lời&nbsp;tán thán&nbsp;Như Lai&nbsp;của kẻ&nbsp;phàm phu.</p>



<p class="wp-block-paragraph">&nbsp;Sa-môn Gotama&nbsp;từ bỏ&nbsp;tà hạnh, tịnh tu&nbsp;phạm hạnh, sống&nbsp;giải thoát,&nbsp;từ bỏ&nbsp;dâm dục&nbsp;hèn hạ. Này các Tỷ-kheo, đó là những lời&nbsp;tán thán&nbsp;Như Lai&nbsp;của kẻ&nbsp;phàm phu.</p>



<p class="wp-block-paragraph">&nbsp;9. Sa-môn Gotama&nbsp;từ bỏ&nbsp;nói láo, tránh xa nói láo, nói những lời&nbsp;chân thật,&nbsp;y chỉ&nbsp;nơi&nbsp;sự thật,&nbsp;chắc chắn,&nbsp;đáng tin&nbsp;cậy, không lừa gạt, không phản lại&nbsp;lời hứa&nbsp;đối với đời. Này các Tỷ-kheo, đó là những lời&nbsp;tán thán&nbsp;Như Lai&nbsp;của kẻ&nbsp;phàm phu.</p>



<p class="wp-block-paragraph">&nbsp;Sa-môn Gotama&nbsp;từ bỏ&nbsp;nói hai lưỡi, tránh xa nói hai lưỡi; nghe điều gì ở chỗ này, không đi nói đến chỗ kia để sanh chia rẽ ở những người nầy; nghe điều gì ở chỗ kia, không đi nói với những người này để sanh chia rẽ ở những người kia. Như vậy Sa-môn Gotama sống&nbsp;hòa hợp&nbsp;những kẻ&nbsp;ly gián,&nbsp;tăng trưởng&nbsp;những kẻ đã&nbsp;hòa hợp,&nbsp;hoan hỷ&nbsp;trong&nbsp;hòa hợp, nói những lời đưa đến&nbsp;hòa hợp. Này các Tỷ-kheo, đó là những lời&nbsp;tán thán&nbsp;Như Lai&nbsp;của kẻ&nbsp;phàm phu.</p>



<p class="wp-block-paragraph">&nbsp;Này các Tỷ-kheo, Sa-môn Gotama&nbsp;từ bỏ&nbsp;lời nói&nbsp;độc ác, tránh xa&nbsp;lời nói&nbsp;độc ác, những&nbsp;lời nói&nbsp;không&nbsp;lỗi lầm, đẹp tai,&nbsp;dễ thương,&nbsp;thông cảm&nbsp;đến tâm, tao nhã,&nbsp;đẹp lòng&nbsp;nhiều người,&nbsp;vui lòng&nbsp;nhiều người, Sa-môn Gotama nói những lời như vậy. Này các Tỷ-kheo, đó là những lời&nbsp;tán thán&nbsp;Như Lai&nbsp;của kẻ&nbsp;phàm phu.</p>



<p class="wp-block-paragraph">&nbsp;Này các Tỷ-kheo, Sa-môn Gotama&nbsp;từ bỏ&nbsp;lời nói&nbsp;ỷ ngữ, tránh xa&nbsp;lời nói&nbsp;ỷ ngữ,&nbsp;nói đúng&nbsp;thời, nói những lời&nbsp;chân thật, nói những lời có&nbsp;ý nghĩa, nói những lời về&nbsp;Chánh pháp, nói những lời về Luật, nói những lời đáng được&nbsp;gìn giữ, những lời hợp thời, thuận lý, có mạch lạc&nbsp;hệ thống, có&nbsp;ích lợi. &#8211; Này các Tỷ-kheo, đó là những lời&nbsp;tán thán&nbsp;Như Lai&nbsp;của kẻ&nbsp;phàm phu.</p>



<p class="wp-block-paragraph">&nbsp;10. Sa-môn Gotama không làm hại đến các&nbsp;hạt giống&nbsp;và&nbsp;các loại&nbsp;cây cỏ; Sa-môn Gotama dùng mỗi ngày một bữa, không ăn ban đêm,&nbsp;từ bỏ&nbsp;không ăn ban đêm,&nbsp;từ bỏ&nbsp;không ăn&nbsp;phi thời. Sa-môn Gotama&nbsp;từ bỏ&nbsp;không đi xem múa, hát, nhạc, diễn kịch. Sa-môn Gotama&nbsp;từ bỏ&nbsp;không trang sức bằng&nbsp;vòng hoa, hương liệu, dầu thoa và các thời trang. Sa-môn Gotama&nbsp;từ bỏ&nbsp;không dùng giường cao và giường lớn. Sa-môn Gotama&nbsp;từ bỏ&nbsp;không nhận vàng và bạc. Sa-môn Gotama&nbsp;từ bỏ&nbsp;không nhận các&nbsp;hạt giống. Sa-môn Gotama&nbsp;từ bỏ&nbsp;không nhận thịt sống. Sa-môn Gotama&nbsp;từ bỏ&nbsp;không nhận đàn bà, con gái. Sa-môn Gotama&nbsp;từ bỏ&nbsp;không nhận nô tỳ gái và trai. Sa-môn Gotama&nbsp;từ bỏ&nbsp;không nhận cừu và dê. Sa-môn Gotama&nbsp;từ bỏ&nbsp;không nhận&nbsp;gia cầm&nbsp;và heo. Sa-môn Gotama&nbsp;từ bỏ&nbsp;không nhận voi, bò, ngựa và ngựa cái. Sa-môn Gotama&nbsp;từ bỏ&nbsp;không nhận ruộng nương đất đai. Sa-môn Gotama&nbsp;từ bỏ&nbsp;không phái người&nbsp;môi giới&nbsp;hoặc tự mình làm&nbsp;môi giới. Sa-môn Gotama&nbsp;từ bỏ&nbsp;không buôn bán. Sa-môn Gotama&nbsp;từ bỏ&nbsp;các sự&nbsp;gian lận&nbsp;bằng cân, tiền bạc và đo lường. Sa-môn Gotama&nbsp;từ bỏ&nbsp;các&nbsp;tà hạnh, như hối lộ,&nbsp;gian trá,&nbsp;lừa đảo. Sa-môn Gotama&nbsp;từ bỏ&nbsp;không làm&nbsp;thương tổn,&nbsp;sát hại,&nbsp;câu thúc, bức đoạt,&nbsp;trộm cắp, cướp phá. &#8211; Này các Tỷ-kheo, đó là những lời&nbsp;tán thán&nbsp;Như Lai&nbsp;của kẻ&nbsp;phàm phu.</p>



<p class="wp-block-paragraph">&nbsp;(Trung Giới)</p>



<p class="wp-block-paragraph">&nbsp;11. Trong khi một số Sa-môn, Bà-la-môn dầu đã dùng các món ăn do&nbsp;tín thí&nbsp;cúng dường, vẫn còn sống làm hại các&nbsp;hạt giống&nbsp;và cây cối. Như các&nbsp;hạt giống&nbsp;từ rễ sanh,&nbsp;hạt giống&nbsp;từ ngành cây sanh,&nbsp;hạt giống&nbsp;từ đất sanh,&nbsp;hạt giống&nbsp;từ chiết cây sanh và thứ năm là&nbsp;hạt giống&nbsp;từ&nbsp;hạt giống&nbsp;sanh. Còn Sa-môn Gotama thì không làm hại hột giống hay cây cối nào. &#8211; Này các Tỷ-kheo, như vậy người&nbsp;phàm phu&nbsp;tán thán&nbsp;Như Lai.</p>



<p class="wp-block-paragraph">&nbsp;12. Trong khi một số Sa-môn, Bà-la-môn, dầu đã dùng các món ăn do&nbsp;tín thí&nbsp;cúng dường, vẫn còn sống cất chứa và&nbsp;thọ hưởng&nbsp;các đồ vật. Như cất chứa các món ăn, cất chứa các đồ uống, cất chứa vải, cất chứa xe cộ, cất chứa các đồ nằm, cất chứa các hương liệu, cất chứa các mỹ vị. Còn Sa-môn Gotama thì&nbsp;từ bỏ&nbsp;không cất chứa các vật trên. &#8211; Này các Tỷ-kheo, như vậy người&nbsp;phàm phu&nbsp;tán thán&nbsp;Như Lai.</p>



<p class="wp-block-paragraph">&nbsp;13. Trong khi một số Sa-môn, Bà-la-môn, dầu đã dùng các món ăn do&nbsp;tín thí&nbsp;cúng dường, vẫn còn sống theo các du hí không chân chánh như múa, hát, nhạc, kịch,&nbsp;ngâm vịnh, nhịp tay,&nbsp;tụng chú, đánh trống, diễn các tuồng&nbsp;thần tiên, mãi võ, đấu voi, đấu ngựa, đấu trâu, đấu bò đực, đấu dê, đấu cừu, đấu gà, đấu chim cun cút, đấu gậy, đấu quyền, đấu vật, đánh&nbsp;giặc giả, dàn trận,&nbsp;thao dượt, diễn binh. Còn Sa-môn Gotama thì&nbsp;từ bỏ&nbsp;các loại&nbsp;du hí không chân chánh như trên. &#8211; Này các Tỷ-kheo, như vậy người&nbsp;phàm phu&nbsp;tán thán&nbsp;Như Lai.</p>



<p class="wp-block-paragraph">&nbsp;14. Trong khi một số Sa-môn, Bà-la-môn dầu đã dùng các món ăn do&nbsp;tín thí&nbsp;cúng dường, vẫn còn sống đánh bài và theo các trò&nbsp;giải trí&nbsp;như cờ tám hình vuông, cờ mười hình vuông, cờ trên không, trò chơi trên đất, chỉ bước vào những ô có quyền bước, trò chơi quăng thẻ rồi chụp nhưng không cho sụp đống thẻ, chơi súc sắc, chơi khăng, lấy tay làm viết, chơi banh, chơi thổi kèn bằng lá, chơi xe con, chơi cung nhỏ, chơi đoán&nbsp;chữ viết&nbsp;thiếu trên không hay trên lưng, chơi đoán&nbsp;tư tưởng, chơi bắt chước bộ điệu. Còn Sa-môn Gotama thì&nbsp;từ bỏ&nbsp;đánh bài và&nbsp;các loại&nbsp;giải trí&nbsp;như trên. &#8211; Này các Tỷ-kheo, như vậy người&nbsp;phàm phu&nbsp;tán thán&nbsp;Như Lai.</p>



<p class="wp-block-paragraph">&nbsp;15. Trong khi một số Sa-môn, Bà-la-môn, dầu đã dùng các món ăn do&nbsp;tín thí&nbsp;cúng dường, cũng vẫn sống dùng các giường cao và giường lớn như ghế bành, ghế dài, nệm trải giường bằng len, vải trải giường nhiều tấm nhiều màu, chăn len trắng, chăn len thêu bông, nệm bông, nệm thêu hình các con thú, mền bằng lông thú cả hai phía, mền bằng lông thú một phía, mền có đính ngọc, mền bằng lụa, tấm thảm lớn có thể chứa mười sáu người múa, nệm voi, nệm ngựa, nệm xe, nệm bằng da sơn dương khâu lại&nbsp;với nhau, nệm bằng da con sơn dương gọi là kadali, tấm khảm với lầu che phía trên, ghế dài có đầu gối chân màu đỏ. Còn Sa-môn Gotama thì&nbsp;từ bỏ&nbsp;không dùng các giường cao và giường lớn như trên. &#8211; Này các Tỷ-kheo, như vậy người&nbsp;phàm phu&nbsp;tán thán&nbsp;Như Lai.</p>



<p class="wp-block-paragraph">&nbsp;16. Trong khi một số Sa-môn, Bà-la-môn dầu đã dùng các món ăn do&nbsp;tín thí&nbsp;cúng dường, cũng vẫn sống dùng các đồ trang sức và mỹ phẩm. Như thoa dầu, đấm bóp, tắm, đập tay chân cho&nbsp;mềm dẻo, gương, kem đánh mặt,&nbsp;vòng hoa&nbsp;và phấn son, phấn mặt, sáp mặt, vòng tay, tóc giả trên đầu, gậy cầm tay, ống thuốc, gươm, lọng, dép thêu, khăn đầu, ngọc,&nbsp;phất trần, vải trắng có viền tua dài. Còn Sa-môn Gotama thì&nbsp;từ bỏ&nbsp;không dùng&nbsp;các loại&nbsp;trang sức và mỹ phẩm như trên. Này các Tỷ-kheo, như vậy người&nbsp;phàm phu&nbsp;tán thán&nbsp;Như Lai.</p>



<p class="wp-block-paragraph">&nbsp;17. Trong khi một số Sa-môn, Bà-la-môn, dầu đã dùng các món ăn do&nbsp;tín thí&nbsp;cúng dường, vẫn còn sống nói những&nbsp;câu chuyện&nbsp;vô ích, tầm thường như&nbsp;câu chuyện&nbsp;về vua chúa,&nbsp;câu chuyện&nbsp;về&nbsp;ăn trộm,&nbsp;câu chuyện&nbsp;về đại thần,&nbsp;câu chuyện&nbsp;về binh lính, các&nbsp;câu chuyện&nbsp;hãi hùng,&nbsp;câu chuyện&nbsp;về chiến tranh,&nbsp;câu chuyện&nbsp;về đồ ăn,&nbsp;câu chuyện&nbsp;về đồ uống,&nbsp;câu chuyện&nbsp;về vải mặc,&nbsp;câu chuyện&nbsp;về giường nằm,&nbsp;câu chuyện&nbsp;về&nbsp;vòng hoa,&nbsp;câu chuyện&nbsp;về hương liệu,&nbsp;câu chuyện&nbsp;về&nbsp;bà con,&nbsp;câu chuyện&nbsp;về xe cộ,&nbsp;câu chuyện&nbsp;về làng xóm,&nbsp;câu chuyện&nbsp;về thị tứ,&nbsp;câu chuyện&nbsp;về thành phố,&nbsp;câu chuyện&nbsp;về&nbsp;quốc độ,&nbsp;câu chuyện&nbsp;về đàn bà,&nbsp;câu chuyện&nbsp;về đàn ông,&nbsp;câu chuyện&nbsp;về vị&nbsp;anh hùng,&nbsp;câu chuyện&nbsp;bên lề đường,&nbsp;câu chuyện&nbsp;tại chỗ lấy nước,&nbsp;câu chuyện&nbsp;về người đã chết, các&nbsp;câu chuyện&nbsp;tạp thoại,&nbsp;câu chuyện&nbsp;về&nbsp;hiện trạng&nbsp;của&nbsp;thế giới,&nbsp;hiện trạng&nbsp;của&nbsp;đại dương,&nbsp;câu chuyện&nbsp;về sự&nbsp;hiện hữu&nbsp;và sự không&nbsp;hiện hữu. Còn Sa-môn Gotama&nbsp;từ bỏ&nbsp;không nói những&nbsp;câu chuyện&nbsp;vô ích, tầm thường kể trên. &#8211; Này các Tỷ-kheo, như vậy người&nbsp;phàm phu&nbsp;tán thán&nbsp;Như Lai.</p>



<p class="wp-block-paragraph">&nbsp;18. Trong khi một số Sa-môn, Bà-la-môn dầu đã dùng các món ăn do&nbsp;tín thí&nbsp;cúng dường, vẫn còn sống&nbsp;bàn luận&nbsp;tranh chấp, như nói: &#8220;Ngươi không biết pháp và luật này, tôi biết pháp và luật này. Sao ngươi có thể biết pháp và luật này? Ngươi đã phạm vào&nbsp;tà kiến, tôi mới thật đúng&nbsp;chánh kiến;&nbsp;lời nói&nbsp;của tôi mới&nbsp;tương ưng,&nbsp;lời nói&nbsp;của ngươi không&nbsp;tương ưng;&nbsp;lời nói&nbsp;của ngươi không&nbsp;tương ưng, những điều đáng&nbsp;nói trước&nbsp;ngươi lại nói sau, những điều đáng nói sau ngươi lại&nbsp;nói trước, chủ kiến của ngươi đã bị&nbsp;bài bác; câu nói của ngươi đã bị thách đấu; ngươi đã bị thuyết bại. Hãy đến mà giải vây&nbsp;lời nói&nbsp;ấy;&nbsp;nếu có thể&nbsp;được, gắng thoát ra khỏi lối bí&#8221;. Còn Sa-môn Gotama thì&nbsp;từ bỏ&nbsp;những cuộc&nbsp;biện luận&nbsp;tranh chấp&nbsp;đã kể trên. &#8211; Này các Tỷ-kheo, như vậy người&nbsp;phàm phu&nbsp;tán thán&nbsp;Như Lai.</p>



<p class="wp-block-paragraph">&nbsp;19. Trong khi một số Sa-môn, Bà-la-môn dầu đã dùng các món ăn do&nbsp;tín thí&nbsp;cúng dường, vẫn còn sống cho đưa các&nbsp;tin tức, hoặc tự đứng làm&nbsp;môi giới, như cho các vua, cho các đại thần của vua, cho các vị Sát-đế-lỵ, cho các vị Bà-la-môn, cho các&nbsp;gia chủ, cho các thanh niên và nói rằng: &#8220;Hãy đi đến chỗ ấy, hãy đi lại chỗ kia; mang cái này lại, đem cái này đến chỗ kia&#8221;. Còn Sa-môn Gotama thì&nbsp;từ bỏ&nbsp;không cho đưa các&nbsp;tin tức&nbsp;và tự đứng làm&nbsp;môi giới. Như vậy kẻ&nbsp;phàm phu&nbsp;tán thán&nbsp;Như Lai.</p>



<p class="wp-block-paragraph">&nbsp;20. Trong khi một số Sa-môn, Bà-la-môn, dầu đã dùng các món ăn do&nbsp;tín thí&nbsp;cúng dường, vẫn còn sống&nbsp;lừa đảo, nói lời siểm nịnh, gợi ý, dèm pha, lấy lợi&nbsp;cầu lợi. Còn Sa-môn Gotama thì&nbsp;từ bỏ&nbsp;không&nbsp;lừa đảo&nbsp;và siểm nịnh như trên. Này các Tỷ-kheo, như vậy kẻ&nbsp;phàm phu&nbsp;tán thán&nbsp;Như Lai.</p>



<p class="wp-block-paragraph">&nbsp;(Đại Giới)</p>



<p class="wp-block-paragraph">&nbsp;21. Trong khi một số Sa-môn, Bà-la-môn, dầu đã dùng các món ăn do&nbsp;tín thí&nbsp;cúng dường, vẫn còn tự nuôi sống bằng những&nbsp;tà hạnh như&nbsp;xem tướng&nbsp;tay chân, chiêm tướng, triệu tướng,&nbsp;mộng tướng,&nbsp;thân tướng, dấu chuột cắn, tế lửa, tế muỗng, dùng miệng phun hột cải v.v&#8230; vào lửa, tế vỏ lúa, tế tấm, tế gạo, tế thục tô, tế dầu, tế máu, khoa xem&nbsp;chi tiết, khoa xem địa lý, khoa xem mộng, khoa cầu thần&nbsp;ban phước, khoa cầu&nbsp;ma quỷ, khoa dùng bùa chú khi ở trong nhà bằng đất, khoa rắn, khoa thuốc độc, khoa bọ cạp, khoa chim, khoa chim quạ, khoa đoán số mạng, khoa ngừa tên bắn, khoa biết tiếng nói của chim. Còn Sa-môn Gotama thì tránh xa những&nbsp;tà hạnh&nbsp;kể trên. &#8211; Này các Tỷ-kheo, như vậy kẻ&nbsp;phàm phu&nbsp;tán thán&nbsp;Như Lai.</p>



<p class="wp-block-paragraph">&nbsp;22. Trong khi một số Sa-môn, Bà-la-môn, dầu đã dùng các món ăn do&nbsp;tín thí&nbsp;cúng dường, vẫn còn nuôi sống mình bằng những&nbsp;tà mạng&nbsp;như&nbsp;xem tướng&nbsp;các hòn ngọc, tướng que gậy, tướng áo quần, tướng gươm kiếm, tướng mũi tên, tướng cây cung, tướng võ khí, tướng đàn bà, tướng đàn ông, tướng&nbsp;thiếu niên, tướng&nbsp;thiếu nữ, tướng đầy tớ nam, tường đầy tớ nữ, tướng voi, tướng ngựa, tướng trâu, tướng bò đực, tướng bò cái, tướng dê, tướng cừu, tướng&nbsp;gia cầm, tướng chim cun cút, tướng con cắc kè, tướng vật tai dài, tướng ma, tướng&nbsp;thú vật. Còn Sa-môn Gotama thì&nbsp;từ bỏ&nbsp;những&nbsp;tà mạng&nbsp;kể trên.</p>



<p class="wp-block-paragraph">&nbsp;&#8211; Này các Tỷ-kheo, như vậy kẻ&nbsp;phàm phu&nbsp;tán thán&nbsp;Như Lai.</p>



<p class="wp-block-paragraph">&nbsp;23. Trong khi một số Sa-môn, Bà-la-môn, dầu đã dùng các món ăn do&nbsp;tín thí&nbsp;cúng dường, vẫn còn tự nuôi sống bằng những&nbsp;tà mạng&nbsp;như&nbsp;đoán trước: Vua sẽ tiến quân, vua sẽ lui quân; vua bản xứ sẽ tấn công, vua ngoại bang sẽ triệt thối; vua ngoại bang sẽ tấn công, vua bản xứ sẽ triệt thối; vua bản xứ sẽ thắng trận, vua ngoại bang sẽ bại trận; vua ngoại bang sẽ thắng trận, vua bản xứ sẽ bại trận. Như vậy sẽ có sự thắng trận cho phe bên này, sẽ có sự thất bại cho phe bên kia. Còn Sa-môn Gotama thì&nbsp;từ bỏ&nbsp;những&nbsp;tà mạng&nbsp;kể trên.</p>



<p class="wp-block-paragraph">&nbsp;&#8211; Này các Tỷ-kheo, như vậy kẻ&nbsp;phàm phu&nbsp;tán thán&nbsp;Như Lai.</p>



<p class="wp-block-paragraph">&nbsp;24. Trong khi một số Sa-môn, Bà-la-môn, dầu đã dùng các món ăn do&nbsp;tín thí&nbsp;cúng dường, vẫn còn tự nuôi sống bằng những&nbsp;tà mạng&nbsp;như&nbsp;đoán trước&nbsp;sẽ có nguyệt thực, sẽ có nhựt thực, sẽ có tinh thực;&nbsp;mặt trăng,&nbsp;mặt trời&nbsp;sẽ đi đúng&nbsp;chánh đạo,&nbsp;mặt trăng,&nbsp;mặt trời&nbsp;sẽ đi ngoài&nbsp;chánh đạo, các&nbsp;tinh tú&nbsp;sẽ đi đúng&nbsp;chánh đạo, các&nbsp;tinh tú&nbsp;sẽ đi ngoài&nbsp;chánh đạo, sẽ có&nbsp;sao băng, sẽ có lửa cháy các&nbsp;phương hướng, sẽ có động đất, sẽ có sấm trời,&nbsp;mặt trăng,&nbsp;mặt trời, các sao sẽ mọc, sẽ lặn, sẽ mờ, sẽ sáng, nguyệt thực sẽ có kết quả như thế này, nhựt thực sẽ có kết quả như thế này, tinh thực sẽ có kết quả như thế này,&nbsp;mặt trăng&nbsp;mặt trời&nbsp;đi đúng&nbsp;chánh đạo&nbsp;sẽ có kết quả như thế này,&nbsp;mặt trăng&nbsp;mặt trời&nbsp;đi ngoài&nbsp;chánh đạo&nbsp;sẽ có kết quả như thế này, các&nbsp;tinh tú&nbsp;đi đúng&nbsp;chánh đạo&nbsp;sẽ có kết quả như thế này,&nbsp;sao băng&nbsp;sẽ có kết quả như thế này, lửa cháy các&nbsp;phương hướng&nbsp;sẽ có kết quả như thế này, động đất sẽ có những kết quả như thế này, sấm trời sẽ có kết quả như thế này,&nbsp;mặt trăng,&nbsp;mặt trời, các sao mọc, lặn, mờ, sáng, sẽ có kết quả như thế này. Còn Sa-môn Gotama thì tránh xa, không tự nuôi sống bằng những&nbsp;tà mạng&nbsp;kể trên. &#8211; Này các Tỷ-kheo, như vậy kẻ&nbsp;phàm phu&nbsp;tán thán&nbsp;Như Lai.</p>



<p class="wp-block-paragraph">&nbsp;25. Trong khi một số Sa-môn, Bà-la-môn, dầu đã dùng các món ăn do&nbsp;tín thí&nbsp;cúng dường, vẫn còn tự nuôi sống bằng những&nbsp;tà mạng&nbsp;như&nbsp;đoán trước&nbsp;sẽ có nhiều mưa, sẽ có&nbsp;đại hạn, sẽ được mùa, sẽ&nbsp;mất mùa, sẽ được&nbsp;an ổn, sẽ có hiểm họa, sẽ có bịnh, sẽ không có bịnh, hay làm các nghề như đếm trên ngón tay, kế toán, cộng số lớn, làm thư, làm theo thế tình. Còn Sa-môn Gotama tránh xa các&nbsp;tà hạnh&nbsp;kể trên. &#8211; Này các Tỷ-kheo, như vậy kẻ&nbsp;phàm phu&nbsp;tán thán&nbsp;Như Lai.</p>



<p class="wp-block-paragraph">&nbsp;26. Trong khi một số Sa-môn, Bà-la-môn, dầu đã dùng các món ăn&nbsp;tín thí&nbsp;cúng dường, vẫn còn tự nuôi sống bằng những&nbsp;tà mạng. Như&nbsp;sắp đặt&nbsp;ngày lành&nbsp;để rước dâu hay rể, lựa ngày giờ tốt để&nbsp;hòa giải, lựa ngày giờ tốt để chia rẽ, lựa ngày giờ tốt để đòi nợ, lựa ngày giờ tốt để mượn hay tiêu tiền, dùng bùa chú để giúp người được&nbsp;may mắn, dùng bùa chú để khiến người bị&nbsp;rủi ro, dùng bùa chú để&nbsp;phá thai, dùng bùa chú làm cóng lưỡi, dùng bùa chú khiến quai hàm không&nbsp;cử động, dùng bùa chú khiến cho người phải bỏ tay xuống, dùng bùa chú khiến cho tai bị điếc, hỏi gương soi, hỏi phù đồng,&nbsp;thiếu nữ, hỏi&nbsp;thiên thần&nbsp;để biết&nbsp;họa phước, thờ&nbsp;mặt trời, thờ&nbsp;đại địa, phun ra lửa, cầu Siri&nbsp;thần tài. Còn Sa-môn Gotama tránh xa các&nbsp;tà mạng&nbsp;kể trên. &#8211; Này các Tỷ-kheo, như vậy kẻ&nbsp;phàm phu&nbsp;tán thán&nbsp;Như Lai.</p>



<p class="wp-block-paragraph">&nbsp;27. Trong khi một số Sa-môn, Bà-la-môn, dầu đã dùng các món ăn do&nbsp;tín thí&nbsp;cúng dường, vẫn còn tự nuôi sống bằng những&nbsp;tà mạng&nbsp;như dùng các&nbsp;ảo thuật&nbsp;để được&nbsp;yên ổn, để khỏi làm các điều đã hứa, để được&nbsp;che chở&nbsp;khi ở trong nhà đất, để dương được thịnh, để làm người liệt dương, để tìm đất tốt làm nhà, để cầu phước cho nhà mới, lễ rửa miệng, lễ&nbsp;hy sinh, làm cho mửa, làm cho xổ, bài tiết các nhơ bẩn về phía trên, bài tiết các nhơ bẩn về phía dưới, tẩy tịnh trong đầu, thoa dầu trong tai, nhỏ thuốc mắt, cho thuốc qua lỗ mũi, xức thuốc mắt, thoa dầu cho mắt, chữa bịnh đau mắt, làm thầy thuốc mổ xẻ, chữa bịnh cho con nít, cho uống thuốc làm bằng&nbsp;các loại&nbsp;rễ cây,&nbsp;ngăn ngừa&nbsp;công hiệu&nbsp;của thuốc. Còn Sa-môn Gotama tránh xa các&nbsp;tà mạng&nbsp;kể trên. &#8211; Này các Tỷ-kheo, như vậy kẻ&nbsp;phàm phu&nbsp;tán thán&nbsp;Như Lai.</p>



<p class="wp-block-paragraph">&nbsp;Này các Tỷ-kheo, đấy là những&nbsp;vấn đề&nbsp;không quan trọng, nhỏ nhặt, chỉ thuộc&nbsp;giới luật&nbsp;mà kẻ&nbsp;phàm phu&nbsp;dùng để&nbsp;tán thán&nbsp;Như Lai.</p>



<p class="wp-block-paragraph">&nbsp;28. Này các Tỷ-kheo, lại có những pháp khác, sâu kín, khó thấu, khó chứng,&nbsp;tịch tịnh, mỹ diệu, vượt ngoài tầm của luận lý suông,&nbsp;tế nhị&nbsp;chỉ những người trí mới nhận hiểu. Những pháp ấy&nbsp;Như Lai&nbsp;đã&nbsp;tự chứng&nbsp;tri,&nbsp;giác ngộ&nbsp;và&nbsp;tuyên thuyết. Và chính những pháp ấy những ai&nbsp;như thật&nbsp;chân chánh&nbsp;tán thán&nbsp;Như Lai&nbsp;mới nói đến.</p>



<p class="wp-block-paragraph">&nbsp;Này các Tỷ-kheo, thế nào là những pháp sâu kín, khó thấy, khó chứng,&nbsp;tịch tịnh, mỹ diệu, không thể nhận hiểu bởi luận lý suông,&nbsp;tế nhị, chỉ những người trí mới có thể nhận hiểu. Những pháp ấy&nbsp;Như Lai&nbsp;đã&nbsp;tự chứng&nbsp;tri,&nbsp;giác ngộ&nbsp;và&nbsp;tuyên thuyết, và chính những pháp ấy những ai&nbsp;như thật&nbsp;chân chánh&nbsp;tán thán&nbsp;Như Lai&nbsp;mới nói đến?</p>



<p class="wp-block-paragraph">&nbsp;(62 loại&nbsp;Tà kiến)</p>



<p class="wp-block-paragraph">&nbsp;29. Này các Tỷ-kheo có những Sa-môn, Bà-la-môn,&nbsp;luận bàn&nbsp;về&nbsp;quá khứ&nbsp;tối sơ,&nbsp;chấp kiến&nbsp;về&nbsp;quá khứ&nbsp;tối sơ,&nbsp;y cứ&nbsp;về&nbsp;quá khứ&nbsp;tối sơ,&nbsp;đề xướng&nbsp;nhiều&nbsp;sở kiến&nbsp;sai khác, với mười tám luận chấp. Và&nbsp;y chỉ&nbsp;theo gì, căn&nbsp;cứ theo&nbsp;gì, những Sa-môn, Bà-la-môn ấy&nbsp;luận bàn&nbsp;về phía&nbsp;quá khứ&nbsp;tối sơ,&nbsp;chấp kiến&nbsp;về&nbsp;quá khứ&nbsp;tối sơ,&nbsp;y cứ&nbsp;về&nbsp;quá khứ&nbsp;tối sơ,&nbsp;đề xướng&nbsp;ra nhiều&nbsp;sở kiến&nbsp;sai khác với mười tám luận chấp?</p>



<p class="wp-block-paragraph">&nbsp;30. Này các Tỷ-kheo, có một số Sa-môn, Bà-la-môn, chủ trương Thường trú luận, chấp rằng: &#8220;Bản ngã về&nbsp;thế giới&nbsp;là thường còn&#8221; với bốn luận chấp. Và những Sa-môn, Bà-la-môn này,&nbsp;y chỉ&nbsp;gì, căn cứ gì, chủ trương Thường trú luận, và chấp&nbsp;bản ngã&nbsp;và&nbsp;thế giới&nbsp;là thường còn với bốn luận chấp?</p>



<p class="wp-block-paragraph">&nbsp;31. Này các Tỷ-kheo, nhờ nhiệt tâm, nhờ&nbsp;tinh tấn, nhờ&nbsp;cần mẫn, nhờ không&nbsp;phóng dật, nhờ chánh&nbsp;ức niệm, nên tâm&nbsp;nhập định; khi tâm&nbsp;nhập định, vị ấy nhớ được nhiều&nbsp;đời sống&nbsp;quá khứ, như&nbsp;một đời, hai đời,&nbsp;ba đời, bốn đời, năm đời, mười đời, trăm đời, ngàn đời, trăm ngàn đời,&nbsp;vô số&nbsp;trăm đời,&nbsp;vô số&nbsp;ngàn đời,&nbsp;vô số&nbsp;trăm ngàn đời, nhớ rằng: Khi được sanh tại chỗ ấy, tôi đã sống với tên như thế này, giòng họ như thế này,&nbsp;giai cấp&nbsp;như thế này,&nbsp;ăn uống&nbsp;như thế này,&nbsp;lạc thọ&nbsp;khổ thọ&nbsp;như thế này, tuổi thọ như thế này. Từ chỗ ấy chết đi, tôi lại được sanh đến chỗ kia. Tại chỗ kia, tôi đã sống tên như thế này, giòng họ như thế này,&nbsp;giai cấp&nbsp;như thế này,&nbsp;ăn uống&nbsp;như thế này,&nbsp;lạc thọ,&nbsp;khổ thọ&nbsp;như thế này, tuổi thọ như thế này. Từ chỗ kia chết đi tôi được sanh tại chỗ này&#8221;. Như vậy người ấy nhớ nhiều đời&nbsp;quá khứ, với những&nbsp;đặc điểm&nbsp;và những&nbsp;chi tiết. Người ấy nói rằng: &#8220;Bản ngã và&nbsp;thế giới&nbsp;là thường trú,&nbsp;bất sanh,&nbsp;vững chắc&nbsp;như đảnh núi, như trụ đá; còn những loại&nbsp;hữu tình&nbsp;kia thời&nbsp;lưu chuyển&nbsp;luân hồi, chết đi sanh lại, tuy vậy chúng vẫn thường trú. Tại sao vậy? Vì rằng tôi do nhờ nhiệt tâm, nhờ&nbsp;tinh tấn, nhờ&nbsp;cần mẫn, nhờ không&nbsp;phóng dật, nhờ chánh&nbsp;ức niệm&#8230; còn những loại&nbsp;hữu tình&nbsp;kia thì&nbsp;lưu chuyển&nbsp;luân hồi, chết đi sanh lại, tuy vậy chúng vẫn thường trú&#8221;.</p>



<p class="wp-block-paragraph">&nbsp;Này các Tỷ-kheo đó là&nbsp;lập trường&nbsp;thứ nhất,&nbsp;y chỉ&nbsp;theo đó, căn&nbsp;cứ theo&nbsp;đó, một số những vị Sa-môn, Bà-la-môn, chủ trương Thường trú luận, và chấp rằng&nbsp;bản ngã&nbsp;và&nbsp;thế giới&nbsp;là thường còn.</p>



<p class="wp-block-paragraph">&nbsp;32.&nbsp;Trường hợp&nbsp;thứ hai, có những Sa-môn, Bà-la-môn&nbsp;y chỉ&nbsp;gì, căn cứ gì, chủ trương Thường trú luận, và chấp rằng&nbsp;bản ngã&nbsp;và&nbsp;thế giới&nbsp;là thường còn?</p>



<p class="wp-block-paragraph">&nbsp;Này các Tỷ-kheo, ở đời này có Sa-môn hay Bà-la-môn, nhờ&nbsp;nhất tâm, nhờ&nbsp;tinh tấn, nhờ&nbsp;cần mẫn, nhờ không&nbsp;phóng dật, nhờ chánh&nbsp;ức niệm, nên tâm&nbsp;nhập định, khi tâm&nbsp;nhập định, vị ấy nhớ được nhiều&nbsp;đời sống&nbsp;quá khứ, như một&nbsp;thành kiếp&nbsp;hoại kiếp, hai&nbsp;thành kiếp&nbsp;hoại kiếp, ba&nbsp;thành kiếp&nbsp;hoại kiếp, mười&nbsp;thành kiếp&nbsp;hoại kiếp; nhớ rằng: &#8220;Khi được sanh tại chỗ ấy, tôi đã sống với tên như thế này, giòng họ như thế này,&nbsp;giai cấp&nbsp;như thế này,&nbsp;ăn uống&nbsp;như thế này,&nbsp;lạc thọ&nbsp;khổ thọ&nbsp;như thế này&#8230; còn những loại&nbsp;hữu tình&nbsp;kia&nbsp;lưu chuyển&nbsp;luân hồi, chết đi sanh lại, tuy vậy chúng vẫn thường trú&#8221;.</p>



<p class="wp-block-paragraph">&nbsp;Này các Tỷ-kheo, đó là&nbsp;lập trường&nbsp;thứ hai,&nbsp;y chỉ&nbsp;theo đó, căn&nbsp;cứ theo&nbsp;đó, một số những Sa-môn, Bà-la-môn, chủ trương Thường trú luận và chấp rằng,&nbsp;bản ngã&nbsp;và&nbsp;thế giới&nbsp;thường còn.</p>



<p class="wp-block-paragraph">&nbsp;33.&nbsp;Trường hợp&nbsp;thứ ba, những Sa-môn hay Bà-la-môn,&nbsp;y chỉ&nbsp;gì, căn cứ gì, chủ trương Thường trú luận, và cho rừng&nbsp;bản ngã&nbsp;và&nbsp;thế giới&nbsp;là thường còn?</p>



<p class="wp-block-paragraph">&nbsp;Này các Tỷ-kheo, ở đời này có Sa-môn hay Bà-la-môn, nhờ&nbsp;nhất tâm, nhờ&nbsp;tinh tấn, nhờ&nbsp;cần mẫn, nhờ không&nbsp;phóng dật, nhờ chánh&nbsp;ức niệm, nên tâm&nbsp;nhập định. Khi tâm&nbsp;nhập định, vị ấy nhớ được nhiều&nbsp;đời sống&nbsp;quá khứ, như mười&nbsp;thành kiếp&nbsp;hoại kiếp, hai mươi&nbsp;thành kiếp&nbsp;hoại kiếp, ba mươi&nbsp;thành kiếp&nbsp;hoại kiếp, bốn mươi&nbsp;thành kiếp&nbsp;hoại kiếp, năm mươi&nbsp;thành kiếp&nbsp;hoại kiếp; nhớ rằng: &#8220;Khi được sanh tại chỗ ấy, tôi đã sống với tên như thế này, giòng họ như thế này,&nbsp;giai cấp&nbsp;như thế này,&nbsp;lạc thọ&nbsp;khổ thọ&nbsp;như thế này, tuổi thọ như thế này. Từ chỗ ấy, chết đi, tôi lại được sanh đến chỗ kia. Từ chỗ ấy, chết đi, tôi lại được sanh đến chỗ kia. Tại chỗ kia, tôi đã sống với tên như thế này, giòng họ như thế này,&nbsp;giai cấp&nbsp;như thế này,&nbsp;ăn uống&nbsp;như thế này,&nbsp;lạc thọ&nbsp;khổ thọ&nbsp;như thế này, tuổi thọ như thế này. Từ chỗ kia chết đi, tôi được sanh tại chỗ này&#8221;. Như vậy người ấy nhớ nhiều đời&nbsp;quá khứ&nbsp;với những&nbsp;đặc điểm&nbsp;và những&nbsp;chi tiết. Người ấy nói: &#8220;Bản ngã và&nbsp;thế giới&nbsp;là thường trú,&nbsp;bất sanh,&nbsp;vững chắc&nbsp;như đảnh núi, như trụ đá; còn những loại&nbsp;hữu tình&nbsp;kia thì&nbsp;lưu chuyển&nbsp;luân hồi, chết đi sanh lại, tuy vậy, chúng vẫn thường trú. Tại sao vậy? Vì rằng tôi nhờ nhiệt tâm&#8230; nên tâm&nbsp;nhập định&nbsp;như vậy. Khi tâm&nbsp;nhập định&nbsp;như vậy, tôi nhớ được nhiều&nbsp;đời sống&nbsp;quá khứ, như mười&nbsp;thành kiếp,&nbsp;hoại kiếp&#8230; bốn mươi&nbsp;thành kiếp&nbsp;hoại kiếp&#8221;. Nhớ rằng: &#8220;Khi được sanh tại chỗ ấy, tôi sống với tên như thế này&#8230; tôi được sanh tại chỗ này&#8221;. Như vậy người ấy nhớ nhiều đời&nbsp;quá khứ&nbsp;với những với những&nbsp;đặc điểm&nbsp;và những&nbsp;chi tiết. Người ấy nói: &#8220;Bản ngã và&nbsp;thế giới&nbsp;là thường trú,&nbsp;bất sanh,&nbsp;vững chắc&nbsp;như đảnh núi, trụ đá&#8230; còn những loại&nbsp;hữu tình&nbsp;kia thì&nbsp;lưu chuyển,&nbsp;luân hồi, chết đi sanh lại, tuy vậy chúng vẫn thường trú&#8221;.</p>



<p class="wp-block-paragraph">&nbsp;Này các Tỷ-kheo, đó là&nbsp;lập trường&nbsp;thứ ba,&nbsp;y chỉ&nbsp;theo đó, căn&nbsp;cứ theo&nbsp;đó, một số Sa-môn, Bà-la-môn, chủ trương Thường trú luận, chấp&nbsp;bản ngã&nbsp;và&nbsp;thế giới&nbsp;thường còn.</p>



<p class="wp-block-paragraph">&nbsp;34.&nbsp;Trường hợp&nbsp;thứ tư, những Sa-môn, Bà-la-môn&nbsp;y chỉ&nbsp;gì, căn cứ gì, chủ trương Thường trú luận, và chấp&nbsp;bản ngã&nbsp;và&nbsp;thế giới&nbsp;thường còn?</p>



<p class="wp-block-paragraph">&nbsp;Này các Tỷ-kheo, ở đời có Sa-môn hay Bà-la-môn, là nhà&nbsp;suy luận, là nhà thẩm sát. Do sự chia chẻ của&nbsp;suy luận, và sự&nbsp;tùy thuận&nbsp;theo thẩm sát, vị này&nbsp;tuyên bố&nbsp;như thế này: &#8220;Bản ngã và&nbsp;thế giới&nbsp;là thường trú,&nbsp;bất sanh,&nbsp;vững chắc&nbsp;như đảnh núi, như trụ đá, còn những loại&nbsp;hữu tình&nbsp;kia thời&nbsp;lưu chuyển&nbsp;luân hồi, chết đi sanh lại, tuy vậy chúng vẫn thường còn&#8221;.</p>



<p class="wp-block-paragraph">&nbsp;Này các Tỷ-kheo, đó là&nbsp;lập trường&nbsp;thứ tư,&nbsp;y chỉ&nbsp;theo đó, căn&nbsp;cứ theo&nbsp;đó, một số Sa-môn, Bà-la-môn, chủ trương Thường trú luận, chấp&nbsp;bản ngã&nbsp;và&nbsp;thế giới&nbsp;là thường còn.</p>



<p class="wp-block-paragraph">&nbsp;35. Này các Tỷ-kheo, những Sa-môn, Bà-la-môn này, chủ trương Thường trú luận, chấp&nbsp;bản ngã&nbsp;và&nbsp;thế giới&nbsp;là thường còn, với bốn luận chấp. Nếu có những vị Sa-môn, Bà-la-môn nào chủ trương Thường trú luận, chấp rằng: &#8220;Bản ngã và&nbsp;thế giới&nbsp;là thường còn&#8221;, chúng sẽ chấp cả bốn luận chấp trên, hay một trong những luận chấp trên,&nbsp;ngoài ra&nbsp;không có luận chấp nào khác nữa.</p>



<p class="wp-block-paragraph">&nbsp;36. Này các Tỷ-kheo,&nbsp;Như Lai&nbsp;tuệ tri&nbsp;như thế này: &#8220;Những&nbsp;sở kiến&nbsp;ấy,&nbsp;chấp trước&nbsp;như vậy,&nbsp;chấp thủ&nbsp;như vậy, sẽ đưa đến những cõi thú như vậy, sẽ&nbsp;tác thành&nbsp;những định mạng như vậy&#8221;.&nbsp;Như Lai&nbsp;biết như vậy, Ngài lại biết hơn thế nữa, và Ngài&nbsp;không chấp&nbsp;sở tri&nbsp;ấy. Nhờ&nbsp;không chấp&nbsp;trước&nbsp;sở tri&nbsp;ấy,&nbsp;nội tâm&nbsp;chứng được&nbsp;tịch tịnh. Ngài&nbsp;như thật&nbsp;biết sự&nbsp;tập khởi, sự&nbsp;diệt trừ&nbsp;của các thọ, vị ngọt, những nguy hiểm và sự&nbsp;xuất ly&nbsp;của chúng. Nhờ biết vậy, này các Tỷ-kheo,&nbsp;Như Lai&nbsp;được giải thoát&nbsp;hoàn toàn, không có&nbsp;chấp thủ.</p>



<p class="wp-block-paragraph">&nbsp;37. Những&nbsp;chấp pháp&nbsp;ấy, này các Tỷ-kheo, là những pháp sâu kín, khó thấy, khó chứng,&nbsp;tịch tịnh, mỹ diệu, vượt ngoài tầm của luận lý suông,&nbsp;tế nhị, chỉ những người có trí mới có thể&nbsp;phân biệt. Những pháp ấy,&nbsp;Như Lai&nbsp;đã thắng tri,&nbsp;giác ngộ&nbsp;và&nbsp;tuyên thuyết; và chính những pháp ấy, những ai&nbsp;như thật&nbsp;chân chánh&nbsp;tán thán&nbsp;Như Lai&nbsp;mới nói đến.</p>



<p class="wp-block-paragraph">&nbsp;Tụng phẩm thứ hai</p>



<p class="wp-block-paragraph">&nbsp;1. Này các Tỷ-kheo, lại có những Sa-môn, Bà-la-môn, chủ trương một phần Thường trú luận, một phần&nbsp;Vô thường&nbsp;luận, chấp&nbsp;bản ngã&nbsp;và&nbsp;thế giới&nbsp;là thường còn đối với một hạng&nbsp;hữu tình&nbsp;và&nbsp;vô thường&nbsp;đối với một hạng&nbsp;hữu tình&nbsp;khác, với bốn luận chấp. Và những Sa-môn, Bà-la-môn ấy,&nbsp;y chỉ&nbsp;gì, căn cứ gì chủ trương một phần Thường trú luận, một phần&nbsp;Vô thường&nbsp;luận, chấp&nbsp;bản ngã&nbsp;và&nbsp;thế giới&nbsp;là thường còn đối với một hạng&nbsp;hữu tình&nbsp;và&nbsp;vô thường&nbsp;đối với một hạng&nbsp;hữu tình&nbsp;khác, với bốn luận chấp?</p>



<p class="wp-block-paragraph">&nbsp;2. Này các Tỷ-kheo, có một thời đến một giai đoạn nào đó, sau một&nbsp;thời hạn&nbsp;rất lâu,&nbsp;thế giới&nbsp;này chuyển hoại. Trong khi&nbsp;thế giới&nbsp;chuyển hoại,&nbsp;các loại&nbsp;hữu tình&nbsp;phần lớn sanh qua cõi Abhassara (Quang Âm thiên). Ở tại đấy, những loại&nbsp;chúng sanh&nbsp;này do ý sanh, nuôi sống bằng hỷ, tự chiếu&nbsp;hào quang,&nbsp;phi hành&nbsp;trên&nbsp;hư không, sống trong sự&nbsp;quang vinh, và sống như vậy một&nbsp;thời gian&nbsp;khá dài.</p>



<p class="wp-block-paragraph">&nbsp;3. Này các Tỷ-kheo, có một thời đến một giai đoạn nào đó, sau một&nbsp;thời hạn&nbsp;rất lâu,&nbsp;thế giới&nbsp;này chuyển thành. Trong khi&nbsp;thế giới&nbsp;này chuyển thành,&nbsp;Phạm cung&nbsp;được&nbsp;hiện ra, nhưng trống không. Lúc bấy giờ, một&nbsp;hữu tình, hoặc&nbsp;thọ mạng&nbsp;đã tận, hay&nbsp;phước báo&nbsp;đã tận,&nbsp;mạng chung&nbsp;từ Quang&nbsp;Âm thiên, sanh qua&nbsp;Phạm cung&nbsp;trống rỗng ấy. Vị ấy ở tại đấy, do ý sanh, nuôi sống bằng hỷ, tự chiếu&nbsp;hào quang,&nbsp;phi hành&nbsp;trên&nbsp;hư không, sống trong sự&nbsp;quang vinh, và sống như vậy trong một&nbsp;thời gian&nbsp;khá dài.</p>



<p class="wp-block-paragraph">&nbsp;4. Vị này, tại chỗ ấy, sau khi sống lâu&nbsp;một mình&nbsp;như vậy, khởi ý chán nản, không&nbsp;hoan hỷ&nbsp;và có kỳ vọng: &#8220;Mong sao có các loài&nbsp;hữu tình&nbsp;khác, cũng đến tại chỗ này!&#8221; Lúc bấy giờ, các loài&nbsp;hữu tình&nbsp;khác, hoặc&nbsp;thọ mạng&nbsp;đã tận, hay&nbsp;phước báo&nbsp;đã tận, bị&nbsp;mệnh chung&nbsp;và từ&nbsp;thân Quang&nbsp;Âm thiên, sanh qua&nbsp;Phạm cung&nbsp;để làm bạn với&nbsp;vị hữu&nbsp;tình kia. Những loại&nbsp;hữu tình&nbsp;ở đấy cũng do ý sanh, nuôi sống bằng hỷ, tự chiếu&nbsp;hào quang,&nbsp;phi hành&nbsp;trên&nbsp;hư không, sống trong sự&nbsp;quang vinh, và sống như vậy, trong một&nbsp;thời gian&nbsp;khá dài.</p>



<p class="wp-block-paragraph">&nbsp;5. Lúc bấy giờ, này các Tỷ-kheo,&nbsp;vị hữu&nbsp;tình đầu tiên sanh qua nghĩ rằng: &#8220;Ta là&nbsp;Phạm thiên,&nbsp;Đại Phạm thiên,&nbsp;Toàn năng,&nbsp;Tối thắng, Biến nhãn, Thượng tôn,&nbsp;Thượng đế,&nbsp;Sáng tạo&nbsp;chủ,&nbsp;Hóa sanh&nbsp;chủ, Đại tôn, Chúa tể mọi định mạng, đấng&nbsp;Tự tại,&nbsp;Tổ phụ&nbsp;các&nbsp;chúng sanh&nbsp;đã và sẽ sanh. Những loài&nbsp;hữu tình&nbsp;ấy do chính ta sanh ra. Tại sao vậy? Vì chính do ta khởi niệm: Mong sao các loài&nbsp;hữu tình&nbsp;khác cũng đến tại chỗ này &#8211; Chính do&nbsp;sở nguyện&nbsp;của ta mà những loài&nbsp;hữu tình&nbsp;ấy đến tại chỗ này&#8221;. Các loài&nbsp;hữu tình&nbsp;đến sau cũng nghĩ như thế này: &#8220;Vị ấy là&nbsp;Phạm thiên,&nbsp;Đại Phạm thiên, đấng&nbsp;Toàn năng,&nbsp;Tối thắng, Biến nhãn, Thượng tôn,&nbsp;Thượng đế,&nbsp;Sáng tạo&nbsp;chủ,&nbsp;Hóa sanh&nbsp;chủ, Đại tôn, Chúa tể mọi định mạng, đấng&nbsp;Tự tại,&nbsp;Tổ phụ&nbsp;các&nbsp;chúng sanh&nbsp;đã và sẽ sanh.&nbsp;Chúng ta&nbsp;do vị&nbsp;Phạm thiên&nbsp;này&nbsp;hóa sanh. Vì sao vậy? Vì ta đã thấy vị này sanh trước ở đây rồi. Còn&nbsp;chúng ta&nbsp;thì sanh sau&#8221;</p>



<p class="wp-block-paragraph">&nbsp;6. Này các Tỷ-kheo,&nbsp;vị hữu&nbsp;tình sanh ra đầu tiên ấy sống được lâu hơn,&nbsp;sắc tướng&nbsp;tốt đẹp&nbsp;hơn và được nhiều&nbsp;uy quyền&nbsp;hơn. Còn các loài&nbsp;hữu tình&nbsp;sanh sau thì sống ngắn hơn,&nbsp;sắc tướng&nbsp;ít&nbsp;tốt đẹp&nbsp;hơn và được ít quyền hơn. Này các Tỷ-kheo,&nbsp;sự tình&nbsp;này xảy ra. Một trong các loài&nbsp;hữu tình&nbsp;ấy, sau khi&nbsp;từ bỏ&nbsp;thân kia lại&nbsp;thác sanh&nbsp;đến cõi này. Khi đến cõi này, vị ấy&nbsp;xuất gia&nbsp;từ bỏ&nbsp;gia đình,&nbsp;sống không gia đình. Sau khi&nbsp;xuất gia&nbsp;từ bỏ&nbsp;gia đình,&nbsp;sống không gia đình, vị ấy, nhờ nhiệt tâm, nhờ&nbsp;tinh tấn, nhờ&nbsp;cần mẫn, nhờ không&nbsp;phóng dật, nhờ chánh&nbsp;ức niệm, nên tâm&nbsp;nhập định. Khi tâm&nbsp;nhập định, vị ấy nhớ tới&nbsp;đời sống&nbsp;quá khứ&nbsp;ấy, chớ không nhớ&nbsp;xa hơn&nbsp;đời sống&nbsp;ấy. Vị ấy nói rằng: &#8220;Vị kia là&nbsp;Phạm thiên,&nbsp;Đại Phạm thiên, đấng&nbsp;Toàn năng,&nbsp;Tối thắng, Biến nhãn, Thượng tôn,&nbsp;Thượng đế,&nbsp;Sáng tạo&nbsp;chủ,&nbsp;Hóa sanh&nbsp;chủ, Đại tôn, Chúa tể mị định mạng, đấng&nbsp;Tự Tại,&nbsp;Tổ phụ&nbsp;các&nbsp;chúng sanh&nbsp;đã và sẽ sanh.&nbsp;Chúng ta&nbsp;do vị&nbsp;Phạm thiên&nbsp;ấy&nbsp;hóa sanh. Vị ấy là&nbsp;thường hằng,&nbsp;kiên cố, thường trú, không bị&nbsp;chuyển biến, thường trú như vậy&nbsp;mãi mãi. Còn&nbsp;chúng ta&nbsp;do vị&nbsp;Phạm thiên&nbsp;ấy&nbsp;hóa sanh&nbsp;đến tại chỗ này.&nbsp;Chúng ta&nbsp;là&nbsp;vô thường, không&nbsp;kiên cố, yểu thọ và chịu sự biến dịch&#8221;.</p>



<p class="wp-block-paragraph">&nbsp;Này các Tỷ-kheo, đó là&nbsp;trường hợp&nbsp;thứ nhất,&nbsp;y chỉ&nbsp;theo đó, căn&nbsp;cứ theo&nbsp;đó, một số Sa-môn, Bà-la-môn, chủ trương một phần Thường trú luận, một phần&nbsp;Vô thường&nbsp;luận, chấp&nbsp;bản ngã&nbsp;và&nbsp;thế giới&nbsp;là thường còn đối với một hạng&nbsp;hữu tình&nbsp;và&nbsp;vô thường&nbsp;đối với một hạng&nbsp;hữu tình&nbsp;khác.</p>



<p class="wp-block-paragraph">&nbsp;7.&nbsp;Trường hợp&nbsp;thứ hai, lại có những Sa-môn, Bà-la-môn,&nbsp;y chỉ&nbsp;gì, căn cứ gì, chủ trương một phần Thường trú luận, một phần&nbsp;Vô thường&nbsp;luận, chấp&nbsp;bản ngã&nbsp;và&nbsp;thế giới&nbsp;là thường còn đối với một hạng&nbsp;hữu tình&nbsp;và&nbsp;vô thường&nbsp;đối với một hạng&nbsp;hữu tình&nbsp;khác?</p>



<p class="wp-block-paragraph">&nbsp;Này các Tỷ-kheo, có những hạng&nbsp;chư Thiên&nbsp;gọi là Khiddàpadosikà (bị nhiễm hoặc bởi&nbsp;dục lạc). Những vị này sống lâu ngày, mê say trong hý tiếu&nbsp;dục lạc. Vì sống lâu ngày, mê say trong hý tiếu&nbsp;dục lạc, nên bị&nbsp;thất niệm. Do&nbsp;thất niệm, các&nbsp;chư Thiên&nbsp;ấy&nbsp;thác sanh,&nbsp;từ bỏ&nbsp;thân thể&nbsp;chúng.</p>



<p class="wp-block-paragraph">&nbsp;8. Này các Tỷ-kheo,&nbsp;sự tình&nbsp;này xảy ra. Một trong các loài&nbsp;hữu tình&nbsp;kia khi&nbsp;thác sanh&nbsp;từ bỏ&nbsp;thân thể&nbsp;ấy, lại sanh đến chỗ này. Khi đến tại chỗ này, vị ấy&nbsp;xuất gia,&nbsp;từ bỏ&nbsp;gia đình,&nbsp;sống không gia đình. Sau khi&nbsp;xuất gia,&nbsp;từ bỏ&nbsp;gia đình,&nbsp;sống không gia đình, vị ấy nhờ&nbsp;nhất tâm, nhờ&nbsp;tinh tấn, nhờ&nbsp;cần mẫn, nhờ không&nbsp;phóng dật, nhờ chánh&nbsp;ức niệm, nên tâm&nbsp;nhập định. Khi tâm&nbsp;nhập định, vị ấy nhớ đến&nbsp;đời sống&nbsp;quá khứ&nbsp;ấy, chớ không nhớ&nbsp;xa hơn&nbsp;đời sống&nbsp;ấy.</p>



<p class="wp-block-paragraph">&nbsp;9. Vị ấy nói rằng: &#8220;Những&nbsp;chư Thiên&nbsp;không bị nhiễm hoặc bởi&nbsp;dục lạc, chúng sống lâu ngày không mê say trong hý tiếu&nbsp;dục lạc. Vì sống lâu ngày không mê say trong hý tiếu&nbsp;dục lạc, nên không bị&nbsp;thất niệm. Nhờ không&nbsp;thất niệm, nên những&nbsp;chư Thiên&nbsp;ấy không&nbsp;thác sanh&nbsp;từ bỏ&nbsp;thân thể&nbsp;của chúng, sống&nbsp;thường hằng,&nbsp;kiên cố, thường trú, không bị&nbsp;chuyển biến, thường trú như vậy&nbsp;mãi mãi. Còn&nbsp;chúng ta&nbsp;đã bị nhiễm hoặc bởi&nbsp;dục lạc, sống lâu ngày mê say trong hý tiếu&nbsp;dục lạc. Vì&nbsp;chúng ta&nbsp;sống lâu ngày mê say trong hý tiếu&nbsp;dục lạc, nên bị&nbsp;thất niệm. Do&nbsp;thất niệm,&nbsp;chúng ta&nbsp;từ bỏ&nbsp;thân thể&nbsp;này, sống&nbsp;vô thường, không&nbsp;kiên cố, yểu thọ, chịu sự&nbsp;biến dịch&nbsp;và&nbsp;thác sanh&nbsp;đến tại chỗ này&#8221;.</p>



<p class="wp-block-paragraph">&nbsp;Này các Tỷ-kheo, đó là&nbsp;trường hợp&nbsp;thứ hai,&nbsp;y chỉ&nbsp;theo đó, căn&nbsp;cứ theo&nbsp;đó, một số Sa-môn, Bà-la-môn, chủ trương một phần Thường trú luận, một phần&nbsp;Vô thường&nbsp;luận, chấp&nbsp;bản ngã&nbsp;và&nbsp;thế giới&nbsp;là thường còn đối với một hạng&nbsp;hữu tình, và&nbsp;vô thường&nbsp;đối với một hạng&nbsp;hữu tình&nbsp;khác.</p>



<p class="wp-block-paragraph">&nbsp;10.&nbsp;Trường hợp&nbsp;thứ ba, lại có những Sa-môn, Bà-la-môn,&nbsp;y chỉ&nbsp;gì, căn cứ gì, chủ trương một phần Thường trú luận, một phần&nbsp;Vô thường&nbsp;luận, chấp&nbsp;bản ngã&nbsp;và&nbsp;thế giới&nbsp;là thường còn với một hạng&nbsp;hữu tình, và&nbsp;vô thường&nbsp;đối với một hạng&nbsp;hữu tình&nbsp;khác?</p>



<p class="wp-block-paragraph">&nbsp;Này các Tỷ-kheo, có những hạng&nbsp;chư Thiên&nbsp;gọi là Manopadosikà (bị nhiễm hoặc bởi&nbsp;tâm trí). Chúng sống lâu ngày nung nấu bởi sự&nbsp;đố kỵ&nbsp;lẫn nhau. Vì sống lâu ngày nung nấu bởi sự&nbsp;đố kỵ&nbsp;lẫn nhau,&nbsp;tâm trí&nbsp;của chúng oán ghét lẫn nhau. Vì&nbsp;tâm trí&nbsp;oán ghét lẫn nhau, nên thân chúng&nbsp;mệt mỏi, tâm chúng&nbsp;mệt mỏi. Các hạng&nbsp;chư Thiên&nbsp;ấy&nbsp;thác sanh&nbsp;từ bỏ&nbsp;thân thể&nbsp;này của chúng.</p>



<p class="wp-block-paragraph">&nbsp;11. Này các Tỷ-kheo,&nbsp;sự tình&nbsp;này xảy ra. Một trong các&nbsp;vị hữu&nbsp;tình kia, khi&nbsp;thác sanh&nbsp;từ bỏ&nbsp;thân thể&nbsp;ấy, lại sanh đến cõi này. Khi đến tại chỗ này, vị ấy&nbsp;xuất gia&nbsp;từ bỏ&nbsp;gia đình,&nbsp;sống không gia đình. Sau khi&nbsp;xuất gia&nbsp;từ bỏ&nbsp;gia đình,&nbsp;sống không gia đình, vị ấy nhờ&nbsp;nhất tâm, nhờ&nbsp;tinh tấn, nhờ&nbsp;cần mẫn, nhờ không&nbsp;phóng dật, nhờ chánh&nbsp;ức niệm, nên tâm&nbsp;nhập định. Khi tâm&nbsp;nhập định, vị ấy nhớ đến&nbsp;đời sống&nbsp;quá khứ&nbsp;ấy, nhưng không nhớ&nbsp;xa hơn&nbsp;đời sống&nbsp;ấy.</p>



<p class="wp-block-paragraph">&nbsp;12. Vị ấy nói rằng: &#8220;Những vị&nbsp;chư Thiên&nbsp;không bị nhiễm hoặc bởi&nbsp;tâm trí, chúng sống lâu ngày không nung nấu bởi sự&nbsp;đố kỵ&nbsp;lẫn nhau. Vì sống lâu ngày không nung nấu bởi sự&nbsp;đố kỵ&nbsp;lẫn nhau,&nbsp;tâm trí&nbsp;của chúng không oán ghét nhau. Vì&nbsp;tâm trí&nbsp;chúng không oán ghét nhau, nên thân chúng không&nbsp;mệt mỏi, tâm chúng không&nbsp;mệt mỏi. Những hàng&nbsp;chư Thiên&nbsp;ấy không&nbsp;thác sanh&nbsp;từ bỏ&nbsp;thân thể&nbsp;của chúng, sống&nbsp;thường hằng&nbsp;kiên cố, thường trú, không bị&nbsp;chuyển biến, thường trú như vậy mãi mãi&#8221;. Còn&nbsp;chúng ta&nbsp;bị nhiễm hoặc bởi&nbsp;tâm trí, sống lâu ngày nung nấu bởi sự&nbsp;đố kỵ&nbsp;lẫn nhau, nên&nbsp;tâm trí&nbsp;chúng ta&nbsp;oán ghét lẫn nhau. Vì&nbsp;tâm trí&nbsp;chúng ta&nbsp;oán ghét lẫn nhau, nên thân&nbsp;mệt mỏi&nbsp;và tâm&nbsp;mệt mỏi.&nbsp;Chúng ta&nbsp;thác sanh,&nbsp;từ bỏ&nbsp;thân này, sống&nbsp;vô thường&nbsp;không&nbsp;kiên cố, yểu thọ, chịu sự&nbsp;biến dịch&nbsp;và&nbsp;thác sanh&nbsp;đến tại chỗ này&#8221;.</p>



<p class="wp-block-paragraph">&nbsp;Này các Tỷ-kheo, đó là&nbsp;trường hợp&nbsp;thứ ba,&nbsp;y chỉ&nbsp;theo đó, căn&nbsp;cứ theo&nbsp;đó, một số Sa-môn, Bà-la-môn chủ trương một phần Thường trú luận, một phần&nbsp;Vô thường&nbsp;luận, chấp&nbsp;bản ngã&nbsp;và&nbsp;thế giới&nbsp;là thường còn đối với một hạng&nbsp;hữu tình&nbsp;và&nbsp;vô thường&nbsp;đối với một hạng&nbsp;hữu tình&nbsp;khác.</p>



<p class="wp-block-paragraph">&nbsp;13.&nbsp;Trường hợp&nbsp;thứ tư, lại có những Sa-môn, Bà-la-môn,&nbsp;y chỉ&nbsp;gì, căn cứ gì chủ trương một phần Thường trú luận, một phần&nbsp;Vô thường&nbsp;luận, chấp&nbsp;bản ngã&nbsp;và&nbsp;thế giới&nbsp;là thường còn đối với một hạng&nbsp;hữu tình&nbsp;và&nbsp;vô thường&nbsp;đối với một hạng&nbsp;hữu tình&nbsp;khác.</p>



<p class="wp-block-paragraph">&nbsp;Này các Tỷ-kheo, có Sa-môn, hay Bà-la-môn là nhà&nbsp;suy luận, là nhà thẩm sát. Do sự chia chẻ&nbsp;biện bác&nbsp;của&nbsp;suy luận&nbsp;và sự&nbsp;tùy thuộc&nbsp;theo thẩm sát, vị này&nbsp;tuyên bố&nbsp;như thế này: &#8220;Cái gọi là mắt, là tai, là mũi, là lưỡi, là thân, cái&nbsp;bản ngã&nbsp;ấy&nbsp;vô thường, không&nbsp;kiên cố, không thường trú, bị&nbsp;chuyển biến. Cái gọi là tâm, là ý, là thức, cái&nbsp;bản ngã&nbsp;ấy là thường còn,&nbsp;bất biến, thường trú, không bị&nbsp;chuyển biến,&nbsp;thường hằng&nbsp;như vậy mãi mãi&#8221;.</p>



<p class="wp-block-paragraph">&nbsp;Này các Tỷ-kheo, đó là&nbsp;trường hợp&nbsp;thứ tư,&nbsp;y chỉ&nbsp;theo đó, căn&nbsp;cứ theo&nbsp;đó, một số Sa-môn, Bà-la-môn, chủ trương một phần Thường trú luận, một phần&nbsp;Vô thường&nbsp;luận, chấp&nbsp;bản ngã&nbsp;và&nbsp;thế giới&nbsp;là thường còn đối với một hạng&nbsp;hữu tình, và&nbsp;vô thường&nbsp;đối với một hạng&nbsp;hữu tình&nbsp;khác.</p>



<p class="wp-block-paragraph">&nbsp;14. Này các Tỷ-kheo, những vị Sa-môn, Bà-la-môn này chủ trương một phần Thường trú luận, một phần&nbsp;Vô thường&nbsp;luận, chấp&nbsp;bản ngã&nbsp;và&nbsp;thế giới&nbsp;là thường còn với bốn luận chấp. Nếu có những Sa-môn hay Bà-la-môn chủ trương Thường trú luận, chấp&nbsp;bản ngã&nbsp;và&nbsp;thế giới&nbsp;là thường còn, chúng sẽ chấp cả bốn luận chấp trên, hay một trong những luận chấp trên,&nbsp;ngoài ra&nbsp;không có luận chấp nào khác nữa.</p>



<p class="wp-block-paragraph">&nbsp;15. Này các Tỷ-kheo,&nbsp;Như Lai&nbsp;biết rằng: &#8220;Những&nbsp;sở kiến&nbsp;ấy,&nbsp;chấp trước&nbsp;như vậy,&nbsp;chấp thủ&nbsp;như vậy, sẽ đưa đến những cõi thú như vậy, sẽ&nbsp;tác thành&nbsp;những định mạng như vậy&#8221;.&nbsp;Như Lai&nbsp;tuệ tri&nbsp;như vậy, Ngài lại&nbsp;tuệ tri&nbsp;hơn thế nữa, và Ngài&nbsp;không chấp&nbsp;sở tri&nbsp;ấy. Nhờ&nbsp;không chấp&nbsp;sở tri&nbsp;ấy,&nbsp;nội tâm&nbsp;được&nbsp;tịch tịnh. Ngài&nbsp;như thật&nbsp;biết sự&nbsp;tập khởi, sự&nbsp;diệt trừ&nbsp;của các thọ, vị ngọt, những nguy hiểm và sự&nbsp;xuất ly&nbsp;của chúng. Nhờ biết vậy, này các Tỷ-kheo,&nbsp;Như Lai&nbsp;được giải thoát&nbsp;hoàn toàn, không có&nbsp;chấp thủ.</p>



<p class="wp-block-paragraph">&nbsp;Những pháp ấy, này các Tỷ-kheo, là những pháp sâu kín khó thấy, khó chứng,&nbsp;tịch tịnh, mỹ diệu, vượt ngoài tầm của luận lý suông,&nbsp;tế nhị, chỉ những người có trí mới có thể&nbsp;nhận biết. Những pháp ấy, những ai&nbsp;như thật&nbsp;chân chánh&nbsp;tán thán&nbsp;Như Lai&nbsp;mới nói đến.</p>



<p class="wp-block-paragraph">&nbsp;16. Này các Tỷ-kheo, có những Sa-môn, Bà-la-môn chủ trương&nbsp;Hữu biên Vô biên luận, chấp&nbsp;thế giới&nbsp;là&nbsp;Hữu biên&nbsp;Vô biên&nbsp;với bốn luận chấp. Và những Sa-môn, Bà-la-môn này,&nbsp;y chỉ&nbsp;gì, căn cứ gì, chủ trương&nbsp;Hữu biên Vô biên luận, chấp&nbsp;thế giới&nbsp;là&nbsp;hữu biên&nbsp;vô biên&nbsp;với bốn luận chấp?</p>



<p class="wp-block-paragraph">&nbsp;17. Này các Tỷ-kheo, ở đây có Sa-môn hay Bà-la-môn, nhờ nhiệt tâm, nhờ&nbsp;tinh tấn, nhờ&nbsp;cần mẫn, nhờ không&nbsp;phóng dật, nhờ chánh&nbsp;ức niệm, nên tâm&nbsp;nhập định. Khi tâm&nbsp;nhập định, vị ấy sống ở&nbsp;trong đời&nbsp;với&nbsp;tư tưởng&nbsp;thế giới&nbsp;là&nbsp;hữu biên. Vị ấy nói rằng: &#8220;Thế giới này là&nbsp;hữu biên, có một đường vòng chung quanh. Vì sao vậy? Vì tôi, nhờ&nbsp;nhất tâm, nhờ&nbsp;tinh tấn, nhờ&nbsp;cần mẫn, nhờ không&nbsp;phóng dật, nhờ chánh&nbsp;ức niệm, nên tâm&nbsp;nhập định. Khi tâm&nbsp;nhập định, tôi sống với&nbsp;tư tưởng&nbsp;thế giới&nbsp;là&nbsp;hữu biên. Do đó tôi biết rằng&nbsp;thế giới&nbsp;này là&nbsp;hữu biên, có một đường vòng chung quanh&#8221;.</p>



<p class="wp-block-paragraph">&nbsp;Này các Tỷ-kheo, đó là&nbsp;trường hợp&nbsp;thứ nhất,&nbsp;y chỉ&nbsp;theo đó, căn&nbsp;cứ theo&nbsp;đó, một số Sa-môn, Bà-la-môn chủ trương&nbsp;Hữu biên Vô biên luận, chấp&nbsp;thế giới&nbsp;là&nbsp;hữu biên&nbsp;và&nbsp;vô biên.</p>



<p class="wp-block-paragraph">&nbsp;18.&nbsp;Trường hợp&nbsp;thứ hai, có những Sa-môn, Bà-la-môn,&nbsp;y chỉ&nbsp;gì, căn cứ gì, chủ trương&nbsp;Hữu biên Vô biên luận, chấp&nbsp;thế giới&nbsp;là&nbsp;hữu biên&nbsp;và vô biên?</p>



<p class="wp-block-paragraph">&nbsp;Này các Tỷ-kheo, ở đây có Sa-môn, Bà-la-môn, nhờ&nbsp;nhất tâm, nhờ&nbsp;tinh tấn, nhờ&nbsp;cần mẫn, nhờ không&nbsp;phóng dật, nhờ chánh&nbsp;ức niệm, nên tâm&nbsp;nhập định. Khi tâm&nbsp;nhập định, vị ấy sống ở&nbsp;trong đời&nbsp;với&nbsp;tư tưởng&nbsp;thế giới&nbsp;là&nbsp;vô biên. Vị ấy nói: &#8220;Thế giới này là&nbsp;vô biên, không có giới hạn&#8221;. Những vị Sa-môn, Bà-la-môn nào đã nói: &#8220;Thế giới này là&nbsp;hữu biên, có một đường vòng xung quanh&#8221;, những vị ấy nói không đúng&nbsp;sự thật.&nbsp;Thế giới&nbsp;này là&nbsp;vô biên, không có&nbsp;giới hạn. Tại sao vậy? Vì tôi nhờ&nbsp;nhất tâm, nhờ&nbsp;tinh tấn, nhờ&nbsp;cần mẫn, nhờ không&nbsp;phóng dật, nhờ chánh&nbsp;ức niệm, nên tâm&nbsp;nhập định. Khi tâm&nbsp;nhập định, tôi sống với&nbsp;tư tưởng&nbsp;thế giới&nbsp;là&nbsp;vô biên. Do đó tôi biết: &#8220;Thế giới này là&nbsp;vô biên, không có giới hạn&#8221;.</p>



<p class="wp-block-paragraph">&nbsp;Này các Tỷ-kheo, đó là&nbsp;trường hợp&nbsp;thứ hai,&nbsp;y chỉ&nbsp;như vậy, căn cứ như vậy, có một số Sa-môn, Bà-la-môn chủ trương&nbsp;Hữu biên Vô biên luận, chấp&nbsp;thế giới&nbsp;là&nbsp;hữu biên&nbsp;vô biên.</p>



<p class="wp-block-paragraph">&nbsp;19.&nbsp;Trường hợp&nbsp;thứ ba, lại có những Sa-môn, Bà-la-môn,&nbsp;y chỉ&nbsp;gì, căn cứ gì, chủ trương&nbsp;Hữu biên Vô biên luận, chấp&nbsp;thế giới&nbsp;là&nbsp;hữu biên&nbsp;vô biên?</p>



<p class="wp-block-paragraph">&nbsp;Này các Tỷ-kheo, ở đây có Sa-môn hay Bà-la-môn, nhờ&nbsp;nhất tâm, nhờ&nbsp;tinh tấn, nhờ&nbsp;cần mẫn, nhờ không&nbsp;phóng dật, nhờ chánh&nbsp;ức niệm, nên tâm&nbsp;nhập định. Khi tâm&nbsp;nhập định, vị ấy sống ở&nbsp;trong đời&nbsp;với&nbsp;tư tưởng&nbsp;thế giới&nbsp;là&nbsp;hữu biên&nbsp;về phía trên, phía dưới và&nbsp;thế giới&nbsp;là&nbsp;Vô biên&nbsp;về phía bề ngang. Vị ấy nói: &#8220;Thế giới này là&nbsp;hữu biên&nbsp;và vô biên&#8221;. Những Sa-môn, Bà-la-môn nào đã nói: &#8220;Thế giới này là&nbsp;hữu biên, có một đường vòng&nbsp;xung quanh, thì những vị ấy nói không đúng sự thật&#8221;. Những Sa-môn, Bà-la-môn nào đã nói: &#8220;Thế giới này là&nbsp;vô biên&nbsp;không có&nbsp;giới hạn&nbsp;thì những vị ấy nói không đúng&nbsp;sự thật.&nbsp;Thế giới&nbsp;này vừa là&nbsp;hữu biên, vừa là&nbsp;vô biên. Tại sao vậy? Vì rằng, tôi nhờ&nbsp;nhất tâm, nhờ&nbsp;tinh tấn, nhờ&nbsp;cần mẫn, nhờ không&nbsp;phóng dật, nhờ chánh&nbsp;ức niệm, nên tâm&nbsp;nhập định. Khi tâm&nbsp;nhập định, tôi sống ở&nbsp;trong đời&nbsp;với&nbsp;tư tưởng,&nbsp;thế giới&nbsp;là&nbsp;hữu biên&nbsp;về phía trên, phía dưới, và&nbsp;thế giới&nbsp;là&nbsp;vô biên&nbsp;về phía bề ngang. Do vậy tôi biết: &#8220;Thế giới này vừa là&nbsp;hữu biên&nbsp;vừa là vô biên&#8221;.</p>



<p class="wp-block-paragraph">&nbsp;Này các Tỷ-kheo, đó là&nbsp;trường hợp&nbsp;thứ ba,&nbsp;y chỉ&nbsp;như vậy, căn cứ như vậy, một số Sa-môn, Bà-la-môn chủ trương&nbsp;Hữu biên Vô biên luận, chấp&nbsp;thế giới&nbsp;là&nbsp;hữu biên&nbsp;vô biên.</p>



<p class="wp-block-paragraph">&nbsp;20.&nbsp;Trường hợp&nbsp;thứ tư, lại có những Sa-môn, Bà-la-môn,&nbsp;y chỉ&nbsp;gì, căn cứ gì, chủ trương&nbsp;Hữu biên Vô biên luận, chấp&nbsp;thế giới&nbsp;là&nbsp;hữu biên&nbsp;vô biên?</p>



<p class="wp-block-paragraph">&nbsp;Này các Tỷ-kheo, ở đây có Sa-môn hay Bà-la-môn là nhà&nbsp;suy luận, là nhà thẩm sát. Do sự chia chẻ&nbsp;biện bác&nbsp;của&nbsp;suy luận&nbsp;và sự&nbsp;tùy thuận&nbsp;theo thẩm sát, vị này&nbsp;tuyên bố&nbsp;như sau: &#8220;Thế giới này không phải là&nbsp;hữu biên, cũng không phải là&nbsp;vô biên. Những Sa-môn, Bà-la-môn nào đã nói: &#8220;Thế giới này là&nbsp;hữu biên&nbsp;có&nbsp;giới hạn&nbsp;xung quanh&#8221;, những vị ấy nói không đúng&nbsp;sự thật. Lại những Sa-môn, Bà-la-môn nào đã nói: &#8220;Thế giới này là&nbsp;vô biên&nbsp;không có giới hạn&#8221; những vị ấy cũng nói không đúng&nbsp;sự thật. Lại những vị Sa-môn, Bà-la-môn nào đã nói: &#8220;Thế giới này vừa là&nbsp;hữu biên&nbsp;vừa là vô biên&#8221;, những vị ấy cũng nói không đúng&nbsp;sự thật.&nbsp;Thế giới&nbsp;này cũng không phải là&nbsp;hữu biên, cũng không phải là&nbsp;vô biên.</p>



<p class="wp-block-paragraph">&nbsp;21. Này các Tỷ-kheo, những Sa-môn, Bà-la-môn này chủ trương&nbsp;Hữu biên Vô biên luận&nbsp;với bốn luận chấp. Nếu có những Sa-môn hay Bà-la-môn nào chủ trương&nbsp;Hữu biên Vô biên luận, chấp&nbsp;thế giới&nbsp;là&nbsp;hữu biên&nbsp;vô biên, chúng sẽ chấp cả bốn luận chấp trên, hay một trong những luận chấp trên,&nbsp;ngoài ra&nbsp;không có luận chấp nào khác nữa.</p>



<p class="wp-block-paragraph">&nbsp;22. Này các Tỷ-kheo,&nbsp;Như Lai&nbsp;tuệ tri&nbsp;như thế này: &#8220;Những&nbsp;sở kiến&nbsp;ấy,&nbsp;chấp trước&nbsp;như vậy,&nbsp;chấp thủ&nbsp;như vậy, sẽ đưa đến những cõi thú như vậy, sẽ&nbsp;tác thành&nbsp;những định mạng như vậy&#8221;.&nbsp;Như Lai&nbsp;tuệ tri&nbsp;như vậy. Ngài lại&nbsp;tuệ tri&nbsp;hơn thế nữa, và Ngài&nbsp;không chấp&nbsp;sở tri&nbsp;ấy. Nhờ&nbsp;không chấp&nbsp;trước&nbsp;sở tri&nbsp;ấy,&nbsp;nội tâm&nbsp;được&nbsp;tịch tịnh. Ngài&nbsp;như thật&nbsp;tuệ tri&nbsp;sự&nbsp;tập khởi, sự&nbsp;diệt trừ&nbsp;của các thọ, vị ngọt, những nguy hiểm và sự&nbsp;xuất ly&nbsp;của chúng. Nhờ&nbsp;tuệ tri&nbsp;vậy, này các Tỷ-kheo,&nbsp;Như Lai&nbsp;được giải thoát&nbsp;hoàn toàn, không có&nbsp;chấp thủ.</p>



<p class="wp-block-paragraph">&nbsp;Những pháp ấy, này các Tỷ-kheo, là những pháp sâu kín, khó thấy, khó chứng,&nbsp;tịch tịnh, mỹ diệu, vượt ngoài tầm của luận lý suông,&nbsp;tế nhị, chỉ những người trí mới có thể&nbsp;nhận biết. Những pháp ấy&nbsp;Như Lai&nbsp;tự chứng&nbsp;tri,&nbsp;giác ngộ&nbsp;và&nbsp;truyền thuyết; và chính những pháp ấy những ai&nbsp;như thật&nbsp;chân chánh&nbsp;tán thán&nbsp;Như Lai&nbsp;mới nói đến.</p>



<p class="wp-block-paragraph">&nbsp;23. Này các Tỷ-kheo, có một số Sa-môn, Bà-la-môn chủ trương&nbsp;Ngụy biện luận. Khi bị hỏi&nbsp;vấn đề&nbsp;này hay&nbsp;vấn đề&nbsp;khác dùng những lời&nbsp;ngụy biện&nbsp;trườn uốn như con lươn với bốn luận chấp. Và những Sa-môn, Bà-la-môn ấy,&nbsp;y chỉ&nbsp;gì, căn cứ gì, chủ trương&nbsp;ngụy biện luận, khi bị hỏi&nbsp;vấn đề&nbsp;này hay&nbsp;vấn đề&nbsp;khác dùng những lời&nbsp;ngụy biện&nbsp;trườn uốn như con lươn với bốn luận chấp?</p>



<p class="wp-block-paragraph">&nbsp;24. Này các Tỷ-kheo, ở đây có Sa-môn hay Bà-la-môn không&nbsp;như thật&nbsp;biết &#8220;Đây là thiện&#8221; không&nbsp;như thật&nbsp;biết &#8220;Đây là bất thiện&#8221;. Vị ấy nghĩ: Tôi không&nbsp;như thật&nbsp;biết: &#8220;Đây là thiện&#8221;, không&nbsp;như thật&nbsp;biết: &#8220;Đây là bất thiện&#8221; và nếu tôi&nbsp;trả lời: &#8220;Đây là thiện&#8221; hoặc tôi&nbsp;trả lời: &#8220;Đây là bất thiện&#8221;, thời dục, tham, sân hoặc hận, khởi lên nơi tôi . Nếu dục, tham, sân hoặc hận, khởi lên nơi tôi, như vậy tôi có thể bị&nbsp;sai lầm. Nếu tôi&nbsp;sai lầm&nbsp;thì tôi bị&nbsp;phiền muộn. Nếu tôi bị&nbsp;phiền muộn&nbsp;sẽ thành một&nbsp;chướng ngại&nbsp;cho tôi &#8211; Như vậy, vì sợ&nbsp;sai lầm, vì&nbsp;chán ghét&nbsp;sai lầm, nên vị ấy không&nbsp;trả lời: &#8220;Đây là thiện&#8221;, cũng không&nbsp;trả lời: &#8220;Đây là bất thiện&#8221;. Khi hỏi đến&nbsp;vấn đề&nbsp;này hay&nbsp;vấn đề&nbsp;khác, vị ấy dùng lời&nbsp;ngụy biện&nbsp;trườn uốn như con lươn: &#8220;Tôi không nói là như vậy. Tôi không nói là như kia. Tôi không nói là khác như thế. Tôi không nói là không phải như thế. Tôi không nói là&nbsp;không không&nbsp;phải như thế&#8221;.</p>



<p class="wp-block-paragraph">&nbsp;Này các Tỷ-kheo, đó là&nbsp;trường hợp&nbsp;thứ nhất,&nbsp;y chỉ&nbsp;như vậy, căn cứ như vậy, một số Sa-môn, Bà-la-môn chủ trương&nbsp;Ngụy biện luận, khi bị hỏi&nbsp;vấn đề&nbsp;này hay&nbsp;vấn đề&nbsp;khác dùng những lời&nbsp;ngụy biện&nbsp;trườn uốn như con lươn.</p>



<p class="wp-block-paragraph"><a href="https://thuvienhoasen.org/images/file/9y2BGTds3AgBAE8O/banner-kinh-mung-phat-dan.jpg"></a></p>



<p class="wp-block-paragraph">&nbsp;25.&nbsp;Trường hợp&nbsp;thứ hai, lại có những Sa-môn, Bà-la-môn,&nbsp;y chỉ&nbsp;gì, căn cứ gì chủ trương&nbsp;Ngụy biện luận, khi bị hỏi&nbsp;vấn đề&nbsp;này hay&nbsp;vấn đề&nbsp;khác dùng những lời&nbsp;ngụy biện&nbsp;trườn uốn như con lươn?</p>



<p class="wp-block-paragraph">&nbsp;Này các Tỷ-kheo, ở đây có Sa-môn hay Bà-la-môn, không&nbsp;như thật&nbsp;biết &#8220;Đây là thiện&#8221;, không&nbsp;như thật&nbsp;biết &#8220;Đây là bất thiện&#8221;. Vị ấy nghĩ: Tôi không&nbsp;như thật&nbsp;biết: &#8220;Đây là thiện&#8221;, không&nbsp;như thật&nbsp;biết: &#8220;Đây là bất thiện&#8221;. Vì tôi không&nbsp;như thật&nbsp;biết: &#8220;Đây là thiện&#8221;, không&nbsp;như thật&nbsp;biết &#8220;Đây là bất thiện&#8221;. Và nếu tôi&nbsp;trả lời: &#8220;Đây là thiện&#8221; hoặc tôi&nbsp;trả lời: &#8220;Đây là bất thiện&#8221;, thời dục, tham, sân hoặc hận, khởi lên nơi tôi. Nếu dục, tham, sân hoặc hận khởi lên nơi tôi, như vậy tôi có thể&nbsp;chấp thủ. Nếu tôi&nbsp;chấp thủ, thì tôi bị&nbsp;phiền muộn. Nếu tôi bị&nbsp;phiền muộn, thời thành một&nbsp;chướng ngại&nbsp;cho tôi</p>



<p class="wp-block-paragraph">&nbsp;Như vậy, vì sợ&nbsp;chấp thủ, vì&nbsp;chán ghét&nbsp;chấp thủ, nên vị ấy không&nbsp;trả lời: &#8220;Đây là thiện&#8221;, cũng không&nbsp;trả lời: &#8220;Đây là bất thiện&#8221;. Khi bị hỏi đến&nbsp;vấn đề&nbsp;này hay&nbsp;vấn đề&nbsp;khác, vị ấy dùng lời&nbsp;ngụy biện&nbsp;trườn uốn như con lươn: &#8220;Tôi không nói là như vậy. Tôi không nói là như kia. Tôi không nói là khác như thế. Tôi không nói là không phải như thế. Tôi không nói là&nbsp;không không&nbsp;phải như thế&#8221;. Này các Tỷ-kheo, đó là&nbsp;trường hợp&nbsp;thứ hai,&nbsp;y chỉ&nbsp;như vậy, căn cứ như vậy, một số Sa-môn, Bà-la-môn chủ trương&nbsp;Ngụy biện luận, khi bị hỏi đến&nbsp;vấn đề&nbsp;này hay&nbsp;vấn đề&nbsp;khác, dùng những lời&nbsp;ngụy biện&nbsp;trườn uốn như con lươn.</p>



<p class="wp-block-paragraph">&nbsp;26.&nbsp;Trường hợp&nbsp;thứ ba, lại có những Sa-môn, Bà-la-môn,&nbsp;y chỉ&nbsp;gì, căn cứ gì chủ trương&nbsp;ngụy biện luận, khi bị hỏi&nbsp;vấn đề&nbsp;này hay&nbsp;vấn đề&nbsp;khác dùng những lời&nbsp;ngụy biện&nbsp;trườn uốn như con lươn?</p>



<p class="wp-block-paragraph">&nbsp;Này các Tỷ-kheo, ở đây có Sa-môn hay Bà-la-môn không&nbsp;như thật&nbsp;biết &#8220;Đây là thiện&#8221;, không&nbsp;như thật&nbsp;biết &#8220;Đây là bất thiện&#8221;. Vị ấy nghĩ: Tôi không&nbsp;như thật&nbsp;biết: &#8220;Đây là thiện&#8221;, không&nbsp;như thật&nbsp;biết: &#8220;Đây là bất thiện&#8221;. Vì tôi không&nbsp;như thật&nbsp;biết &#8220;Đây là thiện&#8221;, không&nbsp;như thật&nbsp;biết &#8220;Đây là bất thiện&#8221; và nếu tôi&nbsp;trả lời: &#8220;Đây là thiện&#8221; hoặc&nbsp;trả lời: &#8220;Đây là bất thiện&#8221;, có những Sa-môn, Bà-la-môn,&nbsp;bác học,&nbsp;tế nhị, nghị luận&nbsp;biện tài,&nbsp;biện bác&nbsp;như chia chẻ sợi tóc, những vị này đi chỗ này chỗ kia, như muốn đả phá các&nbsp;tà kiến&nbsp;với&nbsp;trí tuệ&nbsp;của chúng, chúng có thể đọ tài, chất vấn và cật nạn tôi. Nếu chúng đọ tài, chất vấn, cật nạn tôi, tôi có&nbsp;thể không&nbsp;giải đáp&nbsp;được cho chúng. Nếu tôi&nbsp;không giải&nbsp;đáp được cho chúng, thì tôi bị&nbsp;phiền muộn. Nếu tôi bị&nbsp;phiền muộn&nbsp;thời thành một&nbsp;chướng ngại&nbsp;cho tôi &#8211; Như vậy, vì sợ bị&nbsp;thử thách, vì&nbsp;chán ghét&nbsp;thử thách, nên vị ấy không&nbsp;trả lời: &#8220;Đây là thiện&#8221;, cũng không&nbsp;trả lời. &#8220;Đây là bất thiện&#8221;. Khi bị hỏi đến&nbsp;vấn đề&nbsp;này hay&nbsp;vấn đề&nbsp;khác, vị ấy dùng lời&nbsp;ngụy biện&nbsp;trườn uốn như con lươn: &#8220;Tôi không nói là như vậy. Tôi không nói là như kia. Tôi không nói là khác như thế. Tôi không nói là không phải như thế. Tôi không nói là&nbsp;không không&nbsp;phải như thế&#8221;. &#8211; Này các Tỷ-kheo, đó là&nbsp;trường hợp&nbsp;thứ ba,&nbsp;y chỉ&nbsp;như vậy, căn cứ như vậy, một số Sa-môn, chủ trương&nbsp;ngụy biện luận, khi bị hỏi&nbsp;vấn đề&nbsp;này hay&nbsp;vấn đề&nbsp;khác dùng những lời&nbsp;ngụy biện&nbsp;trườn uốn như con lươn.</p>



<p class="wp-block-paragraph">&nbsp;27.&nbsp;Trường hợp&nbsp;thứ tư, lại có những Sa-môn, Bà-la-môn,&nbsp;y chỉ&nbsp;gì, căn cứ gì chủ trương&nbsp;Ngụy biện luận, khi bị hỏi&nbsp;vấn đề&nbsp;này hay&nbsp;vấn đề&nbsp;khác dùng những lời&nbsp;ngụy biện&nbsp;trườn uốn như con lươn?</p>



<p class="wp-block-paragraph">&nbsp;Này các Tỷ-kheo, ở đây có Sa-môn, Bà-la-môn&nbsp;đần độn&nbsp;ngu si. Vị này, vì&nbsp;đần độn&nbsp;ngu si, khi bị hỏi&nbsp;vấn đề&nbsp;nay hay&nbsp;vấn đề&nbsp;khác, liền dùng những lời&nbsp;ngụy biện&nbsp;trườn uốn như con lươn: &#8220;Anh hỏi tôi có&nbsp;một thế&nbsp;giới khác hay không?&#8221; Nếu tôi nghĩ &#8220;Có&nbsp;một thế&nbsp;giới khác&#8221;, tôi có thể&nbsp;trả lời&nbsp;với anh: &#8220;Có&nbsp;một thế&nbsp;giới khác&#8221;. Nhưng tôi không nói là như vậy. Tôi không nói là như kia. Tôi không nói là khác như thế. Tôi không nói là không phải như thế. Tôi không nói là&nbsp;không không&nbsp;phải như thế. Nếu anh hỏi tôi: &#8220;Không có&nbsp;một thế&nbsp;giới khác phải không?&#8221; Nếu tôi nghĩ: &#8220;Không có&nbsp;một thế&nbsp;giới khác&#8221;, tôi có thể&nbsp;trả lời&nbsp;với anh: &#8220;Không có&nbsp;một thế&nbsp;giới khác&#8221;. Nhưng tôi không nói là như vậy. Tôi không nói là như kia. Tôi không nói là khác như thế. Tôi không nói là không phải như thế. Tôi không nói là&nbsp;không không&nbsp;phải như thế. Nếu anh hỏi tôi &#8220;Không có&nbsp;một thế&nbsp;giới khác phải không?&#8221; (&#8230; như trên&#8230; ) &#8220;Cũng có và cũng không có&nbsp;một thế&nbsp;giới khác?&#8221; &#8220;Cũng không có và cũng&nbsp;không không&nbsp;có&nbsp;một thế&nbsp;giới khác?&#8221;, &#8220;Có loại&nbsp;hữu tình&nbsp;hóa sanh?&#8221;, &#8220;Không có loại&nbsp;hữu tình&nbsp;hóa sanh?&#8221; &#8220;Cũng có và cũng không có loại&nbsp;hữu tình&nbsp;hóa sanh?&#8221; &#8220;Cũng không có và cũng&nbsp;không không&nbsp;có loại&nbsp;hữu tình&nbsp;hóa sanh?&#8221;, &#8220;Có kết quả&nbsp;dị thục&nbsp;của các nghiệp thiện và ác?&#8221;, &#8220;Không có kết quả&nbsp;dị thục&nbsp;của những nghiệp thiện và ác?&#8221;, &#8220;Cũng có và cũng không có kết quả&nbsp;dị thục&nbsp;của những nghiệp thiện và ác?&#8221;, &#8220;Cũng không có và cũng&nbsp;không không&nbsp;có kết quả&nbsp;dị thục&nbsp;của những nghiệp thiện và ác?&#8221;, &#8220;Như Lai có&nbsp;tồn tại&nbsp;sau khi chết?&#8221;, &#8220;Như Lai không có&nbsp;tồn tại&nbsp;sau khi chết?&#8221;, &#8220;Như Lai có và không có&nbsp;tồn tại&nbsp;sau khi chết?&#8221;, &#8220;Như Lai không có và cũng&nbsp;không không&nbsp;có&nbsp;tồn tại&nbsp;sau khi chết?&#8221;. Anh hỏi tôi như vậy. Nếu tôi nghĩ : &#8220;Như Lai không có và cũng&nbsp;không không&nbsp;có&nbsp;tồn tại&nbsp;sau khi chết&#8221;. Tôi có thể&nbsp;trả lời&nbsp;: &#8220;Như Lai không có và cũng&nbsp;không không&nbsp;có&nbsp;tồn tại&nbsp;sau khi chết&#8221;. Nhưng tôi không nói là như vậy. Tôi không nói là như kia. Tôi không nói là khác như thế. Tôi không nói là không phải như thế. Tôi không nói là&nbsp;không không&nbsp;phải như thế.</p>



<p class="wp-block-paragraph">&nbsp;Này các Tỷ-kheo, đó là&nbsp;trường hợp&nbsp;thứ tư,&nbsp;y chỉ&nbsp;như vậy, căn cứ như vậy, một số Sa-môn, Bà-la-môn chủ trương&nbsp;Ngụy biện luận, khi bị hỏi&nbsp;vấn đề&nbsp;này hay&nbsp;vấn đề&nbsp;khác dùng những lời&nbsp;ngụy biện&nbsp;trườn uốn như con lươn.</p>



<p class="wp-block-paragraph">&nbsp;28. Này các Tỷ-kheo, những Sa-môn, Bà-la-môn chủ trương&nbsp;Ngụy biện luận. Khi bị hỏi&nbsp;vấn đề&nbsp;này hay&nbsp;vấn đề&nbsp;khác, dùng những lời&nbsp;ngụy biện&nbsp;trườn uốn như con lươn với bốn luận chấp. Nếu có những Sa-môn hay Bà-la-môn nào chủ trương&nbsp;Ngụy biện luận, khi bị hỏi&nbsp;vấn đề&nbsp;này hay&nbsp;vấn đề&nbsp;khác dùng những lời&nbsp;ngụy biện&nbsp;trườn uốn như con lươn, chúng sẽ chấp cả bốn luận chấp trên hay một trong những luận chấp trên,&nbsp;ngoài ra&nbsp;không có luận chấp nào khác nữa.</p>



<p class="wp-block-paragraph">&nbsp;29. Này các Tỷ-kheo,&nbsp;Như Lai&nbsp;tuệ tri&nbsp;như thế này : &#8220;Những&nbsp;sở kiến&nbsp;ấy,&nbsp;chấp trước&nbsp;như vậy,&nbsp;chấp thủ&nbsp;như vậy, sẽ đưa đến cõi thú như vậy, sẽ&nbsp;tác thành&nbsp;những định mạng như vậy&#8221;.&nbsp;Như Lai&nbsp;tuệ tri&nbsp;như vậy. Ngài lại&nbsp;tuệ tri&nbsp;hơn thế nữa. Và Ngài&nbsp;không chấp&nbsp;sở tri&nbsp;ấy. Nhờ&nbsp;không chấp&nbsp;trước&nbsp;sở tri&nbsp;ấy,&nbsp;nội tâm&nbsp;được&nbsp;tịch tịnh. Ngài&nbsp;như thật&nbsp;tuệ tri&nbsp;sự&nbsp;tập khởi, sự&nbsp;diệt trừ&nbsp;của các thọ, vị ngọt, những nguy hiểm và sự&nbsp;xuất ly&nbsp;của chúng. Nhờ&nbsp;tuệ tri&nbsp;vậy, này các Tỷ-kheo,&nbsp;Như Lai&nbsp;được giải thoát&nbsp;hoàn toàn, không có&nbsp;chấp thủ.</p>



<p class="wp-block-paragraph">&nbsp;Những pháp ấy, này các Tỷ-kheo, là những pháp sâu kín, khó thấy, khó chứng,&nbsp;tịch tịnh, mỹ diệu, vượt ngoài tầm của luận lý suông,&nbsp;tế nhị, chỉ những người có trí mới có thể&nbsp;phân biệt. Những pháp ấy&nbsp;Như Lai&nbsp;đã&nbsp;tự chứng&nbsp;tri,&nbsp;giác ngộ&nbsp;và&nbsp;truyền thuyết. Và chính những pháp ấy những ai&nbsp;như thật&nbsp;chân chánh&nbsp;tán thán&nbsp;Như Lai&nbsp;mới nói đến.</p>



<p class="wp-block-paragraph">&nbsp;30. Này các Tỷ-kheo, có một số Sa-môn, Bà-la-môn chủ trương&nbsp;Vô nhân&nbsp;luận, chấp&nbsp;bản ngã&nbsp;và&nbsp;thế giới&nbsp;do&nbsp;vô nhân&nbsp;sanh với hai luận chấp. Và những Sa-môn, Bà-la-môn ấy,&nbsp;y chỉ&nbsp;gì, căn cứ gì, chủ trương&nbsp;Vô nhân&nbsp;luận, chấp&nbsp;bản ngã&nbsp;và&nbsp;thế giới&nbsp;do&nbsp;vô nhân&nbsp;sanh?</p>



<p class="wp-block-paragraph">&nbsp;31. Này các Tỷ-kheo, có những&nbsp;chư Thiên&nbsp;gọi là&nbsp;Vô tưởng&nbsp;hữu tình. Khi một tưởng niệm khởi lên, thời&nbsp;chư Thiên&nbsp;ấy&nbsp;thác sanh,&nbsp;từ bỏ&nbsp;thân&nbsp;chư Thiên&nbsp;của mình. Này các Tỷ-kheo,&nbsp;sự tình&nbsp;này xẩy ra. Một trong loài&nbsp;hữu tình&nbsp;ấy, khi&nbsp;thác sanh&nbsp;từ bỏ&nbsp;thân&nbsp;chư Thiên&nbsp;ấy của mình, lại sanh đến cõi này. Khi đến tại chỗ này, vị ấy&nbsp;xuất gia,&nbsp;từ bỏ&nbsp;gia đình,&nbsp;sống không gia đình. Sau khi&nbsp;xuất gia,&nbsp;từ bỏ&nbsp;gia đình,&nbsp;sống không gia đình, vị ấy nhờ nhiệt tâm, nhờ&nbsp;tinh tấn, nhờ&nbsp;cần mẫn, nhờ không&nbsp;phóng dật, nhờ chánh&nbsp;ức niệm, nên tâm&nbsp;nhập định. Vị ấy nhớ đến khi tưởng niệm phát sanh, chớ không nhớ&nbsp;xa hơn&nbsp;nữa. Vị ấy nói : &#8220;Bản ngã và&nbsp;thế giới&nbsp;do&nbsp;vô nhân&nbsp;sanh. Tại sao vậy? Vì rằng tôi trước kia không có, nay tôi có. Từ nơi&nbsp;trạng thái&nbsp;không có, tôi&nbsp;trở thành&nbsp;loài hữu tình&#8221;.</p>



<p class="wp-block-paragraph">&nbsp;Này các Tỷ-kheo, đó là&nbsp;trường hợp&nbsp;thứ nhất,&nbsp;y chỉ&nbsp;như vậy, căn cứ như vậy, một số Sa-môn, Bà-la-môn chủ trương&nbsp;Vô nhân&nbsp;luận, chấp&nbsp;bản ngã&nbsp;và&nbsp;thế giới&nbsp;do&nbsp;vô nhân&nbsp;sanh.</p>



<p class="wp-block-paragraph">&nbsp;32.&nbsp;Trường hợp&nbsp;thứ hai, những Sa-môn, Bà-la-môn,&nbsp;y chỉ&nbsp;gì, căn cứ gì, chủ trương&nbsp;Vô nhân&nbsp;luận, chấp&nbsp;bản ngã&nbsp;và&nbsp;thế giới&nbsp;do&nbsp;vô nhân&nbsp;sanh?</p>



<p class="wp-block-paragraph">&nbsp;Này các Tỷ-kheo, ở đây có Sa-môn hay Bà-la-môn là nhà&nbsp;biện luận, là nhà thẩm sát. Do sự chia chẻ&nbsp;biện bác&nbsp;của&nbsp;suy luận&nbsp;và sự&nbsp;tùy thuận&nbsp;theo thẩm sát, vị ấy&nbsp;tuyên bố&nbsp;: &#8220;Bản ngã và&nbsp;thế giới&nbsp;vô nhân&nbsp;sanh&#8221;.</p>



<p class="wp-block-paragraph">&nbsp;Này các Tỷ-kheo, đó là&nbsp;trường hợp&nbsp;thứ hai,&nbsp;y chỉ&nbsp;như vậy, căn cứ như vậy, một số Sa-môn, Bà-la-môn chủ trương&nbsp;Vô nhân&nbsp;luận, chấp&nbsp;bản ngã&nbsp;và&nbsp;thế giới&nbsp;do&nbsp;vô nhân&nbsp;sanh.</p>



<p class="wp-block-paragraph">&nbsp;33. Này các Tỷ-kheo, những Sa-môn, Bà-la-môn chủ trương&nbsp;Vô nhân&nbsp;luận, chấp&nbsp;bản ngã&nbsp;và&nbsp;thế giới&nbsp;do&nbsp;vô nhân&nbsp;sanh với hai luận chấp. Nếu có những Sa-môn hay Bà-la-môn nào chủ trương&nbsp;Vô nhân&nbsp;luận, chấp&nbsp;bản ngã&nbsp;và&nbsp;thế giới&nbsp;do&nbsp;vô nhân&nbsp;sanh, chúng sẽ chấp cả hai luận chấp trên hay một trong những luận chấp trên,&nbsp;ngoài ra&nbsp;không có luận chấp nào khác nữa.</p>



<p class="wp-block-paragraph">&nbsp;34. Này các Tỷ-kheo,&nbsp;Như Lai&nbsp;tuệ tri&nbsp;như thế này : &#8220;Những&nbsp;sở kiến&nbsp;ấy,&nbsp;chấp trước&nbsp;như vậy,&nbsp;chấp thủ&nbsp;như vậy, sẽ đưa đến cõi thú như vậy, sẽ&nbsp;tác thành&nbsp;những định mạng như vậy&#8221;.&nbsp;Như Lai&nbsp;tuệ tri&nbsp;như vậy, Ngài lại&nbsp;tuệ tri&nbsp;hơn thế nữa, và Ngài&nbsp;không chấp&nbsp;sở tri&nbsp;ấy. Nhờ&nbsp;không chấp&nbsp;trước&nbsp;sở tri&nbsp;ấy,&nbsp;nội tâm&nbsp;được&nbsp;tịch tịnh. Ngài&nbsp;như thật&nbsp;tuệ tri&nbsp;sự&nbsp;tập khởi, sự&nbsp;diệt trừ&nbsp;của các thọ, vị ngọt, những nguy hiểm và sự&nbsp;xuất ly&nbsp;của chúng. Nhờ&nbsp;tuệ tri&nbsp;như vậy, này các Tỷ-kheo,&nbsp;Như Lai&nbsp;được giải thoát&nbsp;hoàn toàn, không có&nbsp;chấp thủ. Những pháp ấy, này các Tỷ-kheo, là những pháp sâu kín, khó thấy, khó chứng,&nbsp;tịch tịnh, mỹ diệu, vượt ngoài tầm của luận lý suông,&nbsp;tế nhị, chỉ những người có trí mới có thể&nbsp;phân biệt. Những pháp ấy&nbsp;Như Lai&nbsp;đã&nbsp;tự chứng&nbsp;tri,&nbsp;giác ngộ&nbsp;và&nbsp;tuyên thuyết. Và chính những pháp ấy những ai&nbsp;như thật&nbsp;chân chánh&nbsp;tán thán&nbsp;Như Lai&nbsp;mới nói đến.</p>



<p class="wp-block-paragraph">&nbsp;35. Này các Tỷ-kheo, những Sa-môn, Bà-la-môn&nbsp;luận bàn&nbsp;về&nbsp;quá khứ&nbsp;tối sơ,&nbsp;chấp kiến&nbsp;về&nbsp;quá khứ&nbsp;tối sơ,&nbsp;y cứ&nbsp;về&nbsp;quá khứ&nbsp;tối sơ,&nbsp;đề xướng&nbsp;nhiều&nbsp;ý kiến&nbsp;sai khác với mười tám luận chấp trên. Này các Tỷ-kheo, nếu có những Sa-môn hoặc Bà-la-môn&nbsp;luận bàn&nbsp;về&nbsp;quá khứ&nbsp;tối sơ,&nbsp;chấp kiến&nbsp;về&nbsp;quá khứ&nbsp;tối sơ,&nbsp;y cứ&nbsp;về&nbsp;quá khứ&nbsp;tối sơ,&nbsp;đề xướng&nbsp;nhiều&nbsp;ý kiến&nbsp;sai khác, chúng sẽ chấp cả mười tám luận chấp trên hay một trong những luận chấp trên,&nbsp;ngoài ra&nbsp;không có luận chấp nào khác nữa.</p>



<p class="wp-block-paragraph">&nbsp;36. Này các Tỷ-kheo,&nbsp;Như Lai&nbsp;tuệ tri&nbsp;như thế này : &#8220;Những&nbsp;sở kiến&nbsp;ấy,&nbsp;chấp trước&nbsp;như vậy,&nbsp;chấp thủ&nbsp;như vậy, sẽ đưa đến cõi thú như vậy, sẽ&nbsp;tác thành&nbsp;những định mạng như vậy&#8221;.&nbsp;Như Lai&nbsp;tuệ tri&nbsp;như vậy. Ngài lại&nbsp;tuệ tri&nbsp;hơn thế nữa. Và Ngài&nbsp;không chấp&nbsp;sở tri&nbsp;ấy. Nhờ&nbsp;không chấp&nbsp;trước&nbsp;sở tri&nbsp;ấy,&nbsp;nội tâm&nbsp;được&nbsp;tịch tịnh. Ngài&nbsp;như thật&nbsp;tuệ tri&nbsp;sự&nbsp;tập khởi, sự&nbsp;diệt trừ&nbsp;của các thọ, vị ngọt, những nguy hiểm và sự&nbsp;xuất ly&nbsp;của chúng. Nhờ&nbsp;tuệ tri&nbsp;vậy, này các Tỷ-kheo,&nbsp;Như Lai&nbsp;được giải thoát&nbsp;hoàn toàn, không có&nbsp;chấp thủ.</p>



<p class="wp-block-paragraph">&nbsp;Những pháp ấy, này các Tỷ-kheo, là những pháp sâu kín, khó thấy, khó chứng,&nbsp;tịch tịnh, mỹ diệu, vượt ngoài tầm của luận lý suông,&nbsp;tế nhị, chỉ những người có trí mới có thể&nbsp;phân biệt. Những pháp ấy&nbsp;Như Lai&nbsp;đã&nbsp;tự chứng&nbsp;tri,&nbsp;giác ngộ&nbsp;và&nbsp;truyền thuyết. Và chính những pháp ấy, những ai&nbsp;như thật&nbsp;chân chánh&nbsp;tán thán&nbsp;Như Lai&nbsp;mới nói đến.</p>



<p class="wp-block-paragraph">&nbsp;37. Này các Tỷ-kheo, có một số Sa-môn, Bà-la-môn&nbsp;luận bàn&nbsp;về tương lai,&nbsp;chấp kiến&nbsp;về tương lai,&nbsp;y cứ&nbsp;về tương lai,&nbsp;đề xướng&nbsp;nhiều&nbsp;ý kiến&nbsp;sai khác với bốn mươi bốn luận chấp. Và những vị Sa-môn, Bà-la-môn này,&nbsp;y chỉ&nbsp;gì, căn cứ gì,&nbsp;luận bàn&nbsp;về tương lai,&nbsp;chấp kiến&nbsp;về tương lai,&nbsp;y cứ&nbsp;về tương lai&nbsp;đề xướng&nbsp;nhiều&nbsp;ý kiến&nbsp;sai khác với bốn mươi bốn luận chấp?</p>



<p class="wp-block-paragraph">&nbsp;38. Này các Tỷ-kheo, có những Sa-môn, Bà-la-môn chủ trương&nbsp;hữu tưởng&nbsp;sau khi chết, chấp&nbsp;bản ngã&nbsp;có tưởng&nbsp;sau khi chết&nbsp;với mười sáu luận chấp. Và những Sa-môn, Bà-la-môn này,&nbsp;y chỉ&nbsp;gì, căn cứ gì, chủ trương&nbsp;Hữu tưởng luận&nbsp;sau khi chết, với mười sáu luận chấp?</p>



<p class="wp-block-paragraph">&nbsp;Những vị này chủ trương : &#8220;Bản ngã có sắc, không có bệnh,&nbsp;sau khi chết&nbsp;có tưởng&#8221;. Chúng chủ trương : &#8220;Bản ngã có sắc và cũng không có sắc &#8230;&#8221;, &#8220;Bản ngã cũng không có sắc và cũng&nbsp;không không&nbsp;có sắc &#8230;&#8221;, &#8220;Bản ngã là&nbsp;hữu biên&#8230;&#8221;, &#8220;Bản ngã là&nbsp;vô biên&nbsp;&#8230;&#8221;, &#8220;Bản ngã là&nbsp;hữu biên&nbsp;và vô biên&#8221;, &#8220;Bản ngã cũng&nbsp;không hữu&nbsp;biên và cũng&nbsp;không vô&nbsp;biên &#8230;&#8221;, &#8220;Bản ngã là nhất tưởng &#8230;&#8221;, &#8220;Bản ngã là dị tưởng &#8230;&#8221;. &#8220;Bản ngã là thiểu tưởng &#8230;&#8221;, &#8220;Bản ngã là&nbsp;vô lượng&nbsp;tưởng &#8230;&#8221;, &#8220;Bản ngã là thuần lạc &#8230;&#8221;, &#8220;Bản ngã là thuần khổ &#8230;&#8221;, &#8220;Bản ngã là khổ lạc&#8221;. Chúng chủ trương : &#8220;Bản ngã là không&nbsp;khổ không&nbsp;lạc, không có bệnh,&nbsp;sau khi chết&nbsp;có tưởng&#8221;.</p>



<p class="wp-block-paragraph">&nbsp;39. Này các Tỷ-kheo, những Sa-môn, Bà-la-môn này chủ trương&nbsp;hữu tưởng&nbsp;sau khi chết, chấp&nbsp;bản ngã&nbsp;có tưởng&nbsp;sau khi chết&nbsp;với mười sáu luận chấp. Này các Tỷ-kheo, những Sa-môn hay Bà-la-môn này chủ trương&nbsp;Hữu tưởng luận&nbsp;sau khi chết, chúng sẽ chấp cả mười sáu luận chấp trên, hay một trong những luận chấp trên,&nbsp;ngoài ra&nbsp;không có luận chấp nào khác nữa.</p>



<p class="wp-block-paragraph">&nbsp;40. Này các Tỷ-kheo,&nbsp;Như Lai&nbsp;tuệ tri&nbsp;như thế này : &#8220;Những&nbsp;sở kiến&nbsp;ấy,&nbsp;chấp trước&nbsp;như vậy, sẽ đưa đến cõi thú như vậy, sẽ&nbsp;tác thành&nbsp;những định mạng như vậy&#8221;.&nbsp;Như Lai&nbsp;tuệ tri&nbsp;như vậy, Ngài lại&nbsp;tuệ tri&nbsp;hơn thế nữa, và Ngài&nbsp;không chấp&nbsp;sở tri&nbsp;ấy. Nhờ&nbsp;không chấp&nbsp;trước&nbsp;sơ tri&nbsp;ấy,&nbsp;nội tâm&nbsp;được&nbsp;tịch tịnh. Ngài&nbsp;như thật&nbsp;tuệ tri&nbsp;sự&nbsp;tập khởi, sự&nbsp;diệt trừ&nbsp;của các thọ, vị ngọt, những nguy hiểm và sự&nbsp;xuất ly&nbsp;của chúng. Nhờ&nbsp;tuệ tri&nbsp;vậy, này các Tỷ-kheo,&nbsp;Như Lai&nbsp;được giải thoát&nbsp;hoàn toàn, không có&nbsp;chấp thủ. Những pháp ấy, này các Tỷ-kheo, là những pháp sâu kín, khó thấy, khó chứng,&nbsp;tịch tịnh, mỹ diệu, vượt ngoài tầm của luận lý suông,&nbsp;tế nhị, chỉ những người có trí mới có thể&nbsp;phân biệt. Những pháp ấy&nbsp;Như Lai&nbsp;đã&nbsp;tự chứng&nbsp;tri,&nbsp;giác ngộ&nbsp;và&nbsp;truyền thuyết. Và chính những pháp ấy, những ai&nbsp;như thật&nbsp;chân chánh&nbsp;tán thán&nbsp;Như Lai&nbsp;mới nói đến.</p>



<p class="wp-block-paragraph">&nbsp;Tụng phẩm thứ ba</p>



<p class="wp-block-paragraph">&nbsp;1. Này các Tỷ-kheo, có một số Sa-môn, Bà-la-môn, chủ trương&nbsp;Vô tưởng luận&nbsp;sau khi chết, chấp&nbsp;bản ngã&nbsp;không có tưởng&nbsp;sau khi chết&nbsp;với tám luận chấp. Và những Sa-môn, Bà-la-môn này,&nbsp;y chỉ&nbsp;gì, căn cứ gì, chủ trương&nbsp;Vô tưởng luận&nbsp;sau khi chết, chấp&nbsp;bản ngã&nbsp;không có tưởng&nbsp;sau khi chết&nbsp;với tám luận chấp?</p>



<p class="wp-block-paragraph">&nbsp;2. Những vị này chủ trương : &#8220;Bản ngã có sắc, không có bệnh,&nbsp;sau khi chết&nbsp;không có tưởng&#8221;, &#8220;Bản&nbsp;ngã không&nbsp;có sắc &#8230;&#8221;, &#8220;Bản ngã có sắc và cũng không có sắc &#8230;&#8221;, &#8220;Bản&nbsp;ngã không&nbsp;có sắc và cũng&nbsp;không không&nbsp;có sắc &#8230;&#8221;, &#8220;Là&nbsp;hữu biên&nbsp;&#8230;&#8221;, &#8220;Là&nbsp;vô biên&nbsp;&#8230;&#8221;, &#8220;Là&nbsp;hữu biên&nbsp;và&nbsp;vô biên&nbsp;&#8230;&#8221;. Các vị này chấp&nbsp;bản ngã&nbsp;là&nbsp;phi hữu&nbsp;biên và phi&nbsp;vô biên, không có bệnh,&nbsp;sau khi chết&nbsp;không có tưởng.</p>



<p class="wp-block-paragraph">&nbsp;3. Này các Tỷ-kheo, những Sa-môn, Bà-la-môn này chủ trương&nbsp;Vô tưởng luận&nbsp;sau khi chết, chấp&nbsp;bản ngã&nbsp;không có tưởng&nbsp;sau khi chết&nbsp;với tám luận chấp. &#8211; Này các Tỷ-kheo, nếu có những Sa-môn hay Bà-la-môn nào chủ trương&nbsp;Vô tưởng luận&nbsp;sau khi chết, chấp&nbsp;bản ngã&nbsp;không có tưởng&nbsp;sau khi chết, chúng sẽ chấp cả tám luận chấp trên, hay một trong những luận chấp trên,&nbsp;ngoài ra&nbsp;không có luận chấp nào khác nữa.</p>



<p class="wp-block-paragraph">&nbsp;4. Này các Tỷ-kheo.&nbsp;Như Lai&nbsp;tuệ tri&nbsp;như thế này : &#8220;Những&nbsp;sở kiến&nbsp;ấy,&nbsp;chấp trước&nbsp;như vậy,&nbsp;chấp thủ&nbsp;như vậy, sẽ đưa đến những cõi thú như vậy, sẽ&nbsp;tác thành&nbsp;những định mạng như vậy&#8221;.&nbsp;Như Lai&nbsp;tuệ tri&nbsp;như vậy. Ngài lại&nbsp;tuệ tri&nbsp;hơn thế nữa, và Ngài&nbsp;không chấp&nbsp;sở tri&nbsp;ấy. Nhờ&nbsp;không chấp&nbsp;trước&nbsp;sở tri&nbsp;ấy,&nbsp;nội tâm&nbsp;được&nbsp;tịch tịnh. Ngài&nbsp;như thật&nbsp;tuệ tri&nbsp;sự&nbsp;tập khởi, sự&nbsp;diệt trừ&nbsp;của các thọ, vị ngọt, những nguy hiểm và sự&nbsp;xuất ly&nbsp;của chúng. Nhờ&nbsp;tuệ tri&nbsp;vậy, này các Tỷ-kheo,&nbsp;Như Lai&nbsp;được giải thoát&nbsp;hoàn toàn, không có&nbsp;chấp thủ.</p>



<p class="wp-block-paragraph">&nbsp;Những pháp ấy, này các Tỷ-kheo, là những pháp sâu kín, khó thấy, khó chứng,&nbsp;tịch tịnh, mỹ diệu, vượt ngoài tầm của luận lý suông,&nbsp;tế nhị, chỉ những người có trí mới có thể&nbsp;nhận biết. Những pháp ấy&nbsp;Như Lai&nbsp;tự chứng&nbsp;tri,&nbsp;giác ngộ&nbsp;và&nbsp;truyền thuyết; và chính những pháp ấy những ai&nbsp;như thật&nbsp;chân chánh&nbsp;tán thán&nbsp;Như Lai&nbsp;mới nói đến.</p>



<p class="wp-block-paragraph">&nbsp;5. Này các Tỷ-kheo, có một số Sa-môn, Bà-la-môn chủ trương&nbsp;Phi Hữu tưởng Phi Vô tưởng luận&nbsp;sau khi chết, chấp&nbsp;bản ngã&nbsp;phi hữu&nbsp;tưởng phi&nbsp;vô tưởng&nbsp;với tám luận chấp. Và những Sa-môn, Bà-la-môn này,&nbsp;y chỉ&nbsp;gì, căn cứ gì, chủ trương&nbsp;Phi Hữu tưởng Phi Vô tưởng luận&nbsp;sau khi chết, chấp&nbsp;bản ngã&nbsp;phi hữu&nbsp;tưởng phi&nbsp;vô tưởng&nbsp;với tám luận chấp?</p>



<p class="wp-block-paragraph">&nbsp;6. Những vị này chấp: &#8220;Bản ngã có sắc, không có bệnh,&nbsp;sau khi chết&nbsp;phi hữu&nbsp;tưởng phi&nbsp;vô tưởng&#8230; &#8220;, &#8220;Bản ngã là&nbsp;vô sắc&#8230; &#8220;, &#8220;Bản ngã có sắc và cũng không có sắc&#8230; &#8220;, &#8220;Bản ngã là&nbsp;phi hữu&nbsp;sắc và cũng phi&nbsp;vô sắc&#8230; &#8220;, &#8220;Bản ngã là&nbsp;hữu biên&#8230; &#8220;, &#8220;Bản ngã là&nbsp;vô biên&#8230; &#8220;, &#8220;Bản ngã là&nbsp;hữu biên&nbsp;và&nbsp;vô biên&#8230; &#8220;.</p>



<p class="wp-block-paragraph">&nbsp;7. Những vị này chấp rằng.&nbsp;Bản ngã&nbsp;là&nbsp;phi hữu&nbsp;biên và cũng phi&nbsp;vô biên, không có bệnh,&nbsp;sau khi chết&nbsp;phi hữu&nbsp;tưởng phi&nbsp;vô tưởng, với tám luận chấp. Này các Tỷ-kheo, nếu có Sa-môn hay Bà-la-môn nào, chủ trương&nbsp;phi hữu&nbsp;tưởng phi&nbsp;vô tưởng, chúng sẽ chấp cả tám luận chấp trên, hay một trong những luận chấp trên,&nbsp;ngoài ra&nbsp;không có luận chấp nào khác nữa.</p>



<p class="wp-block-paragraph">&nbsp;8. Này các Tỷ-kheo,&nbsp;Như Lai&nbsp;tuệ tri&nbsp;như thế này: &#8220;Những&nbsp;sở kiến&nbsp;ấy,&nbsp;chấp trước&nbsp;như vậy, sẽ đưa đến những cõi thú như vậy, sẽ&nbsp;tác thành&nbsp;những định mạng như vậy&#8221;.&nbsp;Như Lai&nbsp;tuệ tri&nbsp;như vậy. Ngài&nbsp;tuệ tri&nbsp;hơn thế nữa, và Ngài&nbsp;không chấp&nbsp;sở tri&nbsp;ấy. Nhờ&nbsp;không chấp&nbsp;trước&nbsp;sở tri&nbsp;ấy,&nbsp;nội tâm&nbsp;được&nbsp;tịch tịnh. Ngài&nbsp;như thật&nbsp;tuệ tri&nbsp;sự&nbsp;tập khởi, sự&nbsp;diệt trừ&nbsp;của các thọ, vị ngọt, những nguy hiểm và sự&nbsp;xuất ly&nbsp;của chúng. Nhờ&nbsp;tuệ tri&nbsp;vậy, này các Tỷ-kheo,&nbsp;Như Lai&nbsp;được giải thoát&nbsp;hoàn toàn, không có&nbsp;chấp thủ. Những pháp ấy, này các Tỷ-kheo, là những pháp sâu kín, khó thấy, khó chứng,&nbsp;tịch tịnh, mỹ diệu, vượt ngoài tầm của luận lý suông,&nbsp;tế nhị, chỉ những người có trí mới có thể&nbsp;nhận biết. Những pháp ấy&nbsp;Như Lai&nbsp;tự chứng&nbsp;tri,&nbsp;giác ngộ&nbsp;và&nbsp;truyền thuyết; và chính những pháp ấy những ai&nbsp;như thật&nbsp;chân chánh&nbsp;tán thán&nbsp;Như Lai&nbsp;mới nói đến.</p>



<p class="wp-block-paragraph">&nbsp;9. Này các Tỷ-kheo, có một số Sa-môn, Bà-la-môn, chủ trương&nbsp;Đoạn diệt luận,&nbsp;chấp trước&nbsp;sự&nbsp;đoạn diệt, sự tiêu thất, sự hủy hoại của loài&nbsp;hữu tình&nbsp;với bảy luận chấp. Và những Sa-môn, Bà-la-môn này,&nbsp;y chỉ&nbsp;gì, căn cứ gì,&nbsp;chấp trước&nbsp;sự&nbsp;đoạn diệt, sự tiêu thất, sự hủy hoại của loài&nbsp;hữu tình&nbsp;với bảy luận chấp?</p>



<p class="wp-block-paragraph">&nbsp;10. Này các Tỷ-kheo, có Sa-môn hoặc Bà-la-môn chủ trương&nbsp;lý thuyết&nbsp;và&nbsp;ý kiến: &#8220;Vì&nbsp;bản ngã&nbsp;này có sắc, do&nbsp;bốn đại&nbsp;hợp thành, do&nbsp;cha mẹ&nbsp;sanh ra, khi thân hoại bị hủy nát&nbsp;tiêu diệt,&nbsp;sau khi chết&nbsp;không còn nữa, nên&nbsp;bản ngã&nbsp;này như thế&nbsp;hoàn toàn&nbsp;đoạn diệt&#8221;. Như vậy một số người chủ trương sự&nbsp;đoạn diệt, sự tiêu thất và sự hủy hoại của loài&nbsp;hữu tình.</p>



<p class="wp-block-paragraph">&nbsp;11. Một vị khác lại nói: &#8220;Này ông, thật có&nbsp;bản ngã&nbsp;như ông nói. Tôi không nói&nbsp;bản ngã&nbsp;ấy không có, nhưng&nbsp;bản ngã&nbsp;ấy như thế không bị&nbsp;hoàn toàn&nbsp;đoạn diệt. Lại còn một&nbsp;bản ngã&nbsp;khác có thiên tánh, có sắc, thuộc&nbsp;dục giới, ăn các đồ ăn&nbsp;đoàn thực.&nbsp;Bản ngã&nbsp;ấy ông không biết, ông không thấy.&nbsp;Bản ngã&nbsp;ấy tôi biết, tôi thấy.&nbsp;Bản ngã&nbsp;ấy khi thân hoại, bị hủy nát&nbsp;tiêu diệt,&nbsp;sau khi chết&nbsp;không còn nữa, nên&nbsp;bản ngã&nbsp;ấy như thế&nbsp;hoàn toàn&nbsp;đoạn diệt&#8221;. Như vậy có một số người chủ trương sự&nbsp;đoạn diệt, tiêu thất và hủy hoại của loài&nbsp;hữu tình.</p>



<p class="wp-block-paragraph">&nbsp;12. Một vị khác lại nói: &#8220;Này ông, thật có&nbsp;bản ngã&nbsp;ấy như ông nói. Tôi không nói&nbsp;bản ngã&nbsp;ấy không có. Nhưng&nbsp;bản ngã&nbsp;ấy như thế không bị&nbsp;hoàn toàn&nbsp;đoạn diệt. Lại còn một&nbsp;bản ngã&nbsp;khác có thiên tánh, có sắc, do ý tạo thành, mọi&nbsp;chi tiết&nbsp;tay chân lớn nhỏ đều đầy đủ, không khuyết một căn nào.&nbsp;Bản ngã&nbsp;ấy ông không biết, ông không thấy.&nbsp;Bản ngã&nbsp;ấy tôi biết, tôi thấy.&nbsp;Bản ngã&nbsp;ấy khi thân hoại bị hủy nát,&nbsp;tiêu diệt,&nbsp;sau khi chết&nbsp;không còn nữa, nên&nbsp;bản ngã&nbsp;ấy như thế&nbsp;hoàn toàn&nbsp;đoạn diệt&#8221;. Như vậy có một số người chủ trương sự&nbsp;đoạn diệt, tiêu thất và hủy hoại của loài&nbsp;hữu tình.</p>



<p class="wp-block-paragraph">&nbsp;13. Một vị khác lại nói: &#8220;Này ông, thật có&nbsp;bản ngã&nbsp;ấy như ông nói. Tôi không nói&nbsp;bản ngã&nbsp;ấy không có. Nhưng&nbsp;bản ngã&nbsp;ấy như thế không bị&nbsp;hoàn toàn&nbsp;đoạn diệt. Lại còn một&nbsp;bản ngã&nbsp;khác vượt ngoài tất cả sắc tưởng,&nbsp;diệt trừ&nbsp;các tưởng chống đối, không&nbsp;ức niệm&nbsp;các dị tưởng, nhận hiểu&nbsp;hư không&nbsp;là&nbsp;vô biên.&nbsp;Đạt đến&nbsp;không vô biên xứ.&nbsp;Bản ngã&nbsp;ấy ông không biết, ông không thấy.&nbsp;Bản ngã&nbsp;ấy tôi biết, tôi thấy.&nbsp;Bản ngã&nbsp;ấy khi thân hoại, bị hủy nát&nbsp;tiêu diệt,&nbsp;sau khi chết&nbsp;không còn nữa, nên&nbsp;bản ngã&nbsp;ấy như thế&nbsp;hoàn toàn&nbsp;đoạn diệt&#8221;. Như vậy có một số người chủ trương sự&nbsp;đoạn diệt, tiêu thất và hủy hoại của loài&nbsp;hữu tình.</p>



<p class="wp-block-paragraph">&nbsp;14. Một vị khác lại nói: &#8220;Này ông, thật có&nbsp;bản ngã&nbsp;ấy như ông nói. Tôi không nói&nbsp;bản ngã&nbsp;ấy không có. Nhưng&nbsp;bản ngã&nbsp;ấy như thế không bị&nbsp;hoàn toàn&nbsp;đoạn diệt. Lại còn một&nbsp;bản ngã&nbsp;khác vượt ngoài tất cả&nbsp;không vô biên xứ, nhận hiểu: Thức là&nbsp;vô biên.&nbsp;Đạt đến&nbsp;Thức vô biên xứ.&nbsp;Bản ngã&nbsp;ấy ông không biết, ông không thấy.&nbsp;Bản ngã&nbsp;ấy tôi biết, tôi thấy.&nbsp;Bản ngã&nbsp;ấy khi thân hoại, bị hủy nát,&nbsp;tiêu diệt,&nbsp;sau khi chết&nbsp;không còn nữa, nên&nbsp;bản ngã&nbsp;ấy như thế&nbsp;hoàn toàn&nbsp;đoạn diệt&#8221;. Như vậy có một số người chủ trương sự&nbsp;đoạn diệt, tiêu thất và hủy hoại của loài&nbsp;hữu tình.</p>



<p class="wp-block-paragraph">&nbsp;15. Một vị khác lại nói: &#8220;Này ông, thật có&nbsp;bản ngã&nbsp;ấy như ông nói. Tôi không nói&nbsp;bản ngã&nbsp;ấy không có. Nhưng&nbsp;bản ngã&nbsp;ấy như thế không bị&nbsp;hoàn toàn&nbsp;đoạn diệt. Lại còn một&nbsp;bản ngã&nbsp;khác vượt ngoài tất cả&nbsp;Thức vô biên xứ, nhận hiểu: không có&nbsp;sở hữu.&nbsp;Đạt đến&nbsp;Vô sở hữu xứ.&nbsp;Bản ngã&nbsp;ấy ông không biết, ông không thấy.&nbsp;Bản ngã&nbsp;ấy tôi biết, tôi thấy.&nbsp;Bản ngã&nbsp;ấy khi thân hoại bị hủy nát,&nbsp;tiêu diệt,&nbsp;sau khi chết&nbsp;không còn nữa, nên&nbsp;bản ngã&nbsp;ấy như thế&nbsp;hoàn toàn&nbsp;đoạn diệt&#8221;. Như vậy có một số người chủ trương sự&nbsp;đoạn diệt, tiêu thất và hủy hoại của loài&nbsp;hữu tình.</p>



<p class="wp-block-paragraph">&nbsp;16. Một vị khác lại nói: &#8220;Này ông, thật có&nbsp;bản ngã&nbsp;ấy như ông nói. Tôi không nói&nbsp;bản ngã&nbsp;ấy không có. Nhưng&nbsp;bản ngã&nbsp;ấy như thế không bị&nbsp;hoàn toàn&nbsp;đoạn diệt. Lại còn một&nbsp;bản ngã&nbsp;khác vượt ngoài tất cả&nbsp;Vô sở hữu xứ, nhận hiểu: Đây là&nbsp;tịch tịnh, đây là mỹ diệu.&nbsp;Đạt đến&nbsp;Phi tưởng Phi phi tưởng xứ.&nbsp;Bản ngã&nbsp;ấy ông không biết, ông không thấy.&nbsp;Bản ngã&nbsp;ấy tôi biết, tôi thấy.&nbsp;Bản ngã&nbsp;ấy khi thân hoại, bị hủy nát&nbsp;tiêu diệt,&nbsp;sau khi chết&nbsp;không còn nữa, nên&nbsp;bản ngã&nbsp;ấy như thế&nbsp;hoàn toàn&nbsp;đoạn diệt&#8221;. Như vậy có một số người chủ trương sự&nbsp;đoạn diệt, tiêu thất và hủy hoại của loài&nbsp;hữu tình.</p>



<p class="wp-block-paragraph">&nbsp;17. Này các Tỷ-kheo, những Sa-môn, Bà-la-môn ấy, chủ trương&nbsp;Đoạn diệt luận,&nbsp;chấp trước&nbsp;sự&nbsp;đoạn diệt, tiêu thất, hủy hoại của loài&nbsp;hữu tình&nbsp;với bảy luận chấp. Này các Tỷ-kheo, nếu có những vị Sa-môn hay Bà-la-môn nào chủ trương&nbsp;Đoạn diệt luận,&nbsp;chấp trước&nbsp;sự&nbsp;đoạn diệt, tiêu thất, hủy hoại của loài&nbsp;hữu tình, chúng chấp cả bảy luận chấp trên, hay một trong những luận chấp trên,&nbsp;ngoài ra&nbsp;không có luận chấp nào khác nữa.</p>



<p class="wp-block-paragraph">&nbsp;18. Này các Tỷ-kheo.&nbsp;Như Lai&nbsp;tuệ tri&nbsp;như thế này: &#8220;Những&nbsp;sở kiến&nbsp;ấy,&nbsp;chấp trước&nbsp;như vậy, sẽ đưa đến những cõi thú như vậy, sẽ&nbsp;tác thành&nbsp;những định mạng như vậy&#8221;.&nbsp;Như Lai&nbsp;tuệ tri. Như vậy, Ngài tuệ ti hơn thế nữa, và Ngài&nbsp;không chấp&nbsp;sở tri&nbsp;ấy. Nhờ&nbsp;không chấp&nbsp;trước&nbsp;sở tri&nbsp;ấy,&nbsp;nội tâm&nbsp;được&nbsp;tịch tịnh. Ngài&nbsp;như thật&nbsp;tuệ tri&nbsp;sự&nbsp;tập khởi, sự&nbsp;diệt trừ&nbsp;của các thọ, vị ngọt, những nguy hiểm và sự&nbsp;xuất ly&nbsp;của chúng. Nhờ&nbsp;tuệ tri&nbsp;như vậy, này các Tỷ-kheo,&nbsp;Như Lai&nbsp;được giải thoát&nbsp;hoàn toàn, không có&nbsp;chấp thủ. Những pháp ấy, này các Tỷ-kheo, là những pháp sâu kín, khó thấy, khó chứng,&nbsp;tịch tịnh, mỹ diệu, vượt ngoài tầm của luận lý suông,&nbsp;tế nhị, chỉ những người có trí mới có thể&nbsp;nhận biết. Những pháp ấy&nbsp;Như Lai&nbsp;tự chứng&nbsp;tri,&nbsp;giác ngộ&nbsp;và&nbsp;truyền thuyết: và chính những pháp ấy những ai&nbsp;như thật&nbsp;chân chánh&nbsp;tán thán&nbsp;Như Lai&nbsp;mới nói đến.</p>



<p class="wp-block-paragraph">&nbsp;19. Này các Tỷ-kheo, có một số Sa-môn, Bà-la-môn chủ trương&nbsp;Hiện tại&nbsp;Niết Bàn&nbsp;luận,&nbsp;chấp trước&nbsp;sự&nbsp;tối thượng&nbsp;hiện tại&nbsp;Niết Bàn&nbsp;của loài&nbsp;hữu tình&nbsp;với năm luận chấp. Và những Sa-môn, Bà-la-môn này,&nbsp;y chỉ&nbsp;gì, căn cứ gì, chủ trương&nbsp;Hiện tại&nbsp;Niết bàn&nbsp;luận,&nbsp;chấp sự&nbsp;tối thượng&nbsp;hiện tại&nbsp;Niết Bàn&nbsp;của loài&nbsp;hữu tình&nbsp;với năm luận chấp?</p>



<p class="wp-block-paragraph">&nbsp;20. Này các Tỷ-kheo, có Sa-môn hay Bà-la-môn chủ trương và&nbsp;quan niệm: &#8220;Khi nào&nbsp;bản ngã&nbsp;này tận hưởng,&nbsp;sung mãn&nbsp;năm món&nbsp;dục lạc, như thế&nbsp;bản ngã&nbsp;ấy&nbsp;đạt đến&nbsp;tối thượng&nbsp;Niết Bàn&nbsp;của loài hữu tình&#8221;.</p>



<p class="wp-block-paragraph">&nbsp;21. Một vị khác lại nói: &#8220;Này ông, thật có&nbsp;bản ngã&nbsp;ấy như ông nói. Tôi không nói&nbsp;bản ngã&nbsp;ấy không có. Nhưng&nbsp;bản ngã&nbsp;ấy như thế, không phải&nbsp;hoàn toàn&nbsp;đạt đến&nbsp;tối thượng&nbsp;Niết Bàn. Vì cớ sao? Vì rằng tính của&nbsp;dục lạc&nbsp;và&nbsp;vô thường, khổ,&nbsp;biến dịch. Vì tánh của chúng là&nbsp;biến dịch,&nbsp;chuyển hóa, nên ưu, bi, khổ, muộn, não phát sanh. Khi nào&nbsp;bản ngã&nbsp;ấy ly các&nbsp;dục lạc, ly các&nbsp;ác pháp,&nbsp;đạt đến&nbsp;và&nbsp;an trú&nbsp;vào&nbsp;đệ nhất thiền;&nbsp;thiền định&nbsp;này có tầm, có tứ, có hỷ và có lạc, do&nbsp;ly dục&nbsp;sanh. Như thế,&nbsp;bản ngã&nbsp;ấy&nbsp;đạt đến&nbsp;tối thượng&nbsp;hiện tại&nbsp;Niết Bàn&#8221;. Như vậy có người chủ trương&nbsp;tối thượng&nbsp;hiện tại&nbsp;Niết Bàn&nbsp;của loài&nbsp;hữu tình.</p>



<p class="wp-block-paragraph">&nbsp;22. Một vị khác lại nói: &#8220;Này ông, thật có&nbsp;bản ngã&nbsp;ấy như ông nói. Tôi không nói&nbsp;bản ngã&nbsp;ấy không có. Nhưng&nbsp;bản ngã&nbsp;ấy như thế, không phải&nbsp;hoàn toàn&nbsp;đạt đến&nbsp;tối thượng&nbsp;hiện tại&nbsp;Niết Bàn. Vì cớ sao? Vì ở đây&nbsp;thiền định&nbsp;ấy có tầm, có tứ nên gọi là thô tháo. Khi nào&nbsp;bản ngã&nbsp;ấy có tầm và tứ,&nbsp;đạt đến&nbsp;và&nbsp;an trú&nbsp;đệ nhị thiền.&nbsp;Thiền định&nbsp;này&nbsp;nội tâm&nbsp;yên tỉnh, trí&nbsp;chuyên nhất&nbsp;cảnh, không tầm, không tứ,&nbsp;hỷ lạc&nbsp;do định sanh. Như thế,&nbsp;bản ngã&nbsp;ấy&nbsp;đạt đến&nbsp;tối thượng&nbsp;hiện tại&nbsp;Niết Bàn&#8221;. Như vậy có người chủ trương&nbsp;tối thượng&nbsp;hiện tại&nbsp;Niết Bàn&nbsp;của loài&nbsp;hữu tình.</p>



<p class="wp-block-paragraph">&nbsp;23. Một vị khác lại nói: &#8220;Này ông, thật có&nbsp;bản ngã&nbsp;ấy như ông nói. Tôi không nói&nbsp;bản ngã&nbsp;ấy không có. Nhưng&nbsp;bản ngã&nbsp;ấy như thế, không phải&nbsp;hoàn toàn&nbsp;đạt đến&nbsp;tối thượng&nbsp;hiện tại&nbsp;Niết Bàn. Vì cớ sao? Vì ở đây&nbsp;tâm trí&nbsp;có hỷ và bị kích động nên gọi là thô tháo. Khi nào&nbsp;bản ngã&nbsp;ấy không tham hỷ, trú xã,&nbsp;chánh niệm,&nbsp;chánh trí, thân hưởng lạc mà các bậc thánh gọi là Hỷ niệm lạc trú &#8211;&nbsp;đạt đến&nbsp;và&nbsp;an trú&nbsp;đệ tam thiền. Như thế,&nbsp;bản ngã&nbsp;ấy&nbsp;đạt đến&nbsp;tối thượng&nbsp;hiện tại&nbsp;Niết Bàn&#8221;. Như vậy, có người chủ trương&nbsp;tối thượng&nbsp;hiện tại&nbsp;Niết Bàn&nbsp;của loài&nbsp;hữu tình.</p>



<p class="wp-block-paragraph">&nbsp;24. Một vị khác lại nói: &#8220;Này ông, thật có&nbsp;bản ngã&nbsp;ấy như ông nói. Tôi không nói&nbsp;bản ngã&nbsp;ấy không có. Nhưng&nbsp;bản ngã&nbsp;ấy như thế, không phải&nbsp;hoàn toàn&nbsp;đạt đến&nbsp;tối thượng&nbsp;hiện tại&nbsp;Niết bàn. Vì cớ sao? Vì ở đây tâm&nbsp;thọ lạc&nbsp;nên gọi là thô tháo. Khi nào&nbsp;bản ngã&nbsp;ấy xả lạc và xả khổ,&nbsp;diệt trừ&nbsp;hỷ và ưu về trước,&nbsp;đạt đến&nbsp;và&nbsp;an trú&nbsp;vào&nbsp;đệ tứ thiền. Thiền này không khổ, không lạc, xả niệm&nbsp;thanh tịnh. Như thế,&nbsp;bản ngã&nbsp;ấy&nbsp;đạt đến&nbsp;tối thượng&nbsp;hiện tại&nbsp;Niết Bàn&#8221;. Như vậy có người chủ trương&nbsp;tối thượng&nbsp;hiện tại&nbsp;Niết Bàn&nbsp;của loài&nbsp;hữu tình.</p>



<p class="wp-block-paragraph">&nbsp;25. Này các Tỷ-kheo, những Sa-môn, Bà-la-môn ấy chủ trương&nbsp;Hiện tại&nbsp;Niết-bàn luận,&nbsp;chấp trước&nbsp;sự&nbsp;tối thượng&nbsp;hiện tại&nbsp;Niết Bàn&nbsp;của loài&nbsp;hữu tình&nbsp;với năm luận chấp. Này các Tỷ-kheo, nếu có những Sa-môn, Bà-la-môn nào chủ trương&nbsp;Hiện tại&nbsp;Niết-bàn luận,&nbsp;chấp sự&nbsp;tối thượng&nbsp;hiện tại&nbsp;Niết Bàn&nbsp;của loài&nbsp;hữu tình, những vị này sẽ chấp cả năm luận chấp trên, hay một trong năm luận chấp trên,&nbsp;ngoài ra&nbsp;không còn một luận chấp nào khác nữa.</p>



<p class="wp-block-paragraph">&nbsp;26. Này các Tỷ-kheo,&nbsp;Như Lai&nbsp;tuệ tri&nbsp;như thế này: &#8220;Những&nbsp;sở kiến&nbsp;ấy,&nbsp;chấp trước&nbsp;như vậy sẽ đưa đến những cõi thú như vậy, sẽ&nbsp;tác thành&nbsp;những định mạng như vậy&#8221;.&nbsp;Như Lai&nbsp;tuệ tri&nbsp;như vậy. Ngài&nbsp;tuệ tri&nbsp;hơn thế nữa, và Ngài&nbsp;không chấp&nbsp;sở tri&nbsp;ấy. Nhờ&nbsp;không chấp&nbsp;trước&nbsp;sở tri&nbsp;ấy,&nbsp;nội tâm&nbsp;được&nbsp;tịch tịnh. Ngài&nbsp;như thật&nbsp;tuệ tri&nbsp;sự&nbsp;tập khởi, sự&nbsp;diệt trừ&nbsp;của các thọ, vị ngọt, những nguy hiểm và sự&nbsp;xuất ly&nbsp;của chúng. Nhờ&nbsp;tuệ tri&nbsp;như vậy, này các Tỷ-kheo,&nbsp;Như Lai&nbsp;được giải thoát&nbsp;hoàn toàn&nbsp;không có&nbsp;chấp thủ. Những pháp ấy, này các Tỷ-kheo, là những pháp sâu kín, khó thấy, khó chứng,&nbsp;tịch tịnh, mỹ diệu, vượt ngoài tầm của luận lý suông,&nbsp;tế nhị, chỉ những người có trí mới có thể&nbsp;nhận biết. Những pháp ấy&nbsp;Như Lai&nbsp;tự chứng&nbsp;tri,&nbsp;giác ngộ&nbsp;và&nbsp;truyền thuyết; và chính những pháp ấy những ai&nbsp;như thật&nbsp;chân chánh&nbsp;tán thán&nbsp;Như Lai&nbsp;mới nói đến.</p>



<p class="wp-block-paragraph">&nbsp;27. Này các Tỷ-kheo, những Sa-môn, Bà-la-môn ấy&nbsp;luận bàn&nbsp;về tương lai,&nbsp;chấp kiến&nbsp;về tương lai,&nbsp;y cứ&nbsp;về tương lai, sẽ&nbsp;đề xướng&nbsp;nhiều&nbsp;sở kiến&nbsp;sai khác với bốn mươi bốn luận chấp. Này các Tỷ-kheo, những Sa-môn hay Bà-la-môn nào,&nbsp;luận bàn&nbsp;về tương lai,&nbsp;chấp kiến&nbsp;về tương lai,&nbsp;y cứ&nbsp;về tương lai,&nbsp;đề xướng&nbsp;nhiều&nbsp;sở kiến&nbsp;sai khác. Chúng sẽ chấp bốn mươi bốn luận chấp trên, hay một trong những luận chấp trên,&nbsp;ngoài ra&nbsp;không có luận chấp nào khác nữa.</p>



<p class="wp-block-paragraph">&nbsp;28. Này các Tỷ-kheo,&nbsp;Như Lai&nbsp;tuệ tri&nbsp;như thế này: &#8220;Những&nbsp;sở kiến&nbsp;ấy,&nbsp;chấp trước&nbsp;như vậy, sẽ đưa đến những cõi thú như vậy, sẽ&nbsp;tác thành&nbsp;những định mạng như vậy&#8221;.&nbsp;Như Lai&nbsp;tuệ tri&nbsp;như vậy. Ngài&nbsp;tuệ tri&nbsp;hơn thế nữa, và Ngài&nbsp;không chấp&nbsp;sở tri&nbsp;ấy. Nhờ&nbsp;không chấp&nbsp;trước&nbsp;sở tri&nbsp;ấy,&nbsp;nội tâm&nbsp;được&nbsp;tịch tịnh. Ngài&nbsp;như thật&nbsp;tuệ tri&nbsp;sư&nbsp;tập khởi, sự&nbsp;diệt trừ&nbsp;của các thọ, vị ngọt, những nguy hiểm và sự&nbsp;xuất ly&nbsp;của chúng. Nhờ&nbsp;tuệ tri&nbsp;như vậy, này các Tỷ-kheo,&nbsp;Như Lai&nbsp;được giải thoát&nbsp;hoàn toàn, không có&nbsp;chấp thủ.</p>



<p class="wp-block-paragraph">&nbsp;29. Này các Tỷ-kheo, những Sa-môn, Bà-la-môn ấy&nbsp;luận bàn&nbsp;về&nbsp;quá khứ&nbsp;tối sơ và&nbsp;luận bàn&nbsp;về tương lai,&nbsp;luận bàn&nbsp;về&nbsp;quá khứ&nbsp;tối sơ và tương lai,&nbsp;chấp kiến&nbsp;về&nbsp;quá khứ&nbsp;tối sơ và tương lai,&nbsp;y cứ&nbsp;về&nbsp;quá khứ&nbsp;tối sơ và tương lai,&nbsp;đề xướng&nbsp;nhiều&nbsp;sở kiến&nbsp;sai khác với sáu mươi hai luận chấp. Này các Tỷ-kheo, những Sa-môn hay Bà-la-môn nào,&nbsp;luận bàn&nbsp;về&nbsp;quá khứ&nbsp;tối sơ,&nbsp;luận bàn&nbsp;về tương lai,&nbsp;luận bàn&nbsp;về&nbsp;quá khứ&nbsp;tối sơ và tương lai,&nbsp;chấp kiến&nbsp;về&nbsp;quá khứ&nbsp;tối sơ và tương lai,&nbsp;y cứ&nbsp;về&nbsp;quá khứ&nbsp;tối sơ và tương lai,&nbsp;đề xướng&nbsp;nhiều&nbsp;sở kiến&nbsp;sai khác. Những vị ấy sẽ chấp sáu mươi hai luận chấp trên, hay một trong những luận chấp trên,&nbsp;ngoài ra&nbsp;không có luận chấp nào khác nữa.</p>



<p class="wp-block-paragraph">&nbsp;30. Này các Tỷ-kheo,&nbsp;Như Lai&nbsp;tuệ tri&nbsp;như thế này: &#8220;Những&nbsp;sở kiến&nbsp;ấy,&nbsp;chấp trước&nbsp;như vậy, sẽ đưa đến những cõi thú như vậy, sẽ&nbsp;tác thành&nbsp;những&nbsp;định mệnh&nbsp;như vậy&#8221;.&nbsp;Như Lai&nbsp;tuệ tri&nbsp;như vậy. Ngài&nbsp;tuệ tri&nbsp;hơn thế nữa, và Ngài&nbsp;không chấp&nbsp;sở tri&nbsp;ấy. Nhờ&nbsp;không chấp&nbsp;trước&nbsp;sở tri&nbsp;ấy,&nbsp;nội tâm&nbsp;được&nbsp;tịch tịnh. Ngài&nbsp;như thật&nbsp;tuệ tri&nbsp;sự&nbsp;tập khởi&nbsp;sự&nbsp;diệt trừ&nbsp;của các thọ, vị ngọt, những nguy hiểm và sự&nbsp;xuất ly&nbsp;của chúng. Nhờ&nbsp;tuệ tri&nbsp;như vậy, này các Tỷ-kheo,&nbsp;Như Lai&nbsp;được giải thoát&nbsp;hoàn toàn, không có&nbsp;chấp thủ.</p>



<p class="wp-block-paragraph">&nbsp;31. Những pháp ấy, này các Tỷ-kheo, là những pháp sâu kín, khó thấy, khó chứng,&nbsp;tịch tịnh, mỹ diệu, vượt ngoài tầm của luận lý suông,&nbsp;tế nhị, chỉ những người có trí mới có thể&nbsp;nhận biết. Những pháp ấy&nbsp;Như Lai&nbsp;tự chứng&nbsp;tri,&nbsp;giác ngộ&nbsp;và&nbsp;tuyên thuyết, và chính những pháp ấy những ai&nbsp;như thật&nbsp;chân chánh&nbsp;tán thán&nbsp;Như Lai&nbsp;mới nói đến.</p>



<p class="wp-block-paragraph">&nbsp;Kết luận</p>



<p class="wp-block-paragraph">&nbsp;32. Này các Tỷ-kheo, ở đây có những Sa-môn, Bà-la-môn chủ trương Thường trú luận, chấp&nbsp;bản ngã&nbsp;và&nbsp;thế giới&nbsp;là thường trú với bốn luận chấp. Chủ trương ấy là&nbsp;kinh nghiệm&nbsp;cá nhân, là sự không biết, không thấy, sự&nbsp;cảm thọ&nbsp;của những Sa-môn, Bà-la-môn, là sự&nbsp;kích thích,&nbsp;dao động,&nbsp;xuyên tạc&nbsp;của những vị bị&nbsp;tham ái&nbsp;chi phối.</p>



<p class="wp-block-paragraph">&nbsp;33. Này các Tỷ-kheo, ở đây có những Sa-môn, Bà-la-môn chủ trương một phần Thường trú luận, một phần&nbsp;Vô thường&nbsp;luận, chấp&nbsp;bản ngã&nbsp;và&nbsp;thế giới&nbsp;là thường còn đối với một hạng&nbsp;hữu tình&nbsp;và&nbsp;vô thường&nbsp;đối với một hạng&nbsp;hữu tình&nbsp;khác với bốn luận chấp. Chủ trương ấy là&nbsp;kinh nghiệm&nbsp;cá nhân, là sự không biết, không thấy, sự&nbsp;cảm thọ&nbsp;của những Sa-môn, Bà-la-môn, là sự&nbsp;kích thích,&nbsp;dao động,&nbsp;xuyên tạc&nbsp;của những vị bị&nbsp;tham ái&nbsp;chi phối.</p>



<p class="wp-block-paragraph">&nbsp;34. Này các Tỷ-kheo, ở đây có những Sa-môn, Bà-la-môn chủ trương&nbsp;Hữu biên Vô biên luận, chấp&nbsp;thế giới&nbsp;là&nbsp;hữu biên&nbsp;vô biên&nbsp;với bốn luận chấp. Chủ trương ấy là&nbsp;kinh nghiệm&nbsp;cá nhân, là sự không biết, không thấy, sự&nbsp;cảm thọ&nbsp;của những Sa-môn, Bà-la-môn, là sự&nbsp;kích thích&nbsp;dao động,&nbsp;xuyên tạc&nbsp;của những vị bị&nbsp;tham ái&nbsp;chi phối.</p>



<p class="wp-block-paragraph">&nbsp;35. Này các Tỷ-kheo, ở đây có những Sa-môn, Bà-la-môn chủ trương&nbsp;Ngụy biện luận. Khi bị hỏi&nbsp;vấn đề&nbsp;này hay&nbsp;vấn đề&nbsp;khác dùng những lời&nbsp;ngụy biện&nbsp;trườn uốn như con lươn với bốn luận chấp. Chủ trương ấy là&nbsp;kinh nghiệm&nbsp;cá nhân, là sự không biết, không thấy, sự&nbsp;cảm thọ&nbsp;của những Sa-môn, Bà-la-môn, là sự&nbsp;kích thích,&nbsp;dao động,&nbsp;xuyên tạc&nbsp;của những vị bị&nbsp;tham ái&nbsp;chi phối.</p>



<p class="wp-block-paragraph">&nbsp;36. Này các Tỷ-kheo, ở đây có những Sa-môn, Bà-la-môn, chủ trương&nbsp;Vô nhân&nbsp;luận, chấp&nbsp;bản ngã&nbsp;và&nbsp;thế giới&nbsp;do&nbsp;vô nhân&nbsp;sanh với hai luận chấp. Chủ trương ấy là&nbsp;kinh nghiệm&nbsp;cá nhân, là sự không biết không thấy, sự&nbsp;cảm thọ&nbsp;của những Sa-môn, Bà-la-môn, là sự&nbsp;kích thích,&nbsp;dao động,&nbsp;xuyên tạc&nbsp;của những vị bị&nbsp;tham ái&nbsp;chi phối.</p>



<p class="wp-block-paragraph">&nbsp;37. Này các Tỷ-kheo, ở đây có những Sa-môn, Bà-la-môn,&nbsp;luận bàn&nbsp;về&nbsp;quá khứ&nbsp;tối sơ,&nbsp;chấp kiến&nbsp;về&nbsp;quá khứ&nbsp;tối sơ,&nbsp;y cứ&nbsp;về&nbsp;quá khứ&nbsp;tối sơ,&nbsp;đề xướng&nbsp;nhiều&nbsp;ý kiến&nbsp;sai khác với mười tám luận chấp. Chủ trương ấy là&nbsp;kinh nghiệm&nbsp;cá nhân, là sự không biết, không thấy, sự&nbsp;cảm thọ&nbsp;của những Sa-môn, Bà-la-môn, là sự&nbsp;kích thích,&nbsp;dao động,&nbsp;xuyên tạc&nbsp;của những vị bị&nbsp;tham ái&nbsp;chi phối.</p>



<p class="wp-block-paragraph">&nbsp;38. Này các Tỷ-kheo, ở đây có những Sa-môn, Bà-la-môn chủ trương&nbsp;Hữu tưởng luận&nbsp;sau khi chết, chấp&nbsp;bản ngã&nbsp;có tưởng&nbsp;sau khi chết&nbsp;với mười sáu luận chấp. Chủ trương ấy là&nbsp;kinh nghiệm&nbsp;cá nhân, là sự không biết, không thấy, sự&nbsp;cảm thọ&nbsp;của những Sa-môn, Bà-la-môn, là sự&nbsp;kích thích,&nbsp;dao động&nbsp;xuyên tạc&nbsp;của những vị bị&nbsp;tham ái&nbsp;chi phối.</p>



<p class="wp-block-paragraph">&nbsp;39. Này các Tỷ-kheo, ở đây có những Sa-môn, Bà-la-môn chủ trương&nbsp;Vô tưởng luận&nbsp;sau khi chết, chấp&nbsp;bản ngã&nbsp;không có tưởng&nbsp;sau khi chết&nbsp;với tám luận chấp. Chủ trương ấy là&nbsp;kinh nghiệm&nbsp;cá nhân, là sự không biết, không thấy, sự&nbsp;cảm thọ&nbsp;của những Sa-môn, Bà-la-môn, là sự&nbsp;kích thích,&nbsp;dao động,&nbsp;xuyên tạc&nbsp;của những vị bị&nbsp;tham ái&nbsp;chi phối.</p>



<p class="wp-block-paragraph">&nbsp;40. Này các Tỷ-kheo, ở đây có những Sa-môn, Bà-la-môn chủ trương&nbsp;Phi Hữu&nbsp;tưởng Phi&nbsp;Vô tưởng&nbsp;sau khi chết, chấp&nbsp;bản ngã&nbsp;phi hữu&nbsp;tưởng phi&nbsp;vô tưởng&nbsp;sau khi chết&nbsp;với tám luận chấp. Chủ trương ấy là&nbsp;kinh nghiệm&nbsp;cá nhân, là sự không biết, không thấy, sự&nbsp;cảm thọ&nbsp;của những Sa-môn, Bà-la-môn, là sự&nbsp;kích thích,&nbsp;dao động,&nbsp;xuyên tạc&nbsp;của những vị bị&nbsp;tham ái&nbsp;chi phối.</p>



<p class="wp-block-paragraph">&nbsp;41. Này các Tỷ-kheo, ở đây có những Sa-môn, Bà-la-môn chủ trương&nbsp;Đoạn diệt luận,&nbsp;chấp trước&nbsp;sự&nbsp;đoạn diệt, tiêu mất, hủy hoại của loài&nbsp;hữu tình&nbsp;với bảy luận chấp. Chủ trương ấy là&nbsp;kinh nghiệm&nbsp;cá nhân, là sự không biết, không thấy, sự&nbsp;cảm thọ&nbsp;của những Sa-môn, Bà-la-môn, là sự&nbsp;kích thích,&nbsp;dao động,&nbsp;xuyên tạc&nbsp;của những vị bị&nbsp;tham ái&nbsp;chi phối.</p>



<p class="wp-block-paragraph">&nbsp;42. Này các Tỷ-kheo, ở đây có những Sa-môn, Bà-la-môn chủ trương&nbsp;Hiện tại&nbsp;Niết Bàn&nbsp;luận,&nbsp;chấp trước&nbsp;sự&nbsp;hiện tại&nbsp;Niết Bàn&nbsp;của loài&nbsp;hữu tình&nbsp;với năm luận chấp. Chủ trương ấy là&nbsp;kinh nghiệm&nbsp;cá nhân, là sự không biết, không thấy, sự&nbsp;cảm thọ&nbsp;của những Sa-môn, Bà-la-môn, là sự&nbsp;kích thích,&nbsp;dao động,&nbsp;xuyên tạc&nbsp;của những vị bị&nbsp;tham ái&nbsp;chi phối.</p>



<p class="wp-block-paragraph">&nbsp;43. Này các Tỷ-kheo, ở đây có những Sa-môn, Bà-la-môn,&nbsp;luận bàn&nbsp;về tương lai,&nbsp;chấp kiến&nbsp;về tương lai,&nbsp;y cứ&nbsp;về tương lai,&nbsp;đề xướng&nbsp;nhiều&nbsp;sở kiến&nbsp;sai khác với bốn mươi bốn luận chấp. Chủ trương ấy là&nbsp;kinh nghiệm&nbsp;cá nhân, là sự không biết, không thấy, sự&nbsp;cảm thọ&nbsp;của những Sa-môn, Bà-la-môn, là sự&nbsp;kích thích,&nbsp;dao động,&nbsp;xuyên tạc&nbsp;của những vị bị&nbsp;tham ái&nbsp;chi phối.</p>



<p class="wp-block-paragraph">&nbsp;44. Này các Tỷ-kheo, ở đây có những Sa-môn, Bà-la-môn,&nbsp;luận bàn&nbsp;về&nbsp;quá khứ&nbsp;tối sơ,&nbsp;luận bàn&nbsp;về tương lai,&nbsp;luận bàn&nbsp;về&nbsp;quá khứ&nbsp;tối sơ và tương lai,&nbsp;chấp kiến&nbsp;về&nbsp;quá khứ&nbsp;tối sơ và tương lai,&nbsp;y cứ&nbsp;về&nbsp;quá khứ&nbsp;tối sơ và tương lai,&nbsp;đề xướng&nbsp;nhiều&nbsp;sở kiến&nbsp;sai khác với sáu mươi hai luận chấp. Chủ trương ấy là&nbsp;kinh nghiệm&nbsp;cá nhân, là sự không biết, không thấy, sự&nbsp;cảm thọ&nbsp;của những Sa-môn, Bà-la-môn, là sự&nbsp;kích thích,&nbsp;dao động,&nbsp;xuyên tạc&nbsp;của những vị bị&nbsp;tham ái&nbsp;chi phối.</p>



<p class="wp-block-paragraph">&nbsp;45. Này các Tỷ-kheo, ở đây có những Sa-môn, Bà-la-môn, chủ trương Thường trú luận, chấp&nbsp;bản ngã&nbsp;và&nbsp;thế giới&nbsp;là thường trú với bốn luận chấp. Chủ trương ấy&nbsp;phát khởi&nbsp;do sự xúc chạm (của các căn).</p>



<p class="wp-block-paragraph">&nbsp;46. Này các Tỷ-kheo, ở đây có những Sa-môn, Bà-la-môn chủ trương một phần Thường trú luận, một phần&nbsp;Vô thường&nbsp;luận, chấp&nbsp;bản ngã&nbsp;và&nbsp;thế giới&nbsp;là thường còn đối với một hạng&nbsp;hữu tình&nbsp;và&nbsp;vô thường&nbsp;đối với một hạng&nbsp;hữu tình&nbsp;khác với bốn luận chấp. Chủ trương ấy&nbsp;phát khởi&nbsp;do sự xúc chạm (của các căn).</p>



<p class="wp-block-paragraph">&nbsp;47. Này các Tỷ-kheo, ở đây có những Sa-môn, Bà-la-môn chủ trương&nbsp;Hữu biên Vô biên luận, chấp&nbsp;thế giới&nbsp;là&nbsp;hữu biên&nbsp;vô biên&nbsp;với bốn luận chấp. Chủ trương ấy&nbsp;phát khởi&nbsp;do sự xúc chạm (của các căn).</p>



<p class="wp-block-paragraph">&nbsp;48. Này các Tỷ-kheo, ở đây có những Sa-môn, Bà-la-môn chủ trương&nbsp;Ngụy biện luận. Khi bị hỏi&nbsp;vấn đề&nbsp;này hay&nbsp;vấn đề&nbsp;khác dùng những lời&nbsp;ngụy biện&nbsp;trườn uốn như con lươn với bốn luận chấp. Chủ trương ấy&nbsp;phát khởi&nbsp;là do sự xúc chạm (của các căn).</p>



<p class="wp-block-paragraph">&nbsp;49. Này các Tỷ-kheo, ở đây có những Sa-môn, Bà-la-môn, chủ trương&nbsp;Vô nhân&nbsp;luận, chấp&nbsp;bản ngã&nbsp;và&nbsp;thế giới&nbsp;do&nbsp;vô nhân&nbsp;sanh với hai luận chấp. Chủ trương ấy&nbsp;phát khởi&nbsp;do sự xúc chạm (của các căn).</p>



<p class="wp-block-paragraph">&nbsp;50. Này các Tỷ-kheo, ở đây có những Sa-môn, Bà-la-môn,&nbsp;luận bàn&nbsp;về&nbsp;quá khứ&nbsp;tối sơ,&nbsp;chấp kiến&nbsp;về&nbsp;quá khứ&nbsp;tối sơ,&nbsp;y chỉ&nbsp;về&nbsp;quá khứ&nbsp;tối sơ,&nbsp;đề xướng&nbsp;nhiều&nbsp;ý kiến&nbsp;sai khác với mười tám luận chấp. Chủ trương ấy&nbsp;phát khởi&nbsp;do sự xúc chạm (của các căn).</p>



<p class="wp-block-paragraph">&nbsp;51. Này các Tỷ-kheo, ở đây có những Sa-môn, Bà-la-môn chủ trương&nbsp;Hữu tưởng luận&nbsp;sau khi chết, chấp&nbsp;bản ngã&nbsp;có tưởng&nbsp;sau khi chết&nbsp;với mười sáu luận chấp. Chủ trương ấy&nbsp;phát khởi&nbsp;do sự xúc chạm (của các căn).</p>



<p class="wp-block-paragraph">&nbsp;52. Này các Tỷ-kheo, ở đây có những Sa-môn, Bà-la-môn chủ trương&nbsp;Vô tưởng luận&nbsp;sau khi chết, chấp&nbsp;bản ngã&nbsp;không có tưởng&nbsp;sau khi chết&nbsp;với tám luận chấp. Chủ trương ấy&nbsp;phát khởi&nbsp;do sự xúc chạm (của các căn).</p>



<p class="wp-block-paragraph">&nbsp;53. Này các Tỷ-kheo, ở đây có những Sa-môn, Bà-la-môn chủ trương&nbsp;Phi Hữu tưởng Phi Vô tưởng luận&nbsp;sau khi chết, chấp&nbsp;bản ngã&nbsp;phi hữu&nbsp;tưởng phi&nbsp;vô tưởng&nbsp;sau khi chết&nbsp;với tám luận chấp. Chủ trương ấy&nbsp;phát khởi&nbsp;do sự xúc chạm (của các căn).</p>



<p class="wp-block-paragraph">&nbsp;54. Này các Tỷ-kheo, ở đây có những Sa-môn, Bà-la-môn chủ trương&nbsp;Đoạn diệt luận,&nbsp;chấp trước&nbsp;sự&nbsp;đoạn diệt, tiêu mất, hủy hoại của loài&nbsp;hữu tình&nbsp;với bảy luận chấp. Chủ trương ấy&nbsp;phát khởi&nbsp;do sự xúc chạm (của các căn).</p>



<p class="wp-block-paragraph">&nbsp;55. Này các Tỷ-kheo, ở đây có những Sa-môn, Bà-la-môn chủ trương&nbsp;Hiện tại&nbsp;Niết bàn&nbsp;luận,&nbsp;chấp trước&nbsp;sự&nbsp;hiện tại&nbsp;Niết Bàn&nbsp;của loài&nbsp;hữu tình&nbsp;với năm luận chấp. Chủ trương ấy&nbsp;phát khởi&nbsp;do sự xúc chạm (của các căn).</p>



<p class="wp-block-paragraph">&nbsp;56. Này các Tỷ-kheo, ở đây có những Sa-môn, Bà-la-môn,&nbsp;luận bàn&nbsp;về tương lai,&nbsp;chấp kiến&nbsp;về tương lai,&nbsp;y cứ&nbsp;về tương lai,&nbsp;đề xướng&nbsp;nhiều&nbsp;sở kiến&nbsp;sai khác với bốn mươi bốn luận chấp. Chủ trương ấy&nbsp;phát khởi&nbsp;do sự xúc chạm (của các căn).</p>



<p class="wp-block-paragraph">&nbsp;57. Này các Tỷ-kheo, ở đây có những Sa-môn, Bà-la-môn,&nbsp;luận bàn&nbsp;về&nbsp;quá khứ&nbsp;tối sơ,&nbsp;luận bàn&nbsp;về tương lai,&nbsp;luận bàn&nbsp;về&nbsp;quá khứ&nbsp;tối sơ và tương lai,&nbsp;chấp kiến&nbsp;về&nbsp;quá khứ&nbsp;tối sơ và tương lai,&nbsp;y cứ&nbsp;về&nbsp;quá khứ&nbsp;tối sơ và tương lai,&nbsp;đề xướng&nbsp;nhiều&nbsp;sở kiến&nbsp;sai khác với sáu mươi hai luận chấp. Chủ trương ấy&nbsp;phát khởi&nbsp;do sự xúc chạm (của các căn).</p>



<p class="wp-block-paragraph">&nbsp;58. Này các Tỷ-kheo, ở đây có những Sa-môn, Bà-la-môn, chủ trương Thường trú luận, chấp&nbsp;bản ngã&nbsp;và&nbsp;thế giới&nbsp;là thường còn với bốn luận chấp. Những vị này không có thể&nbsp;cảm thọ&nbsp;những chủ trương trên,&nbsp;nếu không&nbsp;có&nbsp;cảm xúc.</p>



<p class="wp-block-paragraph">&nbsp;59. Này các Tỷ-kheo, ở đây có những Sa-môn, Bà-la-môn chủ trương một phần Thường trú luận, một phần&nbsp;Vô thường&nbsp;luận, chấp&nbsp;bản ngã&nbsp;và&nbsp;thế giới, là thường còn đối với một hạng&nbsp;hữu tình&nbsp;và&nbsp;vô thường&nbsp;đối với một hạng&nbsp;hữu tình&nbsp;khác với bốn luận chấp. Những vị này không có thể&nbsp;cảm thọ&nbsp;những chủ trương trên,&nbsp;nếu không&nbsp;có&nbsp;cảm xúc.</p>



<p class="wp-block-paragraph">&nbsp;60. Này các Tỷ-kheo, ở đây có những Sa-môn, Bà-la-môn chủ trương&nbsp;Hữu biên Vô biên luận, chấp&nbsp;thế giới&nbsp;là&nbsp;hữu biên&nbsp;vô biên&nbsp;với bốn luận chấp. Những vị này không có thể&nbsp;cảm thọ&nbsp;những chủ trương trên,&nbsp;nếu không&nbsp;có&nbsp;cảm xúc.</p>



<p class="wp-block-paragraph">&nbsp;61. Này các Tỷ-kheo, ở đây có những Sa-môn, Bà-la-môn chủ trương&nbsp;Ngụy biện luận. Khi bị hỏi&nbsp;vấn đề&nbsp;này hay&nbsp;vấn đề&nbsp;khác dùng những lời&nbsp;ngụy biện&nbsp;trườn uốn như con lươn với bốn luận chấp. Những vị này không có thể&nbsp;cảm thọ&nbsp;những chủ trương trên,&nbsp;nếu không&nbsp;có&nbsp;cảm xúc.</p>



<p class="wp-block-paragraph">&nbsp;62. Này các Tỷ-kheo, ở đây có những Sa-môn, Bà-la-môn, chủ trương&nbsp;Vô nhân&nbsp;luận, chấp&nbsp;bản ngã&nbsp;và&nbsp;thế giới&nbsp;do&nbsp;vô nhân&nbsp;sanh với hai luận chấp. Các vị này không có thể&nbsp;cảm thọ&nbsp;những chủ trương trên,&nbsp;nếu không&nbsp;có&nbsp;cảm xúc.</p>



<p class="wp-block-paragraph">&nbsp;63. Này các Tỷ-kheo, ở đây có những Sa-môn, Bà-la-môn,&nbsp;luận bàn&nbsp;về&nbsp;quá khứ&nbsp;tối sơ,&nbsp;chấp kiến&nbsp;về&nbsp;quá khứ&nbsp;tối sơ,&nbsp;y chỉ&nbsp;về&nbsp;quá khứ&nbsp;tối sơ,&nbsp;đề xướng&nbsp;nhiều&nbsp;ý kiến&nbsp;sai khác với mười tám luận chấp. Những vị này không có thể&nbsp;cảm thọ&nbsp;những chủ trương trên,&nbsp;nếu không&nbsp;có&nbsp;cảm xúc.</p>



<p class="wp-block-paragraph">&nbsp;64. Này các Tỷ-kheo, ở đây có những Sa-môn, Bà-la-môn chủ trương&nbsp;Hữu tưởng luận&nbsp;sau khi chết, chấp&nbsp;bản ngã&nbsp;có tưởng&nbsp;sau khi chết&nbsp;với mười sáu luận chấp. Các vị này không có thể&nbsp;cảm thọ&nbsp;những chủ trương trên,&nbsp;nếu không&nbsp;có&nbsp;cảm xúc.</p>



<p class="wp-block-paragraph">&nbsp;65. Này các Tỷ-kheo, ở đây có những Sa-môn, Bà-la-môn chủ trương&nbsp;Vô tưởng luận&nbsp;sau khi chết, chấp&nbsp;bản ngã&nbsp;không có tưởng&nbsp;sau khi chết&nbsp;với tám luận chấp. Các vị này không có thể&nbsp;cảm thọ&nbsp;những chủ trương trên,&nbsp;nếu không&nbsp;có&nbsp;cảm xúc.</p>



<p class="wp-block-paragraph">&nbsp;66. Này các Tỷ-kheo, ở đây có những Sa-môn, Bà-la-môn chủ trương&nbsp;Phi Hữu&nbsp;tưởng Phi&nbsp;Vô tưởng&nbsp;sau khi chết, chấp&nbsp;bản ngã&nbsp;phi hữu&nbsp;tưởng phi&nbsp;vô tưởng&nbsp;sau khi chết&nbsp;với tám luận chấp. Các vị này không có thể&nbsp;cảm thọ&nbsp;những chủ trương trên,&nbsp;nếu không&nbsp;có&nbsp;cảm xúc.</p>



<p class="wp-block-paragraph">&nbsp;67. Này các Tỷ-kheo, ở đây có những Sa-môn, Bà-la-môn chủ trương&nbsp;Đoạn diệt luận,&nbsp;chấp trước&nbsp;sự&nbsp;đoạn diệt, tiêu mất, hủy hoại của loài&nbsp;hữu tình&nbsp;với bảy luận chấp. Các vị này không có thể&nbsp;cảm thọ&nbsp;những chủ trương, trên,&nbsp;nếu không&nbsp;có&nbsp;cảm xúc.</p>



<p class="wp-block-paragraph">&nbsp;68. Này các Tỷ-kheo, ở đây có những Sa-môn, Bà-la-môn chủ trương&nbsp;Hiện tại&nbsp;Niết Bàn&nbsp;luận,&nbsp;chấp trước&nbsp;hiên tại&nbsp;Niết Bàn&nbsp;của loài&nbsp;hữu tình&nbsp;với năm luận chấp. Các vị này không có thể&nbsp;cảm thọ&nbsp;những chủ trương trên,&nbsp;nếu không&nbsp;có&nbsp;cảm xúc.</p>



<p class="wp-block-paragraph">&nbsp;69. Này các Tỷ-kheo, ở đây có những Sa-môn, Bà-la-môn,&nbsp;luận bàn&nbsp;về tương lai,&nbsp;chấp kiến&nbsp;về tương lai,&nbsp;y cứ&nbsp;về tương lai,&nbsp;đề xướng&nbsp;nhiều&nbsp;sở kiến&nbsp;sai khác với bốn mươi bốn luận chấp. Các vị này không có thể&nbsp;cảm thọ&nbsp;những chủ trương trên,&nbsp;nếu không&nbsp;có&nbsp;cảm xúc.</p>



<p class="wp-block-paragraph">&nbsp;70. Này các Tỷ-kheo, ở đây có những Sa-môn, Bà-la-môn,&nbsp;luận bàn&nbsp;về&nbsp;quá khứ&nbsp;tối sơ,&nbsp;luận bàn&nbsp;về tương lai,&nbsp;luận bàn&nbsp;về&nbsp;quá khứ&nbsp;tối sơ và tương lai,&nbsp;chấp kiến&nbsp;về&nbsp;quá khứ&nbsp;tối sơ và tương lai,&nbsp;y cứ&nbsp;về&nbsp;quá khứ&nbsp;tối sơ và tương lai,&nbsp;đề xướng&nbsp;nhiều&nbsp;sở kiến&nbsp;sai khác với sáu mươi hai luận chấp. Những vị này không có thể&nbsp;cảm thọ&nbsp;những chủ trương trên,&nbsp;nếu không&nbsp;có&nbsp;cảm xúc.</p>



<p class="wp-block-paragraph">&nbsp;71. Này các Tỷ-kheo, ở đây có những Sa-môn, Bà-la-môn, chủ trương Thường trú luận, chấp&nbsp;bản ngã&nbsp;và&nbsp;thế giới&nbsp;là thường còn với bốn luận chấp; những Sa-môn, Bà-la-môn chủ trương một phần Thường trú luận, một phần&nbsp;Vô thường&nbsp;luận; những Sa-môn, Bà-la-môn, chủ trương&nbsp;Ngụy biện luận; những Sa-môn, Bà-la-môn, chủ trương&nbsp;Vô nhân&nbsp;luận; những Sa-môn, Bà-la-môn,&nbsp;luận bàn&nbsp;về&nbsp;quá khứ&nbsp;tối sơ, những Sa-môn, Bà-la-môn chủ trương&nbsp;Hữu tưởng luận&nbsp;sau khi chết, những Sa-môn, Bà-la-môn chủ trương&nbsp;Vô tưởng luận&nbsp;sau khi chết; những Sa-môn, Bà-la-môn chủ trương&nbsp;Phi Hữu&nbsp;tưởng Phi&nbsp;Vô tưởng&nbsp;sau khi chết; những Sa-môn, Bà-la-môn chủ trương&nbsp;Đoạn diệt luận; những Sa-môn, Bà-la-môn chủ trương&nbsp;hiện tại&nbsp;Niết Bàn&nbsp;luận; những Sa-môn, Bà-la-môn&nbsp;luận bàn&nbsp;về&nbsp;quá khứ&nbsp;tối sơ; những Sa-môn, Bà-la-môn&nbsp;luận bàn&nbsp;về tương lai,&nbsp;chấp kiến&nbsp;về&nbsp;quá khứ&nbsp;tối sơ và tương lai,&nbsp;y cứ&nbsp;vào&nbsp;quá khứ&nbsp;tối sơ và tương lai,&nbsp;đề xướng&nbsp;nhiều&nbsp;sở kiến&nbsp;sai khác với sáu mươi hai luận chấp. Tất cả những vị này có những&nbsp;cảm thọ&nbsp;(những chủ trương trên) do sự xúc chạm qua&nbsp;sáu xúc&nbsp;xứ. Do duyên với những&nbsp;cảm thọ&nbsp;mà&nbsp;tham ái&nbsp;phát khởi; do duyên&nbsp;tham ái, thủ&nbsp;phát khởi; do duyên thủ, hữu&nbsp;phát khởi; do duyên hữu, sanh&nbsp;phát khởi, do&nbsp;duyên sanh, già, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não&nbsp;phát khởi. Này các Tỷ-kheo, khi Tỷ-kheo&nbsp;như thật&nbsp;biết sự&nbsp;tập khởi, sự&nbsp;diệt trừ, vị ngọt, sự nguy hiểm và sự&nbsp;xuất ly&nbsp;của&nbsp;sáu chỗ&nbsp;xuất xứ, vị ấy sẽ có một sự&nbsp;hiểu biết&nbsp;vượt ra ngoài những điều trên.</p>



<p class="wp-block-paragraph">&nbsp;72. Này các Tỷ-kheo, có những Sa-môn, Bà-la-môn nào&nbsp;luận bàn&nbsp;về&nbsp;quá khứ&nbsp;tối sơ, hay&nbsp;luận bàn&nbsp;về tương lai, hay&nbsp;luận bàn&nbsp;về&nbsp;quá khứ&nbsp;tối sơ và tương lai,&nbsp;chấp kiến&nbsp;về&nbsp;quá khứ&nbsp;tối sơ và tương lai,&nbsp;y cứ&nbsp;vào&nbsp;quá khứ&nbsp;tối sơ và tương lai,&nbsp;đề xướng&nbsp;nhiều&nbsp;sở kiến&nbsp;sai khác tất cả những vị này đều bị bao trùm bởi lưới của sáu mươi hai luận chấp này, dầu chúng nhảy vọt lên, chúng vẫn bị hạn cuộc bao phủ ở nơi đây.</p>



<p class="wp-block-paragraph">&nbsp;Này các Tỷ-kheo, cũng&nbsp;ví như&nbsp;người đánh cá lành nghề hay người học đánh cá vung lưới trên mặt hồ nước nhỏ có mắt sít sao. Người ấy nghĩ: &#8220;Những con cá lớn ở trong hồ nước nhỏ này, tất cả chúng đều bị bao phủ trong tấm lưới này, dầu chúng có nhảy vọt lên, chúng vẫn bị hạn cuộc bao phủ ở nơi đây&#8221;. Cũng như vậy này các Tỷ-kheo, những Sa-môn, Bà-la-môn nào,&nbsp;luận bàn&nbsp;về&nbsp;quá khứ&nbsp;tối sơ, hay&nbsp;luận bàn&nbsp;về tương lai, hay&nbsp;luận bàn&nbsp;về&nbsp;quá khứ&nbsp;tối sơ và tương lai,&nbsp;chấp kiến&nbsp;về&nbsp;quá khứ&nbsp;tối sơ và tương lai,&nbsp;đề xướng&nbsp;nhiều&nbsp;sở kiến&nbsp;sai khác, tất cả những vị này đều bị bao phủ trong lưới của sáu mươi hai luận chấp này; dầu có nhảy vọt lên, những vị này vẫn bị hạn cuộc bao phủ ở nơi đây.</p>



<p class="wp-block-paragraph">&nbsp;73. Này các Tỷ-kheo, thân của&nbsp;Như Lai&nbsp;còn&nbsp;tồn tại, nhưng cái khiến đưa đến&nbsp;đời sống&nbsp;khác đã bị&nbsp;chấm dứt. Khi thân của vị này còn&nbsp;tồn tại&nbsp;thời&nbsp;chư Thiên&nbsp;và&nbsp;loài Người&nbsp;còn có thể thấy thân ấy. Khi thân hoại&nbsp;mạng chung, thời&nbsp;chư Thiên&nbsp;và&nbsp;loài Người&nbsp;không thể thấy được.</p>



<p class="wp-block-paragraph">&nbsp;Này các Tỷ-kheo, như nhánh có một chùm, xoài bị chặt đứt, tất cả trái xoài dính với nhánh ấy đều bị chung một số phận với nhánh kia. Cũng như vậy này các Tỷ-kheo, thân của&nbsp;Như Lai&nbsp;còn&nbsp;tồn tại, nhưng cái khiến đưa đến&nbsp;một đời&nbsp;sống khác đã bị chặt đứt. Khi thân của vị này còn&nbsp;tồn tại&nbsp;thời&nbsp;chư Thiên&nbsp;và&nbsp;loài Người&nbsp;có thể thấy thân ấy. Khi thân hoại&nbsp;mạng chung&nbsp;thời&nbsp;chư Thiên&nbsp;và&nbsp;loài Người&nbsp;không thể thấy được.</p>



<p class="wp-block-paragraph">&nbsp;74. Khi nghe nói vậy,&nbsp;đại đức&nbsp;Ananda&nbsp;bạch đức Thế Tôn:</p>



<p class="wp-block-paragraph">&nbsp;&#8211;&nbsp;Kỳ diệu&nbsp;thay, bạch Thế Tôn!&nbsp;Hy hữu&nbsp;thay, bạch Thế Tôn!&nbsp;Pháp môn&nbsp;này gọi là gì, bạch Thế Tôn?</p>



<p class="wp-block-paragraph">&nbsp;&#8211; Này Ananda,&nbsp;pháp môn&nbsp;này gọi là &#8220;Lợi Võng&#8221;, hãy như&nbsp;vậy mà&nbsp;phụng trì; gọi là &#8220;Pháp Võng&#8221;, hãy như&nbsp;vậy mà&nbsp;phụng trì; gọi là &#8220;Phạm Võng&#8221;, hãy như&nbsp;vậy mà&nbsp;phụng trì; gọi là &#8220;Kiếm Võng&#8221;, hãy như&nbsp;vậy mà&nbsp;phụng trì; gọi là &#8220;Vô thượng Chiến thắng&#8221;, hãy như&nbsp;vậy mà&nbsp;phụng trì.</p>



<p class="wp-block-paragraph">&nbsp;Thế Tôn&nbsp;thuyết như vậy. Các Tỷ-kheo ấy&nbsp;hoan hỷ&nbsp;tín thọ&nbsp;lời&nbsp;Thế Tôn&nbsp;dạy. Trong khi kinh này được&nbsp;truyền thuyết, một ngàn&nbsp;thế giới&nbsp;đều&nbsp;rung động.</p>



<p class="wp-block-paragraph">&nbsp;Hòa thượng&nbsp;Thích&nbsp;Minh Châu&nbsp;dịch Việt</p>
<p>The post <a href="https://tangkinhcac.org/1-kinh-pham-vong-brahmajala-sutta/">1. Kinh Phạm Võng (Brahmajàla Sutta)</a> appeared first on <a href="https://tangkinhcac.org">Tàng Kinh Các</a>.</p>
]]></content:encoded>
					
		
		
			</item>
		<item>
		<title>Kinh Trường Bộ Dīghā Nikâya &#124; Bộ Mới</title>
		<link>https://tangkinhcac.org/kinh-truong-bo-digha-nikaya-bo-moi/</link>
		
		<dc:creator><![CDATA[admin]]></dc:creator>
		<pubDate>Wed, 11 Feb 2026 10:51:08 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Đại Tạng Kinh Tiếng Việt]]></category>
		<category><![CDATA[Kinh Tạng Nam Truyền]]></category>
		<category><![CDATA[kinh trường bộ]]></category>
		<category><![CDATA[Pdf]]></category>
		<category><![CDATA[Thích Minh Châu]]></category>
		<category><![CDATA[DĪGHĀ NIKÂYA]]></category>
		<category><![CDATA[kinh nam truyền]]></category>
		<category><![CDATA[pdf]]></category>
		<category><![CDATA[thích minh châu]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://tangkinhcac.org/?p=24</guid>

					<description><![CDATA[<p>VIỆN NGHIÊN CỨU PHẬT HỌC VIỆT NAMTAM TẠNG THÁNH ĐIỂN PHẬT GIÁO VIỆT NAMKINH TRƯỜNG BỘDĪGHĀ NIKÂYADỊCH GIẢ: HÒA THƯỢNG THÍCH MINH CHÂUNHÀ XUẤT BẢN HỒNG ĐỨC 2022 &#160; LỜI&#160;CHỨNG MINH Nam-mô&#160;Bản Sư&#160;Thích-ca Mâu-ni&#160;Phật Trong Kỉnh&#160;Hoa Nghiêm&#160;có ghi: &#8220;Phật dĩ&#160;nhất nhất&#160;thân, xứ xứ chuyển pháp /沥〃&#8221;（佛以一一身，處處轉法輪）,nghía là&#160;đức Phật&#160;luôn dùng tất cả&#160;hóa thân&#160;của mình, ở&#160;mọi nơi&#160;mọi chốn&#160;chuyển bánh xe pháp. Thật&#160;hoan hỷ,&#160;tinh thần&#160;chuyển bánh xe [&#8230;]</p>
<p>The post <a href="https://tangkinhcac.org/kinh-truong-bo-digha-nikaya-bo-moi/">Kinh Trường Bộ Dīghā Nikâya | Bộ Mới</a> appeared first on <a href="https://tangkinhcac.org">Tàng Kinh Các</a>.</p>
]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[
<p class="has-text-align-center o-typing-delay-2s wp-block-paragraph">VIỆN NGHIÊN CỨU PHẬT HỌC VIỆT NAM<br>TAM TẠNG THÁNH ĐIỂN PHẬT GIÁO VIỆT NAM<br><strong><span class="highlight"><o-anim-typing>KINH TRƯỜNG BỘ</o-anim-typing></span></strong><br><strong><span class="has-superb-addons-text-align-justify"><mark style="background-color:rgba(0, 0, 0, 0);color:#cf2e2e" class="has-inline-color">DĪGHĀ NIKÂYA</mark></span></strong><br>DỊCH GIẢ: HÒA THƯỢNG THÍCH MINH CHÂU<br>NHÀ XUẤT BẢN HỒNG ĐỨC 2022</p>



<div class="wp-block-group has-global-padding is-layout-constrained wp-block-group-is-layout-constrained">
<pre class="wp-block-verse has-text-align-center">&nbsp;<a href="https://thuvienhoasen.org/images/file/2gM4ATPK2ggBALwR/kinh-truong-bo-bo-moi-pdf.jpeg"></a></pre>



<p>Lorem Ipsum has been the industry&#8217;s standard dummy text ever since the 1500s.</p>
</div>



<p class="wp-block-paragraph"><strong><a href="https://thuvienhoasen.org/images/file/LMnSmjrK2ggBAM1D/kinh-truong-bo-bo-moi-pdf.jpeg"></a><br>LỜI&nbsp;CHỨNG MINH</strong></p>



<p class="wp-block-paragraph">Nam-mô&nbsp;Bản Sư&nbsp;Thích-ca Mâu-ni&nbsp;Phật</p>



<p class="wp-block-paragraph">Trong Kỉnh&nbsp;Hoa Nghiêm&nbsp;có ghi: &#8220;Phật dĩ&nbsp;nhất nhất&nbsp;thân, xứ xứ chuyển pháp /沥〃&#8221;（佛以一一身，處處轉法輪）,nghía là&nbsp;đức Phật&nbsp;luôn dùng tất cả&nbsp;hóa thân&nbsp;của mình, ở&nbsp;mọi nơi&nbsp;mọi chốn&nbsp;chuyển bánh xe pháp. Thật&nbsp;hoan hỷ,&nbsp;tinh thần&nbsp;chuyển bánh xe pháp&nbsp;của&nbsp;đức Phật&nbsp;đã và đang được&nbsp;chư Tôn&nbsp;đức&nbsp;Hội đồng&nbsp;Tri sự&nbsp;Giáo hội Phật giáo Việt Nam&nbsp;triển khai&nbsp;một cách&nbsp;hiệu quả.&nbsp;Đặc biệt, trên&nbsp;phương diện&nbsp;hoăng truyên kinh điên,&nbsp;chư Tôn&nbsp;đức đã có những định hướng&nbsp;đúng đắn&nbsp;cho Viện&nbsp;Nghiên cứu&nbsp;Phật học&nbsp;Việt Nam&nbsp;tiến hành&nbsp;phiên dịch, san định, ấn tống Kinh, Luật, Luận, Sớ giải có nguồn gốc&nbsp;từ tạng&nbsp;P互li, Sanskrit, Hán cổ và các&nbsp;ngôn ngữ&nbsp;khác&#8230;</p>



<p class="wp-block-paragraph">Khi&nbsp;nghiên cứu, hoằng&nbsp;truyền kinh&nbsp;điển, nhà Phật&nbsp;thường có&nbsp;câu: DĩThánh giáo vi minh cảnh chiêu kiên&nbsp;tự tâm, dĩ&nbsp;tự tâm&nbsp;vi trí đăng chiêu kinh u chr （以 聖教爲明鏡照見自心，以自心爲智燈照經幽旨）,nghĩa là lấy&nbsp;Phật pháp&nbsp;làm tâm&nbsp;gương sáng&nbsp;soi vào&nbsp;tự tâm, lây&nbsp;tự tâm&nbsp;làm&nbsp;ngọn đèn&nbsp;trí soi tỏ chô&nbsp;thâm sâu&nbsp;của kinh điên. Những&nbsp;Phật sự&nbsp;được&nbsp;chư Tôn&nbsp;đức trong Viện&nbsp;Nghiên cứu&nbsp;Phật học&nbsp;Việt Nam&nbsp;đã và đang&nbsp;thực hiện, thực sự là những&nbsp;việc làm&nbsp;trân quý. Việc ấy không chỉ làm sáng&nbsp;bản tâm&nbsp;của mỗi&nbsp;hành giả&nbsp;nghiên cứu&nbsp;mà còn&nbsp;chuyển hóa&nbsp;lời Phật dạy&nbsp;một cách&nbsp;dễ hiểu, dễ học, dễ hành, gần gũi với cuộc sống đời thường. Thông qua đó, môi&nbsp;hành giả&nbsp;có được cách tiêp cận,&nbsp;tu tập,&nbsp;thực hành&nbsp;lời Phật dạy,&nbsp;thành tựu&nbsp;nhiều kết quả hơn.</p>



<p class="wp-block-paragraph">Từ việc&nbsp;nghiên cứu&nbsp;kinh điển, nhìn lại&nbsp;Phật giáo Việt Nam,&nbsp;chúng ta&nbsp;mới thấy,&nbsp;Phật giáo Việt Nam&nbsp;với chiều dài&nbsp;lịch sử&nbsp;trên dưới 2000 năm&nbsp;đồng hành&nbsp;cùng dân&nbsp;tộc, đã tạo nên những&nbsp;giá trị&nbsp;Phật giáo&nbsp;đặc biệt, đóng&nbsp;vai trò&nbsp;trụ cột trong việc&nbsp;gìn giữ&nbsp;nền&nbsp;văn hóa&nbsp;Việt&nbsp;thời kỳ&nbsp;1000 năm Bắc thuộc, làm cho dân tộc&nbsp;Việt Nam&nbsp;trở nên vĩ đại nhất&nbsp;trong lịch sử&nbsp;phong kiến&nbsp;nước nhà vào&nbsp;thời đại&nbsp;Lý &#8211; Trần, vẫn đang&nbsp;tiếp tục&nbsp;đồng hành&nbsp;cùng đất nước trong&nbsp;thời kỳ&nbsp;hội nhập với&nbsp;phương châm&nbsp;&#8220;Đạo pháp &#8211; Dân tOc.&#8221; Chính vì vậy? những&nbsp;Phật sự&nbsp;của&nbsp;chư Tôn&nbsp;đức trong Viện&nbsp;Nghiên cứu&nbsp;Phật học&nbsp;Việt Nam&nbsp;đang&nbsp;thực hiện&nbsp;có&nbsp;ý nghĩa&nbsp;hét sức quan trọng trong việc “k。vãng khai lai, truyên trì đạo mạch&#8221;, không chỉ làm cho&nbsp;Phật pháp&nbsp;xương minh, trường ton ở the gian mà còn góp phan làm cho&nbsp;Phật giáo Việt Nam&nbsp;tiếp nối&nbsp;truyền thống&nbsp;tốt đẹp&nbsp;từ ngàn xua, phát triển lên một tầm cao mới.&nbsp;Hy vọng&nbsp;mỗi&nbsp;hành giả&nbsp;chúng ta&nbsp;nỗ lực&nbsp;hơn nữa để&nbsp;thành tựu&nbsp;giải thoát&nbsp;và&nbsp;hoàn thành&nbsp;sứ mệnh ẾẾTác&nbsp;Như Lai sứ, hành&nbsp;Như Lai&nbsp;sự.&#8221;</p>



<p class="wp-block-paragraph">Nguyện câu&nbsp;Phật nhật&nbsp;tăng huy,&nbsp;Pháp luân&nbsp;thường chuyên, thê giới hòa bình,&nbsp;nhân dân&nbsp;an lạc.</p>



<p class="wp-block-paragraph">Nam-mố&nbsp;Hoan Hỷ&nbsp;Tạng Bồ-tát, tác&nbsp;đại chứng&nbsp;minh.</p>



<p class="wp-block-paragraph">VesakLiên Hợp Quốc, PL.2563 &#8211; DL.2019<br>Trưởng lão&nbsp;Hòa thượng&nbsp;THÍCH PHỔ TUỆ<br>(Pháp chủ&nbsp;Giáo hội Phật giáo Việt Nam<br><br><a href="https://thuvienhoasen.org/images/file/sUZyajzK2ggBArAW/screenshot-248-.png"></a><a href="https://thuvienhoasen.org/images/file/iACRdTzK2ggBAq4N/screenshot-249-.png"></a></p>



<p class="wp-block-paragraph"><strong>LỜI&nbsp;GIỚI THIỆU</strong></p>



<p class="wp-block-paragraph"><br>Thay mặt&nbsp;Hội đồng&nbsp;Trị&nbsp;sự Giáo&nbsp;hội&nbsp;Phật giáo Việt Nam, tôi&nbsp;tán dương&nbsp;Hội đồng&nbsp;Quản trị Viện&nbsp;Nghiên cứu&nbsp;Phật học&nbsp;Việt Nam,&nbsp;đặc biệt&nbsp;là Ban&nbsp;Biên tập&nbsp;<em>Tam tạng&nbsp;Thánh điển&nbsp;Phật giáo Việt Nam</em>&nbsp;đã&nbsp;hoan hỷ&nbsp;đảm&nbsp;trách nhiệm&nbsp;vụ&nbsp;phiên dịch,&nbsp;biên tập&nbsp;và&nbsp;ấn hành&nbsp;bộ&nbsp;Thánh điển&nbsp;thiêng liêng&nbsp;này.<br>Phiên dịch&nbsp;Kinh, Luật, Luận từ các&nbsp;ngôn ngữ&nbsp;Phật học&nbsp;(Pāli, Sanskrit, Hán cổ) ra tiếng Việt là&nbsp;trách nhiệm&nbsp;cao quý của Viện&nbsp;Nghiên cứu&nbsp;Phật học&nbsp;Việt Nam&nbsp;(VNCPHVN) do&nbsp;Trưởng lão&nbsp;Hòa thượng&nbsp;Thích&nbsp;Minh Châu&nbsp;thành lập&nbsp;năm 1989, nhằm&nbsp;đáp ứng&nbsp;nhu cầu&nbsp;nghiên cứu,&nbsp;học hỏi&nbsp;và&nbsp;thực tập&nbsp;Phật pháp&nbsp;của hàng triệu&nbsp;Tăng Ni,&nbsp;Phật tử&nbsp;Việt Nam&nbsp;trong và ngoài nước.<br><br><strong>1. Về&nbsp;thuật ngữ<br></strong><br>Tôi tán đồng cách&nbsp;Hội đồng&nbsp;Quản trị VNCPHVN thay đổi cụm từ “Đại&nbsp;tạng kinh&nbsp;Việt Nam”, vốn chịu&nbsp;ảnh hưởng&nbsp;từ cách đặt tựa&nbsp;tác phẩm&nbsp;của&nbsp;Phật giáo Trung Quốc, thành “<em>Tam tạng&nbsp;Thánh điển&nbsp;Phật giáo Việt Nam</em>”, nhằm&nbsp;thể hiện&nbsp;bản sắc&nbsp;văn học&nbsp;Phật giáo Việt Nam,&nbsp;đồng thời&nbsp;thích ứng&nbsp;với cách đặt tên&nbsp;phổ biến&nbsp;của&nbsp;cộng đồng&nbsp;Phật giáo&nbsp;thế giới&nbsp;hiện nay.<br><br>Khái niệm “Đại tạng kinh” chỉ đề cập đến “Kinh tạng” (P.&nbsp;<em>Sutta</em>&nbsp;<em>Piṭaka</em>, H. 經蔵) tức kho tàng&nbsp;Chân lý, trong khi khái niệm “Tam tạng&nbsp;Thánh điển&nbsp;Phật giáo” có nội hàm rộng hơn, bao quát hơn; đó là ngoài kho tàng&nbsp;Chân lý&nbsp;còn có kho tàng&nbsp;Đạo đức&nbsp;(P.&nbsp;<em>Vinaya</em>&nbsp;<em>Piṭaka</em>, H. 律蔵,&nbsp;Luật tạng), kho tàng&nbsp;Triết học&nbsp;tâm (P.&nbsp;<em>Abhidhamma</em>&nbsp;<em>Piṭaka</em>, H. 論蔵,&nbsp;Luận tạng),&nbsp;Văn học&nbsp;Chú giải&nbsp;(P.&nbsp;<em>Aṭṭhakathā</em>),&nbsp;Văn học&nbsp;Phụ&nbsp;chú giải&nbsp;(P.&nbsp;<em>Ṭīkā</em>),&nbsp;Văn học&nbsp;Tục tạng và các&nbsp;tác phẩm&nbsp;Phật học&nbsp;Việt Nam.<br><br><em>Tam tạng&nbsp;Thánh điển&nbsp;Phật giáo Việt Nam</em>&nbsp;bao gồm&nbsp;các tuyển tập&nbsp;Tam tạng&nbsp;Phật giáo&nbsp;Thượng Tọa bộ&nbsp;(ảnh hưởng&nbsp;các nước&nbsp;Ấn Độ,&nbsp;Tích Lan, Miến Điện, Thái Lan, Lào, Campuchia),&nbsp;Tam tạng&nbsp;Phật giáo&nbsp;Bộ phái,&nbsp;Tam tạng&nbsp;Phật giáo&nbsp;Đại thừa&nbsp;(ảnh hưởng&nbsp;Việt Nam,&nbsp;Trung Quốc,&nbsp;Nhật Bản,&nbsp;Đại Hàn,&nbsp;Tây Tạng),&nbsp;Văn học&nbsp;Sớ giải,&nbsp;Văn học&nbsp;Tông phái&nbsp;Phật giáo&nbsp;và&nbsp;Văn học&nbsp;Phật giáo Việt Nam, v.v&#8230;<br><br><strong>2. Về&nbsp;Văn học sử&nbsp;Phật giáo<br></strong><br>“Thánh điển Phật giáo” là khái niệm chỉ cho tuyển tập những lời dạy của&nbsp;đức Phật&nbsp;trong 45 năm (theo&nbsp;Phật giáo&nbsp;Nam truyền) hay 49 năm (theo&nbsp;Phật giáo&nbsp;Bắc truyền)&nbsp;truyền bá&nbsp;Chân lý&nbsp;(P.&nbsp;<em>Dhamma</em>, S.&nbsp;<em>Dharma</em>, H. 法, Pháp),&nbsp;Đạo đức&nbsp;(P=S.&nbsp;<em>Vinaya</em>, H. 戒律,&nbsp;Giới luật), và Các&nbsp;pháp siêu&nbsp;việt (P.&nbsp;<em>Abhidhamma</em>, S.&nbsp;<em>Abhidharma</em>, H. 無比法,&nbsp;Vô tỷ pháp).<br><br>Thánh điển&nbsp;Phật giáo&nbsp;được&nbsp;truyền thừa&nbsp;qua&nbsp;hình thức&nbsp;khẩu truyền, được cho là bằng&nbsp;ngôn ngữ&nbsp;Pāli từ thời&nbsp;đức Phật&nbsp;(khoảng thế kỷ VI-V TTL) và&nbsp;lưu truyền&nbsp;qua ba lần&nbsp;kết tập kinh điển&nbsp;tại&nbsp;Ấn Độ. Đến&nbsp;đại hội kết tập&nbsp;kinh điển&nbsp;lần thứ tư tại&nbsp;Tích Lan&nbsp;(khoảng thế kỷ I TTL),&nbsp;Thánh điển&nbsp;được viết trên&nbsp;lá bối&nbsp;và&nbsp;lưu truyền&nbsp;đến ngày nay. Hai&nbsp;tác phẩm&nbsp;Đảo sử&nbsp;(<em>Dīpavaṃsa</em>) và&nbsp;Đại sử&nbsp;(<em>Mahāvaṃsa</em>) đều&nbsp;ghi nhận&nbsp;rằng trong&nbsp;triều đại&nbsp;Valagamba (29-17 TTL) tại Anuradhapura,&nbsp;Tích Lan, các&nbsp;cao Tăng&nbsp;thuộc làu&nbsp;Tam tạng&nbsp;Pāli bắt đầu viết kinh Phật trên&nbsp;lá bối&nbsp;để&nbsp;giữ gìn&nbsp;và&nbsp;truyền bá&nbsp;lời Phật dạy&nbsp;một cách&nbsp;hiệu quả&nbsp;hơn.<br><br>Theo các nhà&nbsp;Đại thừa, cũng vào thế kỷ I (TTL) trở đi,&nbsp;kinh điển Đại thừa&nbsp;bằng tiếng Sanskrit&nbsp;lần lượt&nbsp;ra đời. Ngoài các&nbsp;bản kinh&nbsp;Đại thừa&nbsp;quan trọng&nbsp;tồn tại&nbsp;với ấn bản Sanskrit, phần lớn&nbsp;văn học&nbsp;Phật giáo&nbsp;Đại thừa&nbsp;được lưu giữ qua các bản dịch Hán cổ, được các vua chúa,&nbsp;đại tín&nbsp;chủ&nbsp;lưu bố&nbsp;qua các bản chép tay, khắc trên đá, khắc trên gỗ, và về sau&nbsp;biên tập&nbsp;thành các&nbsp;Đại tạng kinh&nbsp;mang tầm vóc&nbsp;quốc gia&nbsp;ở Trung Hoa; còn tiếng&nbsp;Tây Tạng&nbsp;cổ, được&nbsp;biên tập&nbsp;thành Kinh&nbsp;điển&nbsp;Phật giáo Tây Tạng&nbsp;(<em>Tibetan</em>&nbsp;<em>Buddhist</em>&nbsp;<em>Canon</em>) gồm hai tạng Kangyur (Kinh &#8211;&nbsp;Luật tạng&nbsp;gồm 100 bộ) và Tengyur (Luận tạng&nbsp;gồm 213 bộ).<br><br><strong>3. Về&nbsp;phương diện&nbsp;lịch sử<br></strong><br>Hơn 10 thế kỷ (từ thế kỷ I-X) bị&nbsp;Trung Quốc&nbsp;đô hộ, người&nbsp;Việt Nam&nbsp;đã&nbsp;sử dụng&nbsp;Đại tạng kinh&nbsp;Trung Hoa bằng Hán cổ và&nbsp;cho đến&nbsp;những thế kỷ sau. Giai đoạn 80 năm Pháp thuộc (1867-1945), người Việt lại buộc phải&nbsp;sử dụng&nbsp;tiếng Việt La-tinh hóa nên chữ Hán Nôm mất dần&nbsp;vị trí&nbsp;ngôn ngữ&nbsp;chính thống. Đứng trước nhu cầu&nbsp;thích nghi&nbsp;với quốc ngữ mới, các&nbsp;cao Tăng&nbsp;Việt Nam&nbsp;quyết định&nbsp;phiên dịch&nbsp;kinh điển&nbsp;từ Hán cổ ra tiếng Việt La-tinh để&nbsp;phổ biến&nbsp;lời Phật dạy&nbsp;rộng rãi&nbsp;hơn, vì&nbsp;đại đa số&nbsp;người Việt trong thời Pháp thuộc không đọc được chữ Hán Nôm.<br><br><em>Tam tạng&nbsp;Thánh điển&nbsp;Phật giáo Việt Nam</em>&nbsp;được hình thành qua 3 giai đoạn:<br>Giai đoạn 1 bắt đầu từ 1950 đến 1975, với đỉnh cao là sự ra đời của&nbsp;Hội đồng&nbsp;Phiên dịch&nbsp;Kinh điển&nbsp;của&nbsp;Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất&nbsp;(GHPGVNTN) vào năm 1973 và ngưng&nbsp;hoạt động&nbsp;vào năm 1975. Các bậc&nbsp;Tôn túc&nbsp;đóng góp&nbsp;nổi bật&nbsp;trong việc&nbsp;phiên dịch&nbsp;kinh điển&nbsp;từ Hán cổ sang tiếng Việt trong giai đoạn này có&nbsp;Hòa thượng&nbsp;Thích&nbsp;Trí Tịnh&nbsp;(Ma-ha Bát-nhã,&nbsp;Hoa Nghiêm,&nbsp;Đại Bảo&nbsp;Tích, Niết-bàn,&nbsp;Pháp Hoa);&nbsp;Hòa thượng&nbsp;Thích&nbsp;Trí Nghiêm&nbsp;(Đại Bát-nhã); và chư vị&nbsp;Hòa thượng&nbsp;Thích Thanh Từ,&nbsp;Hòa thượng&nbsp;Thích Bửu Huệ,&nbsp;Hòa thượng&nbsp;Thích&nbsp;Thiền Tâm&nbsp;(Trung A-hàm, Tăng nhất A-hàm),&nbsp;Hòa thượng&nbsp;Thích Thiện Siêu,&nbsp;Hòa thượng&nbsp;Thích Tuệ Sỹ,&nbsp;Thượng tọa&nbsp;Thích&nbsp;Trí Thành&nbsp;(Trường A-hàm, Tạp A-hàm), v.v…<br><br>Giai đoạn 2 bắt đầu từ 1975 đến 2017, với sự ra đời của các bản dịch từ Pāli sang tiếng Việt. Đóng góp nổi trội của&nbsp;Hòa thượng&nbsp;Thích&nbsp;Minh Châu&nbsp;là&nbsp;phiên dịch&nbsp;hầu hết&nbsp;Kinh tạng&nbsp;Pāli.&nbsp;Hòa thượng&nbsp;Hộ Tông,&nbsp;Hòa thượng&nbsp;Bửu Chơn,&nbsp;Hòa thượng&nbsp;Giới Nghiêm&nbsp;phiên dịch&nbsp;Luật tạng&nbsp;Pāli và&nbsp;Hòa thượng&nbsp;Tịnh Sự dịch&nbsp;Luận tạng&nbsp;Pāli.&nbsp;Gần đây,&nbsp;Thượng tọa&nbsp;Chánh Thân đã dịch mới một số kinh trong&nbsp;Tiểu bộ&nbsp;và&nbsp;Luật tạng&nbsp;Pāli.<br><br>Sau ba thập niên&nbsp;phiên dịch&nbsp;độc lập, đến năm 1991,&nbsp;Hội đồng&nbsp;Chỉ đạo&nbsp;Phiên dịch&nbsp;và&nbsp;Ấn hành&nbsp;Đại tạng kinh&nbsp;Việt Nam&nbsp;chính thức&nbsp;được&nbsp;Giáo hội Phật giáo Việt Nam&nbsp;(GHPGVN)&nbsp;thành lập. Từ đó&nbsp;đến nay, VNCPHVN chỉ tái bản được&nbsp;Kinh tạng&nbsp;Nam truyền, gồm 13 tập và một vài tập A-hàm. Trong&nbsp;thời gian&nbsp;này và trước đó,&nbsp;Hòa thượng&nbsp;Thích&nbsp;Trí Quang&nbsp;đã dịch hơn 25 tập Kinh, Luật, Luận;&nbsp;Hòa thượng&nbsp;Thích Đỗng Minh đã dịch một số bộ Luật và hướng dẫn, khuyến khích&nbsp;chư Tăng&nbsp;Ni tại Nha Trang&nbsp;phiên dịch&nbsp;các bộ Luật của các&nbsp;bộ phái Phật giáo, góp phần làm&nbsp;phong phú&nbsp;kho tàng&nbsp;Luật tạng&nbsp;Phật giáo Việt Nam.<br><br>Trong hai thập niên, 1994-2014,&nbsp;Hội đồng&nbsp;Dịch thuật do&nbsp;Hòa thượng&nbsp;Thích&nbsp;Tịnh Hạnh&nbsp;khởi xướng và&nbsp;bảo trợ, có công tổng hợp,&nbsp;biên tập&nbsp;và xuất bản các&nbsp;công trình&nbsp;dịch thuật đã có,&nbsp;đồng thời&nbsp;dịch mới các Kinh, Luật, Luận quan trọng khác để hình thành&nbsp;Linh Sơn&nbsp;Pháp bảo&nbsp;Đại tạng kinh.<br><br>Giai đoạn 3 từ năm 2017 trở đi. Vào giữa năm 2018,&nbsp;Hội đồng&nbsp;Quản trị VNCPHVN&nbsp;thành lập&nbsp;Ban&nbsp;Biên tập&nbsp;<em>Tam tạng&nbsp;Thánh điển&nbsp;Phật giáo Việt Nam</em>, tiến hành&nbsp;đối chiếu&nbsp;văn bản song ngữ,&nbsp;biên tập&nbsp;tiếng Việt, làm tổng&nbsp;mục lục&nbsp;mới, với&nbsp;mục tiêu&nbsp;phiên dịch&nbsp;hoàn tất,&nbsp;biên tập&nbsp;và xuất bản&nbsp;<em>Tam tạng&nbsp;Thánh điển&nbsp;Phật giáo Việt Nam</em>, gồm Ba tạng&nbsp;Thượng Tọa bộ, Ba tạng&nbsp;Bộ phái&nbsp;và Ba tạng&nbsp;Đại thừa.&nbsp;Đồng thời,&nbsp;Văn học&nbsp;Sớ giải, Tục tạng,&nbsp;Văn học&nbsp;tông phái&nbsp;Phật giáo Trung Quốc,&nbsp;Nhật Bản&nbsp;và&nbsp;Văn học&nbsp;Phật giáo Việt Nam&nbsp;cũng sẽ được&nbsp;thực hiện&nbsp;tiếp theo.&nbsp;Công trình&nbsp;sưu tầm,&nbsp;phiên dịch, hiệu chú và&nbsp;ấn hành&nbsp;này&nbsp;dự kiến&nbsp;sẽ&nbsp;hoàn thành&nbsp;trong vòng&nbsp;10 năm hoặc lâu hơn nữa.<br><br><strong>4. Về bản sắc&nbsp;quốc gia<br></strong><br>Thánh điển&nbsp;Phật giáo&nbsp;được xem là&nbsp;quốc bảo&nbsp;của nhiều&nbsp;quốc gia&nbsp;theo&nbsp;đạo Phật. Các&nbsp;quốc gia&nbsp;thuộc hai&nbsp;truyền thống&nbsp;Phật giáo&nbsp;Nam truyền và Bắc truyền đều có&nbsp;Thánh điển&nbsp;Phật giáo&nbsp;bằng tiếng mẹ đẻ của họ từ lâu. Tại các nước&nbsp;Phật giáo&nbsp;Nam truyền như&nbsp;Tích Lan, Miến Điện, Thái Lan, Lào, Campuchia, ngoài ấn bản&nbsp;Tam tạng&nbsp;Thánh điển&nbsp;Pāli, đều có bản dịch&nbsp;Thánh điển&nbsp;Phật giáo&nbsp;bằng quốc ngữ của họ.<br><br>Trong các nước&nbsp;Phật giáo&nbsp;Đại thừa,&nbsp;Trung Quốc&nbsp;là nước đầu tiên có Khai&nbsp;Bảo tạng&nbsp;được khắc gỗ từ năm 971 đến 983 thời nhà Bắc Tống. Các nước&nbsp;Phật giáo&nbsp;Đại thừa&nbsp;chịu&nbsp;ảnh hưởng&nbsp;từ&nbsp;Phật giáo Trung Quốc&nbsp;đều có ấn bản&nbsp;Đại tạng kinh&nbsp;chữ Hán theo phong cách riêng.<br><br>Đại Hàn&nbsp;(1011-1082) có ấn bản Cao Ly&nbsp;Đại tạng kinh&nbsp;(高麗大蔵經), hay còn gọi là&nbsp;Bát vạn&nbsp;Đại tạng kinh&nbsp;(八萬大蔵經), có cấu trúc&nbsp;mục lục&nbsp;khác với các&nbsp;Đại tạng kinh&nbsp;Trung Quốc, gồm&nbsp;Tam tạng&nbsp;Đại thừa&nbsp;(các bản văn 1-646),&nbsp;Tam tạng&nbsp;Tiểu thừa&nbsp;(các bản văn 647-978),&nbsp;Thánh Hiền&nbsp;Phật ký&nbsp;lục (các bản văn 979-1087) và các&nbsp;tác phẩm&nbsp;khác (1088-1498), trong đó, các bản văn 1402-1405 là các trước tác của&nbsp;Phật giáo&nbsp;Đại Hàn.<br><br>Nhật Bản&nbsp;có&nbsp;Thiên Hải&nbsp;tạng (天海蔵)đầu tiên được&nbsp;thực hiện&nbsp;từ năm 1637 đến 1648. Đến đầu thế kỷ XX, Đại Chánh tân tu&nbsp;Đại tạng kinh&nbsp;(大正新脩大蔵經, 1924-1934) do các&nbsp;học giả&nbsp;Takakusu Junjiro, Watanabe Umiakira và Ono Genmyo&nbsp;biên tập, gồm 100 tập, 3.493 bộ, 13.520 quyển, trong đó, 55 tập đầu gồm Kinh, Luật, Luận, Sớ giải, các&nbsp;tông phái&nbsp;Phật giáo Trung Quốc,&nbsp;Nhật Bản. Đây là ấn bản&nbsp;Đại tạng kinh&nbsp;bằng chữ Hán hoàn chỉnh nhất, có tính&nbsp;hệ thống&nbsp;về phân loại và chấm câu tốt nhất.<br><br>Phật giáo Tây Tạng&nbsp;cũng có&nbsp;Đại tạng kinh&nbsp;riêng khá sớm, từ năm 1290 đến 1364.&nbsp;Đại tạng&nbsp;này bao hàm hầu hết các bản luận Sanskrit của các&nbsp;bộ phái Phật giáo&nbsp;Ấn Độ, có nguồn gốc từ Trường&nbsp;Đại học&nbsp;Nalanda&nbsp;nổi tiếng&nbsp;và một số bản dịch từ tiếng Hán.&nbsp;Đại tạng&nbsp;này được hiệu chỉnh qua các&nbsp;thời kỳ&nbsp;và&nbsp;trở thành&nbsp;kho tàng&nbsp;Pháp bảo Tạng&nbsp;truyền đặc thù, vì nó chứa nhiều bộ&nbsp;mật chú&nbsp;và&nbsp;pháp môn&nbsp;tu&nbsp;bí truyền&nbsp;mà ngày nay không&nbsp;tìm thấy&nbsp;trong các&nbsp;Đại tạng&nbsp;Trung Hoa và các nước khác.<br><br>Tính từ thời điểm Pháp thuộc năm 1867 đến 2019, khi tiếng Hán &#8211; Việt&nbsp;trở thành&nbsp;tiếng Việt La-tinh hóa, 152 năm đã&nbsp;trôi qua, hoặc tính từ thời điểm&nbsp;Hội đồng&nbsp;Phiên dịch&nbsp;Kinh điển&nbsp;của GHPGVNTN hình thành từ năm 1973 cũng đã&nbsp;trải qua&nbsp;46 năm,&nbsp;<em>Tam tạng&nbsp;Thánh điển&nbsp;Phật giáo Việt Nam</em>&nbsp;chỉ mới&nbsp;hoàn tất&nbsp;một nửa chặng đường&nbsp;phiên dịch.<br><br>Bên cạnh việc&nbsp;trân trọng&nbsp;những&nbsp;thành quả&nbsp;dịch thuật của các bậc Tôn đức hữu công thuộc các&nbsp;thế hệ&nbsp;trước, GHPGVN cần có&nbsp;<em>Tam tạng&nbsp;Thánh điển&nbsp;Phật giáo Việt Nam</em>&nbsp;hoàn chỉnh, không chỉ&nbsp;thể hiện&nbsp;bản sắc&nbsp;văn hóa&nbsp;Phật giáo Việt Nam&nbsp;mà còn giúp cho người&nbsp;Việt Nam&nbsp;không biết các&nbsp;cổ ngữ&nbsp;Phật giáo, có thể tiếp cận&nbsp;lời Phật dạy&nbsp;bằng tiếng Việt, nhằm&nbsp;đạt được&nbsp;trí tuệ&nbsp;do nghe&nbsp;chân lý&nbsp;Phật (P.&nbsp;<em>Sutamayapaññā</em>,&nbsp;Văn tuệ),&nbsp;trí tuệ&nbsp;do&nbsp;nghiền ngẫm&nbsp;chân lý&nbsp;Phật (P.&nbsp;<em>Cintāmayapaññā</em>,&nbsp;Tư tuệ) và trên nền tảng này,&nbsp;tiếp tục&nbsp;đạt được&nbsp;trí tuệ&nbsp;do&nbsp;thực hành&nbsp;thiền chỉ,&nbsp;thiền quán&nbsp;(P.&nbsp;<em>Bhāvanāmayapaññā</em>, Tu tuệ).<br><br>Để tạo nên bản sắc&nbsp;văn hóa&nbsp;tâm linh&nbsp;Phật giáo Việt Nam&nbsp;qua&nbsp;<em>Tam tạng&nbsp;Thánh điển&nbsp;Phật giáo Việt Nam</em>, tôi tha thiết kêu gọi quý&nbsp;Tăng Ni&nbsp;và&nbsp;Phật tử&nbsp;tham gia&nbsp;vào Ban&nbsp;Phiên dịch&nbsp;và Ban&nbsp;Biên tập&nbsp;<em>Tam tạng&nbsp;Thánh điển&nbsp;Phật giáo Việt Nam</em>, góp phần&nbsp;phiên dịch&nbsp;và xuất bản hoàn chỉnh&nbsp;<em>Tam tạng&nbsp;Thánh điển&nbsp;Phật giáo Việt Nam</em>.&nbsp;Đồng thời, tôi tha thiết kêu gọi quý mạnh thường quân và quý&nbsp;Phật tử&nbsp;phát tâm&nbsp;đóng góp&nbsp;tịnh tài&nbsp;để&nbsp;công trình&nbsp;phiên dịch,&nbsp;biên tập&nbsp;và xuất bản&nbsp;<em>Tam tạng&nbsp;Thánh điển&nbsp;Phật giáo Việt Nam</em>&nbsp;sớm&nbsp;thành tựu&nbsp;mỹ mãn.<br><br>Xuất bản&nbsp;<em>Tam tạng&nbsp;Thánh điển&nbsp;Phật giáo Việt Nam</em>&nbsp;không chỉ là niềm mơ ước của&nbsp;Tăng Ni&nbsp;và&nbsp;Phật tử&nbsp;Việt Nam&nbsp;mà còn tạo&nbsp;thuận duyên&nbsp;cho 97 triệu người&nbsp;Việt Nam&nbsp;trong nước và hơn 5 triệu người&nbsp;Việt Nam&nbsp;ở hải ngoại có cơ hội học Phật,&nbsp;tu Phật&nbsp;bằng tiếng Việt, để&nbsp;diệt trừ&nbsp;tham ái,&nbsp;sân hận,&nbsp;si mê,&nbsp;chấp thủ, vốn là nhân khổ đau,&nbsp;đồng thời, trải nghiệm an vui,&nbsp;hạnh phúc&nbsp;bây giờ và tại đây, góp phần làm cho Tổ quốc&nbsp;Việt Nam&nbsp;ngày càng giàu, mạnh và phát triển&nbsp;bền vững.<br></p>



<p class="wp-block-paragraph">Vesak Liên Hợp Quốc, PL.2563 – DL.2019<br><strong><em>Hòa thượng&nbsp;THÍCH THIỆN NHƠN</em></strong><br>(Chủ tịch&nbsp;Hội đồng&nbsp;Trị sự GHPGVN)<br></p>



<p class="wp-block-paragraph">Lời Nói Đầu</p>



<p class="wp-block-paragraph">Trích Lời Giói Thiệu&nbsp;</p>



<h2 class="wp-block-heading">DẪN&nbsp;LUẬN KINH&nbsp;TRƯỜNG BỘ</h2>



<p class="wp-block-paragraph"><strong>I.&nbsp;GIỚI THIỆU&nbsp;TỔNG QUAN</strong><em>Kinh&nbsp;Trường bộ&nbsp;</em>(P.&nbsp;<em>Dīgha Nikāya</em>, H. 長部經) là bộ đầu tiên trong năm&nbsp;bộ kinh&nbsp;Pāli (<em>Pāli Nikāya</em>) của&nbsp;Phật giáo&nbsp;Thượng Tọa bộ&nbsp;(<em>Theravāda</em>); là tuyển tập 34 kinh dài (<em>The Long Discourses</em>) trong&nbsp;Kinh tạng&nbsp;Pāli (<em>Sutta Piṭaka</em>),&nbsp;tương ứng&nbsp;với 30 bài&nbsp;<em>Trường A-hàm kinh&nbsp;</em>(S.&nbsp;<em>Dīrgha Āgama,&nbsp;</em>H. 長阿含經). Khái niệm “trường” (<em>dīgha,&nbsp;</em>長) có&nbsp;nghĩa đen&nbsp;là “dài” về số lượng chữ của từng&nbsp;bài kinh&nbsp;trong bộ này. Về&nbsp;tổng số&nbsp;trang,&nbsp;<em>Kinh&nbsp;Trường bộ&nbsp;</em>có số trang&nbsp;ít nhất&nbsp;trong 5&nbsp;bộ kinh&nbsp;Pāli.</p>



<p class="wp-block-paragraph"><em>Kinh&nbsp;Trường bộ&nbsp;</em>nhiều hơn&nbsp;<em>Trường A-hàm kinh&nbsp;</em>trong&nbsp;văn học&nbsp;Hán tạng của phái Dharmaguptaka (Pháp Tạng bộ) 4&nbsp;bài kinh, vốn là bộ đầu tiên trong&nbsp;<em>Đại Chánh tân tu&nbsp;Đại tạng kinh&nbsp;</em>(大正新脩大蔵經,&nbsp;<em>Taishō edition</em>). Có 6 kinh trong&nbsp;<em>Kinh&nbsp;Trường bộ&nbsp;</em>có nội dung trùng lặp hoặc vì&nbsp;quan điểm&nbsp;khác biệt về&nbsp;phương pháp&nbsp;tu tập, nên không có kinh&nbsp;tương ứng&nbsp;trong&nbsp;<em>Trường A-hàm kinh,</em>&nbsp;gồm:&nbsp;<a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Kinh_Ma-ha-li&amp;action=edit&amp;redlink=1"><em>Kinh Mahāli&nbsp;</em></a>(<em>Mahāli Sutta,&nbsp;</em>số 6);&nbsp;<a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Kinh_Xa-li-da&amp;action=edit&amp;redlink=1"><em>Kinh Jāliya&nbsp;</em></a>(<em>Jāliya</em>&nbsp;<em>Sutta,&nbsp;</em>số 7);&nbsp;<a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Kinh_Tu-ba&amp;action=edit&amp;redlink=1"><em>Kinh</em></a><em>&nbsp;</em><a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Kinh_Tu-ba&amp;action=edit&amp;redlink=1"><em>Subha&nbsp;</em></a><a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Kinh_Tu-ba&amp;action=edit&amp;redlink=1">(</a><a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Kinh_Tu-ba&amp;action=edit&amp;redlink=1"><em>S</em></a><em>ubha Sutta,&nbsp;</em>số 10);&nbsp;<a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Kinh_%C3%90%E1%BA%A1i_Ni%E1%BB%87m_X%E1%BB%A9&amp;action=edit&amp;redlink=1"><em>Kinh&nbsp;</em></a><a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Kinh_%C3%90%E1%BA%A1i_Ni%E1%BB%87m_X%E1%BB%A9&amp;action=edit&amp;redlink=1"><em>Đại niệm xứ</em></a>&nbsp;(<em>Mahāsatipaṭṭhāna Sutta,&nbsp;</em>số 22);&nbsp;<a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Kinh_T%C6%B0%E1%BB%9Bng&amp;action=edit&amp;redlink=1"><em>Kinh T</em></a><a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Kinh_T%C6%B0%E1%BB%9Bng&amp;action=edit&amp;redlink=1"><em>ướng</em></a><a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Kinh_T%C6%B0%E1%BB%9Bng&amp;action=edit&amp;redlink=1">&nbsp;</a>(<em>Lakkhaṇa Sutta,&nbsp;</em>số 30), và&nbsp;<em>Kinh A-sá-nang-chi</em>&nbsp;(<em>Āṭānāṭiya Sutta,</em>&nbsp;số 32).<br><em>Kinh&nbsp;Trường bộ&nbsp;</em>và&nbsp;<em>Trường A-hàm kinh&nbsp;</em>có một số điểm dị biệt về thứ tự các&nbsp;bài kinh, cách đặt tựa đề kinh, các khái niệm và nội dung từng&nbsp;bài kinh.<br>Về nội dung,&nbsp;<em>Kinh&nbsp;Trường bộ&nbsp;</em>tường thuật về các đối thoại liên&nbsp;tôn giáo&nbsp;và&nbsp;triết học&nbsp;giữa&nbsp;đức Phật&nbsp;với các&nbsp;đạo sĩ&nbsp;Sa-môn và Bà-la-môn đương thời, thông qua đó, giúp&nbsp;chúng ta&nbsp;hình dung&nbsp;được các&nbsp;phong trào&nbsp;tôn giáo&nbsp;và&nbsp;triết học&nbsp;thời Phật;&nbsp;đồng thời, cho thấy&nbsp;triết học&nbsp;thực tiễn&nbsp;của&nbsp;đạo Phật&nbsp;vượt lên trên các&nbsp;tôn giáo&nbsp;hữu thần&nbsp;và&nbsp;vô thần&nbsp;thời&nbsp;đức Phật.<br>Về phân loại,&nbsp;<em>Kinh&nbsp;Trường bộ</em>&nbsp;được chia thành 3 phẩm (<em>vagga</em>):<br><strong>(i) Phẩm Giới uẩn</strong>&nbsp;(<em>Sīlakkhandhavagga</em>) gồm 13&nbsp;bài kinh&nbsp;nói về&nbsp;đạo đức&nbsp;(<em>sīla</em>) chuẩn mực và thanh cao.<br><strong>(ii) Phẩm</strong>&nbsp;<strong>Đại&nbsp;</strong>(<em>Mahāvagga</em>) gồm 10&nbsp;bài kinh&nbsp;nói về&nbsp;cuộc đời&nbsp;đức Phật&nbsp;và một số&nbsp;giáo pháp&nbsp;căn bản.<br><strong>(iii) Phẩm Pāthika</strong>&nbsp;(<em>Pāthikavagga</em>) gồm 11&nbsp;bài kinh&nbsp;giới thiệu&nbsp;về&nbsp;vũ trụ luận, cách tu của&nbsp;ngoại đạo,&nbsp;trách nhiệm&nbsp;gia đình,&nbsp;xã hội&nbsp;và&nbsp;tâm linh.<br>Về bản dịch tiếng Anh,&nbsp;hiện có&nbsp;3 bản dịch Anh ngữ hoàn chỉnh và một số bản&nbsp;trích dịch. Quyển&nbsp;<em>Dialogues of the Buddha</em>&nbsp;(<em>Đối thoại của&nbsp;đức Phật</em>) do T. W. Rhys Davids và C. A. F. Rhys Davids dịch, 3 quyển, NXB. Pali Text Society, năm 1899-1921 là bản dịch sớm nhất. Bản dịch của Maurice Walshe với tựa đề:&nbsp;<em>The Long Discourses of the Buddha</em>:<em>&nbsp;A Translation of the Dīgha Nikāya</em>&nbsp;(<em>Các&nbsp;bài kinh&nbsp;dài của&nbsp;đức Phật</em>:<em>&nbsp;Bản&nbsp;dịch Kinh&nbsp;Trường bộ</em>) do NXB. Wisdom Publications, Boston, năm 1987; tựa gốc trong bản tiếng Anh là:&nbsp;<em>Thus Have I Heard</em>&nbsp;(<em>Tôi nghe&nbsp;như vầy</em>). Bản dịch của Bhikkhu Sujato có tựa đề:&nbsp;<em>The</em>&nbsp;<em>Long Discourses</em>&nbsp;(<em>Các&nbsp;bài kinh&nbsp;dài</em>), xuất bản năm 2018 dưới dạng E-book (gồm Epub, Kindle, PDF, MS Word)&nbsp;miễn phí&nbsp;tại trang SuttaCentral (<em>www.suttacentral.net</em>).<br>Ngoài ra, còn có các quyển&nbsp;trích dịch&nbsp;gồm:&nbsp;<em>Long Discourses of the Buddha</em>&nbsp;(<em>Các&nbsp;bài kinh&nbsp;dài của&nbsp;đức Phật</em>) do A. A. G. Bennett dịch và&nbsp;ấn hành&nbsp;tại Bombay năm 1958 gồm các kinh 1-16.&nbsp;Tác phẩm&nbsp;<em>The Buddha’s Philosophy of Man</em>:<em>&nbsp;Early Indian Buddhist Dialogues</em>&nbsp;(<em>Triết học&nbsp;về&nbsp;con người&nbsp;của&nbsp;đức Phật</em>:<em>&nbsp;Các cuộc đối thoại của&nbsp;Phật giáo&nbsp;Ấn Độ&nbsp;thời kỳ&nbsp;đầu</em>) do Rhys Davids tuyển dịch và Trevor Ling&nbsp;biên tập, NXB. Everyman, London, chọn dịch 10 kinh gồm các kinh số 2, 4, 5, 9, 12, 16, 22, 25, 27, 31. Quyển&nbsp;<em>Ten Suttas from Dīgha Nikāya</em>&nbsp;(<em>Mười kinh dài trong Kinh&nbsp;Trường bộ</em>) do Burma Piṭaka Association&nbsp;ấn hành&nbsp;tại Rangoon, 1985, gồm các kinh 1, 2, 9, 15, 16, 22, 26, 28, 29, 31.<br>Tại&nbsp;Việt Nam, bản dịch của&nbsp;Trưởng lão&nbsp;Hòa thượng&nbsp;Thích&nbsp;Minh Châu&nbsp;với tựa đề&nbsp;<em>Kinh&nbsp;Trường bộ</em>, xuất bản 3 lần mới trọn bộ. Lần thứ nhất vào năm 1965 với 3&nbsp;kinh đầu, lần thứ hai vào năm 1967 với 10 kinh (4-13), lần thứ ba vào năm 1972 với 21 kinh (14-34) chia thành 2 tập. Như vậy,&nbsp;<em>Kinh&nbsp;Trường bộ&nbsp;</em>trong giai đoạn đầu gồm 4 tập. Từ năm 1991&nbsp;đến nay, bộ này được tái bản nhiều lần, 2 tập rồi 1 tập. Bản dịch này của&nbsp;Trưởng lão&nbsp;Hòa thượng&nbsp;Thích&nbsp;Minh Châu&nbsp;được xem là bản dịch&nbsp;trung thành&nbsp;với nguyên tác Pāli, góp phần làm thay đổi&nbsp;tích cực&nbsp;hệ thống&nbsp;Phật học&nbsp;tại&nbsp;Việt Nam&nbsp;trong hơn bảy thập niên qua.</p>



<p class="wp-block-paragraph"><strong>II. KHÁI QUÁT NỘI DUNG<br>A. Phẩm Giới uẩn&nbsp;</strong>(<em>Sīlakkhandhavagga</em>)</p>



<p class="wp-block-paragraph"><strong>1.</strong>&nbsp;<a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Kinh_Ph%E1%BA%A1m_v%C3%B5ng&amp;action=edit&amp;redlink=1"><strong><em>Kinh Phạm võng</em></strong></a><a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Kinh_Ph%E1%BA%A1m_v%C3%B5ng&amp;action=edit&amp;redlink=1">&nbsp;</a>(P.&nbsp;<em>Brahmajāla Sutta</em>, H. 梵網經, “Tấm lưới của Phạm thiên”) tương đương&nbsp;<em>Phạm động</em>&nbsp;<em>kinh</em>.<a href="http://vncphathoc.com/dai-tang-kinh-viet-nam/kinh-truong-bo/dan-luan-kinh-truong-bo.html#_ftn1"><sup>[1]</sup></a>&nbsp;Nhân vì hai thầy trò du sĩ&nbsp;ngoại đạo&nbsp;có&nbsp;quan điểm&nbsp;trái ngược, người thầy là Suppiya dùng nhiều lời&nbsp;chỉ trích&nbsp;đức Phật, trong khi&nbsp;đệ tử&nbsp;là Brahmadatta lại dùng nhiều lời&nbsp;tán thán,&nbsp;đức Phật&nbsp;đã dạy cách ứng xử&nbsp;thản nhiên&nbsp;trước lời&nbsp;thị phi,&nbsp;đồng thời&nbsp;giới thiệu&nbsp;ba cấp&nbsp;giới hạnh:&nbsp;Giới hạnh&nbsp;nhỏ,&nbsp;giới hạnh&nbsp;vừa,&nbsp;giới hạnh&nbsp;lớn.&nbsp;Ngoài ra,&nbsp;đức Phật&nbsp;phê bình&nbsp;và dạy cách&nbsp;chuyển hóa&nbsp;62&nbsp;kiến chấp&nbsp;gồm 18&nbsp;kiến chấp&nbsp;về&nbsp;quá khứ&nbsp;(Thường trú luận,&nbsp;Vô thường&nbsp;luận,&nbsp;Thế giới&nbsp;hữu biên&nbsp;hay&nbsp;vô biên, Thuyết&nbsp;ngụy biện&nbsp;và&nbsp;Vô nhân&nbsp;luận) và 44&nbsp;kiến chấp&nbsp;về tương lai (gồm&nbsp;Hữu tưởng luận,&nbsp;Vô tưởng luận,&nbsp;Phi hữu tưởng phi vô tưởng luận,&nbsp;Đoạn diệt luận,&nbsp;Hiện tại&nbsp;Niết-bàn luận).<br><strong>2.</strong>&nbsp;<a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Kinh_Sa-m%C3%B4n_qu%E1%BA%A3&amp;action=edit&amp;redlink=1"><strong><em>Kinh Sa-môn quả</em></strong></a><a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Kinh_Sa-m%C3%B4n_qu%E1%BA%A3&amp;action=edit&amp;redlink=1">&nbsp;</a>(P.&nbsp;<em>Sāmaññaphala Sutta,&nbsp;</em>H. 沙門果經) tương đương kinh cùng tên trong bộ&nbsp;<em>Trường A-hàm</em>.<a href="http://vncphathoc.com/dai-tang-kinh-viet-nam/kinh-truong-bo/dan-luan-kinh-truong-bo.html#_ftn2"><sup>[2]</sup></a>&nbsp;Nhân dịp&nbsp;Vua Ajātasattu nhờ&nbsp;đức Phật&nbsp;cứu độ&nbsp;về tội giết cha,&nbsp;đức Phật&nbsp;giải thích&nbsp;tác hại&nbsp;tà thuyết&nbsp;của sáu&nbsp;ngoại Đạo&nbsp;sư: (i) Thuyết Không có&nbsp;nghiệp báo&nbsp;của Pūraṇa Kassapa; (ii)&nbsp;Thuyết Luân hồi&nbsp;tịnh hóa của Makkhali Gosāla; (iii)&nbsp;Thuyết Đoạn diệt&nbsp;của Ajita Kesakambala; (iv) Thuyết Bảy thân&nbsp;bất hoại&nbsp;của Pakudha Kaccāyana; (v) Thuyết Lõa thể với bốn&nbsp;cấm giới&nbsp;của Nigaṇṭha Nāṭaputta; (vi) Thuyết&nbsp;Ngụy biện&nbsp;của Sañjaya Belaṭṭhaputta.&nbsp;Đồng thời,&nbsp;đức Phật&nbsp;giải thích&nbsp;về các&nbsp;công đức&nbsp;của bậc&nbsp;chân tu: Được kính nể,&nbsp;tăng trưởng&nbsp;đạo đức, làm chủ&nbsp;giác quan,&nbsp;chánh niệm&nbsp;tỉnh giác,&nbsp;thiểu dục tri túc, dứt năm&nbsp;trói buộc&nbsp;tâm,&nbsp;chứng đắc&nbsp;bốn thiền,&nbsp;thành tựu&nbsp;trí tuệ,&nbsp;đạt được&nbsp;các&nbsp;thần thông&nbsp;và&nbsp;giải thoát tri kiến.<br><strong>3.<em>&nbsp;Kinh Ambaṭṭha</em></strong>&nbsp;<strong>(<em>A-ma-trú</em>)</strong>&nbsp;(P.&nbsp;<em>Ambaṭṭha Sutta</em>, H. 阿摩晝經) tương đương kinh cùng tên trong bộ&nbsp;<em>Trường A-hàm</em>.<a href="http://vncphathoc.com/dai-tang-kinh-viet-nam/kinh-truong-bo/dan-luan-kinh-truong-bo.html#_ftn3"><sup>[3]</sup></a>&nbsp;Trước&nbsp;thái độ&nbsp;cao ngạo về huyết thống của Ambaṭṭha,&nbsp;đức Phật&nbsp;truy nguồn gốc mẹ của Ambaṭṭha là nữ tỳ của&nbsp;dòng họ&nbsp;Sākya. Phủ định&nbsp;giai cấp,&nbsp;đức Phật&nbsp;khẳng định rằng người nào có&nbsp;giới hạnh&nbsp;và&nbsp;trí tuệ&nbsp;đầy đủ sẽ&nbsp;trở thành&nbsp;tối thắng&nbsp;giữa&nbsp;loài người. Nhân đó,&nbsp;đức Phật&nbsp;giảng về&nbsp;Tứ diệu đế,&nbsp;bố thí, sống&nbsp;đạo đức, quả phước ở các&nbsp;cõi trời.<br><strong>4.</strong>&nbsp;<a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Kinh_Ch%E1%BB%A7ng_%C3%90%E1%BB%A9c&amp;action=edit&amp;redlink=1"><strong><em>Kinh Chủng Đức</em></strong></a><a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Kinh_Ch%E1%BB%A7ng_%C3%90%E1%BB%A9c&amp;action=edit&amp;redlink=1">&nbsp;</a>(P.&nbsp;<em>Soṇaḍaṇḍa Sutta</em>, H. 種德經) tương đương kinh cùng tên trong bộ&nbsp;<em>Trường A-hàm.</em><a href="http://vncphathoc.com/dai-tang-kinh-viet-nam/kinh-truong-bo/dan-luan-kinh-truong-bo.html#_ftn4"><sup>[4]</sup></a>&nbsp;Nhân dịp&nbsp;các Bà-la-môn cao ngạo rằng mình là người có huyết thống&nbsp;thuần khiết&nbsp;bảy đời,&nbsp;thông hiểu&nbsp;ba bộ Vệ-đà, giỏi&nbsp;thần chú,&nbsp;tướng mạo&nbsp;đoan trang, đầy đủ&nbsp;đức hạnh,&nbsp;sáng suốt&nbsp;trí tuệ,&nbsp;đức Phật&nbsp;cho rằng&nbsp;trí tuệ&nbsp;và&nbsp;đạo đức&nbsp;làm cho&nbsp;con người&nbsp;trở nên&nbsp;tối thắng, chứ không phải&nbsp;giai cấp&nbsp;và huyết thống. Nơi nào có&nbsp;trí tuệ, nơi ấy có&nbsp;đạo đức. Theo&nbsp;đức Phật, người xứng danh Bà-la-môn phải là người&nbsp;thành tựu&nbsp;trí tuệ,&nbsp;đạo đức.<br><strong>5.&nbsp;</strong><a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Kinh_C%E1%BB%A9u-la-%C4%91%C3%A0n-%C4%91%E1%BA%A7u&amp;action=edit&amp;redlink=1"><strong><em>Kinh Cứu-la-đàn-đầu</em></strong></a>&nbsp;(P.&nbsp;<em>Kūṭadanta Sutta</em>, H. 究羅檀頭經) tương đương kinh cùng tên trong bộ&nbsp;<em>Trường A-hàm.</em><a href="http://vncphathoc.com/dai-tang-kinh-viet-nam/kinh-truong-bo/dan-luan-kinh-truong-bo.html#_ftn5"><sup>[5]</sup></a>&nbsp;Trái với&nbsp;các&nbsp;lễ tế&nbsp;đàn của Bà-la-môn: Đẫm máu, chặt cây, phạt nô tỳ…&nbsp;đức Phật&nbsp;dạy&nbsp;tế đàn&nbsp;cao quý bằng cách&nbsp;cúng dường&nbsp;người&nbsp;đạo đức,&nbsp;xây dựng&nbsp;tự viện,&nbsp;quy ngưỡng&nbsp;Tam bảo, giữ năm&nbsp;đạo đức,&nbsp;chứng đắc&nbsp;bốn thiền&nbsp;và giúp người thấy và sống với&nbsp;chân lý. Để&nbsp;chấm dứt&nbsp;các tệ nạn, làm cho&nbsp;xã hội&nbsp;an bình,&nbsp;đức Phật&nbsp;cho rằng hình phạt không phải là&nbsp;giải pháp, mà chính là việc hỗ trợ&nbsp;nhân dân&nbsp;đúng thời, đúng cách.<br><strong>6.&nbsp;</strong><a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Kinh_Ma-ha-li&amp;action=edit&amp;redlink=1"><strong><em>Kinh Mahāli&nbsp;</em></strong></a><a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Kinh_Ma-ha-li&amp;action=edit&amp;redlink=1">(</a>P.&nbsp;<em>Mahāli Sutta</em>, H. 摩訶梨經) không có bản tương đương trong bộ&nbsp;<em>Trường A-hàm.&nbsp;</em>Thay vì các Bà-la-môn bị vướng kẹt vào thiên sắc, thiên âm và&nbsp;tranh luận&nbsp;vô ích&nbsp;về&nbsp;thân thể, về&nbsp;quan điểm&nbsp;“tâm thức là một hay khác”;&nbsp;đức Phật&nbsp;dạy&nbsp;con đường&nbsp;kết thúc&nbsp;khổ đau bằng cách&nbsp;chuyên tu&nbsp;đạo đức&nbsp;qua ba cấp (tiểu giới, trung giới,&nbsp;đại giới), đạt bốn cấp&nbsp;thiền định, phát triển&nbsp;trí tuệ, hướng đến sự&nbsp;kết thúc&nbsp;các khổ đau.<br><strong>7.&nbsp;</strong><a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Kinh_Xa-li-da&amp;action=edit&amp;redlink=1"><strong><em>Kinh Jāliya&nbsp;</em></strong></a><a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Kinh_Xa-li-da&amp;action=edit&amp;redlink=1">(</a>P.&nbsp;<em>Jāliya</em>&nbsp;<em>Sutta</em>, H. 闍利經) không có bản tương đương trong bộ&nbsp;<em>Trường A-hàm.&nbsp;</em>Nhân dịp&nbsp;hai vị&nbsp;xuất gia&nbsp;thảo luận&nbsp;về thân và tâm là đồng nhất hay dị biệt,&nbsp;đức Phật&nbsp;hướng dẫn cách phát triển&nbsp;trí tuệ&nbsp;trên nền tảng bốn&nbsp;chân lý&nbsp;Thánh để&nbsp;vượt qua&nbsp;mọi khổ đau.</p>



<p class="wp-block-paragraph"><a href="https://thuvienhoasen.org/images/file/9y2BGTds3AgBAE8O/banner-kinh-mung-phat-dan.jpg"></a></p>



<p class="wp-block-paragraph"><strong>8.&nbsp;</strong><a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Kinh_Ca-di%E1%BA%BFp_S%C6%B0_t%E1%BB%AD_h%E1%BB%91ng&amp;action=edit&amp;redlink=1"><strong><em>Kinh Ca-diếp Sư tử hống</em></strong></a><a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Kinh_Ca-di%E1%BA%BFp_S%C6%B0_t%E1%BB%AD_h%E1%BB%91ng&amp;action=edit&amp;redlink=1">&nbsp;</a>(P.&nbsp;<em>Kassapasīhanāda</em><em>Sutta,&nbsp;</em>H. 迦叶狮子吼經) tương đương&nbsp;<em>Lõa hình&nbsp;Phạm chí&nbsp;kinh</em>.<a href="http://vncphathoc.com/dai-tang-kinh-viet-nam/kinh-truong-bo/dan-luan-kinh-truong-bo.html#_ftn6"><sup>[6]</sup></a>&nbsp;Ngoài việc&nbsp;chứng minh&nbsp;tác hại&nbsp;của&nbsp;tu khổ hạnh&nbsp;ép xác&nbsp;của đạo Bà-la-môn,&nbsp;đức Phật&nbsp;dạy hạnh tu khó làm,&nbsp;bao gồm&nbsp;phát triển&nbsp;tâm từ&nbsp;bi, giữ đầy đủ các điều&nbsp;đạo đức&nbsp;nhỏ, vừa và lớn, làm chủ các&nbsp;giác quan,&nbsp;giải thoát&nbsp;các&nbsp;trói buộc&nbsp;bằng&nbsp;trí tuệ&nbsp;và chứng đạt&nbsp;bốn thiền&nbsp;nhằm&nbsp;vượt qua&nbsp;các khổ đau.<br><strong>9.&nbsp;</strong><a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Kinh_B%E1%BB%91-s%C3%A1-ba-l%C3%A2u&amp;action=edit&amp;redlink=1"><strong><em>Kinh Poṭṭhapāda&nbsp;</em></strong></a><a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Kinh_B%E1%BB%91-s%C3%A1-ba-l%C3%A2u&amp;action=edit&amp;redlink=1"><strong>(</strong></a><a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Kinh_B%E1%BB%91-s%C3%A1-ba-l%C3%A2u&amp;action=edit&amp;redlink=1"><strong><em>Bố-tra-bà-lâu</em></strong></a><a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Kinh_B%E1%BB%91-s%C3%A1-ba-l%C3%A2u&amp;action=edit&amp;redlink=1"><strong>)</strong></a><a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Kinh_B%E1%BB%91-s%C3%A1-ba-l%C3%A2u&amp;action=edit&amp;redlink=1">&nbsp;</a>(P.&nbsp;<em>Poṭṭhapāda Sutta</em>, H. 布吒婆楼經) tương đương&nbsp;bài kinh&nbsp;cùng tựa đề trong bộ&nbsp;<em>Trường A-hàm</em>.<a href="http://vncphathoc.com/dai-tang-kinh-viet-nam/kinh-truong-bo/dan-luan-kinh-truong-bo.html#_ftn7"><sup>[7]</sup></a>&nbsp;Kinh này dạy cách&nbsp;chấm dứt&nbsp;các tạp tưởng bằng&nbsp;phương pháp&nbsp;sống&nbsp;đạo đức,&nbsp;tu tập thiền&nbsp;định, phát triển&nbsp;trí tuệ&nbsp;để&nbsp;vượt qua&nbsp;ba hình thái:&nbsp;Chấp ngã&nbsp;qua&nbsp;hình tướng,&nbsp;chấp ngã&nbsp;qua các&nbsp;đặc điểm&nbsp;thân,&nbsp;chấp ngã&nbsp;quá khứ&nbsp;và tương lai. Không nên mất&nbsp;thời giờ&nbsp;cho các&nbsp;câu chuyện&nbsp;siêu hình, hãy siêng tu bốn&nbsp;chân lý&nbsp;Thánh để&nbsp;giác ngộ&nbsp;và&nbsp;giải thoát.<br><strong>10.&nbsp;</strong><a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Kinh_Tu-ba&amp;action=edit&amp;redlink=1"><strong><em>Kinh Subha&nbsp;</em></strong></a><a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Kinh_Tu-ba&amp;action=edit&amp;redlink=1"><strong>(</strong></a><a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Kinh_Tu-ba&amp;action=edit&amp;redlink=1"><strong><em>Tu-b</em></strong></a><strong><em>à</em>)</strong>&nbsp;(P.&nbsp;<em>Subha Sutta</em>, H. 須婆經) không có kinh tương đương trong bộ&nbsp;<em>Trường A-hàm</em>, được&nbsp;Tôn giả&nbsp;Ānanda giảng sau khi&nbsp;đức Phật&nbsp;nhập Niết-bàn,&nbsp;nhấn mạnh&nbsp;tầm quan trọng của việc&nbsp;tu tập đạo đức,&nbsp;thiền định&nbsp;và&nbsp;trí tuệ.<br><strong>11.&nbsp;</strong><a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Kinh_Ki%C3%AAn-c%E1%BB%91&amp;action=edit&amp;redlink=1"><strong><em>Kinh Kevaddha&nbsp;</em></strong></a><a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Kinh_Ki%C3%AAn-c%E1%BB%91&amp;action=edit&amp;redlink=1"><strong>(</strong></a><a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Kinh_Ki%C3%AAn-c%E1%BB%91&amp;action=edit&amp;redlink=1"><strong><em>Kiên Cố</em></strong></a><strong>)</strong>&nbsp;(P.&nbsp;<em>Kevaddha Sutta</em>, H. 堅固經) tương đương&nbsp;bài kinh&nbsp;cùng tên trong bộ&nbsp;<em>Trường A-hàm.</em><sup>8</sup><em>&nbsp;</em>Thấy sự nguy hiểm và&nbsp;mặt trái&nbsp;của việc biểu diễn các&nbsp;thần thông&nbsp;biến hóa,&nbsp;đức Phật&nbsp;đề cao “giáo hóa thần thông” tức “giáo dục là phép mầu”&nbsp;chuyển hóa&nbsp;khổ đau bằng cách&nbsp;giáo dục&nbsp;đạo đức&nbsp;và&nbsp;thiền định&nbsp;để&nbsp;chấm dứt&nbsp;năm&nbsp;trói buộc&nbsp;tâm, trải nghiệm tâm thơ thới,&nbsp;hoan hỷ,&nbsp;khinh an,&nbsp;lạc thọ, định tĩnh.&nbsp;Đồng thời,&nbsp;đức Phật&nbsp;khẳng định&nbsp;Thượng đế&nbsp;không có thật, nếu có thì&nbsp;Thượng đế&nbsp;không phải là đấng&nbsp;Toàn trí,&nbsp;Toàn năng&nbsp;và Toàn bi.<br><strong>12.&nbsp;</strong><a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Kinh_L%C3%B4-gi%C3%A0&amp;action=edit&amp;redlink=1"><strong><em>Kinh Lohicca&nbsp;</em></strong></a><a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Kinh_L%C3%B4-gi%C3%A0&amp;action=edit&amp;redlink=1"><strong>(</strong></a><a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Kinh_L%C3%B4-gi%C3%A0&amp;action=edit&amp;redlink=1"><strong><em>Lộ-già</em></strong></a><a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Kinh_L%C3%B4-gi%C3%A0&amp;action=edit&amp;redlink=1"><strong>)</strong></a>&nbsp;(P.&nbsp;<em>Lohicca Sutta</em>, H. 露遮經) tương đương&nbsp;bài kinh&nbsp;cùng tựa đề trong bộ&nbsp;<em>Trường A-hàm.</em><a href="http://vncphathoc.com/dai-tang-kinh-viet-nam/kinh-truong-bo/dan-luan-kinh-truong-bo.html#_ftn8"><sup>[8]</sup></a>&nbsp;Khi được hỏi tại sao nhiều Sa-môn và Bà-la-môn đạt&nbsp;thiện pháp&nbsp;nhưng&nbsp;ích kỷ,&nbsp;không giáo&nbsp;huấn&nbsp;tha nhân,&nbsp;đức Phật&nbsp;phê phán 3 loại&nbsp;Đạo sư: (i) Không&nbsp;tự giác, không&nbsp;giác tha; (ii) Không&nbsp;tự giác&nbsp;nhưng&nbsp;giác tha; (iii)&nbsp;Tự giác&nbsp;nhưng không&nbsp;giác tha.&nbsp;Đồng thời,&nbsp;đức Phật&nbsp;đề cao hạng&nbsp;Đạo sư&nbsp;“tự giác và giác tha”, gồm&nbsp;tu đạo&nbsp;đức thanh&nbsp;cao,&nbsp;thực tập&nbsp;bốn thiền, tháo mở các&nbsp;trói buộc&nbsp;tâm,&nbsp;tinh tấn&nbsp;truyền bá&nbsp;Chánh pháp&nbsp;để giúp&nbsp;mọi người&nbsp;được&nbsp;lợi ích&nbsp;và an vui.<br><strong>13.&nbsp;</strong><a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Kinh_Tam_Minh&amp;action=edit&amp;redlink=1"><strong><em>Kinh Tam minh</em></strong></a>&nbsp;(P.&nbsp;<em>Tevijja Sutta</em>, H. 三明經) tương đương&nbsp;bài kinh&nbsp;cùng tựa đề trong<em>&nbsp;</em>bộ&nbsp;<em>Trường A-hàm.</em><a href="http://vncphathoc.com/dai-tang-kinh-viet-nam/kinh-truong-bo/dan-luan-kinh-truong-bo.html#_ftn9"><sup>[9]</sup></a><em>&nbsp;</em>Nhân hai vị Bà-la-môn&nbsp;tranh luận&nbsp;về việc cộng trú ở&nbsp;cõi trời&nbsp;Phạm thiên,&nbsp;đức Phật&nbsp;khẳng định rằng các Bà-la-môn còn&nbsp;dục ái, hận tâm,&nbsp;sân tâm&nbsp;và&nbsp;nhiễm tâm&nbsp;không thể nào cộng trú ở&nbsp;cõi trời&nbsp;Phạm thiên&nbsp;được, bởi nơi đây đã&nbsp;vắng mặt&nbsp;hoàn toàn&nbsp;các uế trược này. Ngược lại, một vị Tỳ-kheo đoạn trừ sạch năm&nbsp;triền cái,&nbsp;an trú&nbsp;biến mãn với tâm có từ, bi, hỷ, xả có thể cộng trú ở&nbsp;cõi trời&nbsp;Phạm thiên. Theo đó,&nbsp;đức Phật&nbsp;khích lệ&nbsp;đại chúng&nbsp;tu tập&nbsp;bốn tâm vô lượng&nbsp;gồm từ, bi, hỷ, xả;&nbsp;kết thúc&nbsp;năm&nbsp;trói buộc&nbsp;tâm,&nbsp;vượt qua&nbsp;năm dục&nbsp;lạc để có được&nbsp;an lạc&nbsp;bây giờ và tại đây.</p>



<p class="wp-block-paragraph"><strong>B. Phẩm Đại</strong>&nbsp;(<em>Mahāvagga</em>)</p>



<p class="wp-block-paragraph"><strong>14.&nbsp;</strong><a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Kinh_%C4%90%E1%BA%A1i_B%E1%BB%95n&amp;action=edit&amp;redlink=1"><strong><em>Kinh&nbsp;</em></strong></a><a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Kinh_%C4%90%E1%BA%A1i_B%E1%BB%95n&amp;action=edit&amp;redlink=1"><strong><em>Đại bổn</em></strong></a><a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Kinh_%C4%90%E1%BA%A1i_B%E1%BB%95n&amp;action=edit&amp;redlink=1">&nbsp;</a>(P.&nbsp;<em>Mahāpadāna Sutta,&nbsp;</em>H. 大本經) tương đương&nbsp;bài kinh&nbsp;cùng tựa đề trong bộ&nbsp;<em>Trường A-hàm.</em><a href="http://vncphathoc.com/dai-tang-kinh-viet-nam/kinh-truong-bo/dan-luan-kinh-truong-bo.html#_ftn10"><sup>[10]</sup></a><em>&nbsp;</em>Kinh này kể các tích truyện về&nbsp;sáu vị&nbsp;Phật&nbsp;quá khứ&nbsp;trước Phật Thích-ca gồm:&nbsp;Cách sinh&nbsp;đứng, có 32&nbsp;tướng Đại&nbsp;nhân,&nbsp;xuất gia&nbsp;vì&nbsp;lý tưởng, khuyến khích&nbsp;tu tập đạo đức&nbsp;và&nbsp;thiền định,&nbsp;thuyết pháp&nbsp;phù hợp&nbsp;căn tính,&nbsp;truyền bá&nbsp;bốn&nbsp;sự thật&nbsp;vì lòng thương tưởng đời, mang lại&nbsp;hạnh phúc&nbsp;cho&nbsp;mọi người.<br><strong>15.&nbsp;</strong><a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Kinh_%C4%90%E1%BA%A1i_duy%C3%AAn&amp;action=edit&amp;redlink=1"><strong><em>Kinh&nbsp;</em></strong></a><a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Kinh_%C4%90%E1%BA%A1i_duy%C3%AAn&amp;action=edit&amp;redlink=1"><strong><em>Đại duyên</em></strong></a><a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Kinh_%C4%90%E1%BA%A1i_duy%C3%AAn&amp;action=edit&amp;redlink=1">&nbsp;</a>(P.&nbsp;<em>Mahānidāna Sutta,&nbsp;</em>H. 大緣經) tương đương&nbsp;<em>Đại duyên&nbsp;phương tiện&nbsp;kinh</em>.<a href="http://vncphathoc.com/dai-tang-kinh-viet-nam/kinh-truong-bo/dan-luan-kinh-truong-bo.html#_ftn11"><sup>[11]</sup></a><em>&nbsp;</em>Trong kinh này,&nbsp;đức Phật&nbsp;dạy rõ sự&nbsp;hỗ tương&nbsp;của chín&nbsp;nhân duyên&nbsp;căn bản&nbsp;gồm: Thức,&nbsp;danh sắc, xúc, thọ, ái, thủ, hữu, sinh,&nbsp;lão tử&nbsp;theo hai chiều thuận và nghịch. Chính chín mắc xích sự sống này khiến người thiếu trí làm&nbsp;việc bất thiện, chịu khổ đau&nbsp;trong vòng&nbsp;luân hồi.&nbsp;Bài kinh&nbsp;còn nêu các&nbsp;quan niệm&nbsp;ngã chấp&nbsp;sai lầm, bảy trú xứ của thức, và việc&nbsp;tu tập&nbsp;giải thoát&nbsp;qua tám cách khác nhau.<br><strong>16.&nbsp;</strong><a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Kinh_%C4%90%E1%BA%A1i_B%C3%A1t-ni%E1%BA%BFt-b%C3%A0n&amp;action=edit&amp;redlink=1"><strong><em>Kinh&nbsp;</em></strong></a><a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Kinh_%C4%90%E1%BA%A1i_B%C3%A1t-ni%E1%BA%BFt-b%C3%A0n&amp;action=edit&amp;redlink=1"><strong><em>Đại Bát-niết-bàn</em></strong></a><a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Kinh_%C4%90%E1%BA%A1i_B%C3%A1t-ni%E1%BA%BFt-b%C3%A0n&amp;action=edit&amp;redlink=1">&nbsp;</a>(P.&nbsp;<em>Mahāparinibbāna Sutta,&nbsp;</em>H. 大般涅槃經) tương đương với&nbsp;<em>Du hành&nbsp;kinh</em>.<a href="http://vncphathoc.com/dai-tang-kinh-viet-nam/kinh-truong-bo/dan-luan-kinh-truong-bo.html#_ftn12"><sup>[12]</sup></a>&nbsp;Trước lúc nhập Niết-bàn,&nbsp;đức Phật&nbsp;ôn lại những&nbsp;giáo pháp&nbsp;căn bản: Bảy&nbsp;sức mạnh&nbsp;của&nbsp;quốc gia&nbsp;và&nbsp;Tăng đoàn, bảy&nbsp;tài sản&nbsp;Thánh,&nbsp;bảy yếu tố giác ngộ, bảy pháp&nbsp;quán tưởng&nbsp;dứt trừ khổ đau, sáu&nbsp;yếu tố&nbsp;hòa hợp,&nbsp;vai trò&nbsp;của Giới &#8211; Định &#8211; Tuệ, năm nguy hiểm do&nbsp;phạm giới,&nbsp;Tứ Thánh đế,&nbsp;cảnh giới&nbsp;tái sinh, tin sâu&nbsp;Tam bảo, tu&nbsp;chánh niệm,&nbsp;phát tâm&nbsp;cúng dường, không có&nbsp;mật pháp&nbsp;và&nbsp;thành tựu&nbsp;tám giải thoát.<br><strong>17.&nbsp;</strong><a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Kinh_%C3%90%E1%BA%A1i_Thi%E1%BB%87n_Ki%E1%BA%BFn_V%C6%B0%C6%A1ng&amp;action=edit&amp;redlink=1"><strong><em>Kinh&nbsp;</em></strong></a><a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Kinh_%C3%90%E1%BA%A1i_Thi%E1%BB%87n_Ki%E1%BA%BFn_V%C6%B0%C6%A1ng&amp;action=edit&amp;redlink=1"><strong><em>Đại Thiện Kiến Vương</em></strong></a><a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Kinh_%C3%90%E1%BA%A1i_Thi%E1%BB%87n_Ki%E1%BA%BFn_V%C6%B0%C6%A1ng&amp;action=edit&amp;redlink=1">&nbsp;</a>(P.&nbsp;<em>Mahāsudassana Sutta</em>, H. 大善見王經).<a href="http://vncphathoc.com/dai-tang-kinh-viet-nam/kinh-truong-bo/dan-luan-kinh-truong-bo.html#_ftn13"><sup>[13]</sup></a>&nbsp;Đức Phật&nbsp;giải thích&nbsp;lý do&nbsp;chọn Kusinārā làm nơi xả bỏ&nbsp;thân tứ đại&nbsp;như&nbsp;truyền thống&nbsp;nhập Niết-bàn của chư Phật&nbsp;quá khứ.&nbsp;Đồng thời,&nbsp;đức Phật&nbsp;kể về kiếp&nbsp;quá khứ&nbsp;của Ngài làm Vua&nbsp;Đại Thiện Kiến&nbsp;thích&nbsp;bố thí, không&nbsp;bóc lột&nbsp;chư hầu,&nbsp;xây dựng&nbsp;Chánh pháp&nbsp;khắp đất nước, dứt&nbsp;dục vọng,&nbsp;sân hận,&nbsp;não hại; tu từ, bi, hỷ, xả,&nbsp;chứng đắc&nbsp;bốn thiền,&nbsp;an nhiên&nbsp;trong&nbsp;sinh tử.<br><strong>18.&nbsp;</strong><a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Kinh_Xa-ni-sa&amp;action=edit&amp;redlink=1"><strong><em>Kinh X</em></strong></a><a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Kinh_Xa-ni-sa&amp;action=edit&amp;redlink=1"><strong><em>à</em></strong></a><a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Kinh_Xa-ni-sa&amp;action=edit&amp;redlink=1"><strong><em>-ni-sa</em></strong></a><a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Kinh_Xa-ni-sa&amp;action=edit&amp;redlink=1">&nbsp;</a>(P.&nbsp;<em>Janavasabha Sutta</em>, H. 闍尼沙經) tương đương&nbsp;bài kinh&nbsp;cùng tựa đề trong&nbsp;<em>Trường A-hàm</em>&nbsp;<em>kinh.</em><a href="http://vncphathoc.com/dai-tang-kinh-viet-nam/kinh-truong-bo/dan-luan-kinh-truong-bo.html#_ftn14"><sup>[14]</sup></a><em>&nbsp;</em>Vua Bimbisāra (Tần-bà-sa-la)&nbsp;tái sinh&nbsp;vào&nbsp;cõi trời&nbsp;Cātummahārājika (Tứ Thiên Vương), khen ngợi&nbsp;giáo pháp&nbsp;Phật có khả năng giúp người tu&nbsp;tái sinh&nbsp;thiên giới, hưởng các phước báu to lớn. Tại&nbsp;cõi trời,&nbsp;tiếp tục&nbsp;phát triển thiện dục,&nbsp;tinh tấn,&nbsp;thiền định,&nbsp;tu tâm; tu bốn&nbsp;chánh niệm, tám&nbsp;chánh đạo&nbsp;và&nbsp;truyền bá&nbsp;Phật pháp, mở cửa&nbsp;bất tử&nbsp;cho&nbsp;con người.<br><strong>19.&nbsp;</strong><a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Kinh_%C3%90%E1%BA%A1i_%C3%90i%C3%AAn-t%C3%B4n&amp;action=edit&amp;redlink=1"><strong><em>Kinh Đại Điển Tôn</em></strong></a>&nbsp;(P.&nbsp;<em>Mahāgovinda Sutta</em>, H. 大典尊經) tương đương&nbsp;<em>Điển Tôn</em>&nbsp;<em>kinh.</em><a href="http://vncphathoc.com/dai-tang-kinh-viet-nam/kinh-truong-bo/dan-luan-kinh-truong-bo.html#_ftn15"><sup>[15]</sup></a><em>&nbsp;</em>Kinh nói về&nbsp;kiếp trước&nbsp;của&nbsp;đức Phật&nbsp;làm&nbsp;Quốc sư&nbsp;Govinda. Sau khi giúp đất nước và&nbsp;nhân dân&nbsp;được&nbsp;giàu có, Govinda đi tu, bỏ lại tất cả&nbsp;lạc thú. Khi&nbsp;giác ngộ, Ngài&nbsp;truyền bá&nbsp;Bát chánh đạo, giúp&nbsp;mọi người&nbsp;giác ngộ&nbsp;và chứng Niết-bàn. Qua đó,&nbsp;đức Phật&nbsp;giải thích&nbsp;lý tưởng&nbsp;độ sinh&nbsp;vì thương đời,&nbsp;truyền bá giáo pháp&nbsp;với năm&nbsp;đặc điểm: Dạy&nbsp;đạo đức,&nbsp;chỉ đường&nbsp;Niết-bàn, sống chung&nbsp;hòa hợp,&nbsp;lời nói&nbsp;đi đôi&nbsp;việc làm, không cao ngạo.<br><strong>20.&nbsp;</strong><a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Kinh_%C3%90%E1%BA%A1i_H%E1%BB%99i&amp;action=edit&amp;redlink=1"><strong><em>Kinh&nbsp;</em></strong></a><a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Kinh_%C3%90%E1%BA%A1i_H%E1%BB%99i&amp;action=edit&amp;redlink=1"><strong><em>Đại hội</em></strong></a><a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Kinh_%C3%90%E1%BA%A1i_H%E1%BB%99i&amp;action=edit&amp;redlink=1"><em>&nbsp;</em></a>(P.&nbsp;<em>Mahāsamaya Sutta,&nbsp;</em>H. 大會經) tương đương&nbsp;bài kinh&nbsp;cùng tựa đề trong bộ&nbsp;<em>Trường A-hàm.</em><a href="http://vncphathoc.com/dai-tang-kinh-viet-nam/kinh-truong-bo/dan-luan-kinh-truong-bo.html#_ftn16"><sup>[16]</sup></a><em>&nbsp;</em>Chư thiên&nbsp;ở nhiều&nbsp;cõi giới&nbsp;đến&nbsp;thăm viếng,&nbsp;tán dương&nbsp;Phật, nghe&nbsp;chân lý&nbsp;và&nbsp;thực tập&nbsp;chuyển hóa&nbsp;theo hướng dẫn của Phật.<br><strong>21.&nbsp;</strong><a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Kinh_%C3%90%E1%BA%BF-th%C3%ADch_S%C6%A1_V%E1%BA%A5n&amp;action=edit&amp;redlink=1"><strong><em>Kinh Đế-thích sở vấn</em></strong></a>&nbsp;(P.&nbsp;<em>Sakkapañha Sutta,&nbsp;</em>H. 帝釋所問經) tương đương&nbsp;<em>Thích-đề-hoàn-nhân vấn</em>&nbsp;<em>kinh</em>.<a href="http://vncphathoc.com/dai-tang-kinh-viet-nam/kinh-truong-bo/dan-luan-kinh-truong-bo.html#_ftn17"><sup>[17]</sup></a>&nbsp;Đức Phật&nbsp;phân tích mắc xích khổ đau từ&nbsp;hận thù,&nbsp;ganh ghét,&nbsp;bỏn xẻn, ưa ghét;&nbsp;hai mặt&nbsp;của hỷ, ưu và xả; sự dị biệt&nbsp;tôn giáo&nbsp;là do khác nhau về&nbsp;bản chất,&nbsp;nguyên nhân&nbsp;ra đời,&nbsp;mục đích&nbsp;phụng sự.&nbsp;Đồng thời,&nbsp;đức Phật&nbsp;dạy về&nbsp;lợi ích&nbsp;của&nbsp;tâm không&nbsp;còn&nbsp;hận thù&nbsp;và&nbsp;giá trị&nbsp;của nghe và&nbsp;thực tập&nbsp;Chánh pháp.<br><strong>22.&nbsp;</strong><a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Kinh_%C3%90%E1%BA%A1i_Ni%E1%BB%87m_X%E1%BB%A9&amp;action=edit&amp;redlink=1"><strong><em>Kinh&nbsp;</em></strong></a><a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Kinh_%C3%90%E1%BA%A1i_Ni%E1%BB%87m_X%E1%BB%A9&amp;action=edit&amp;redlink=1"><strong><em>Đại niệm xứ</em></strong></a>&nbsp;(P.&nbsp;<em>Mahāsatipaṭṭhāna Sutta</em>, H. 大念處經) tương đương&nbsp;<em>Niệm xứ</em>&nbsp;<em>kinh</em><a href="http://vncphathoc.com/dai-tang-kinh-viet-nam/kinh-truong-bo/dan-luan-kinh-truong-bo.html#_ftn18"><sup>[18]</sup></a>&nbsp;trong bộ&nbsp;<em>Trung A-hàm</em>. Phật dạy phương thức&nbsp;quán sát&nbsp;và làm chủ để đạt&nbsp;chánh niệm,&nbsp;tỉnh thức: (i) Làm chủ&nbsp;hơi thở&nbsp;và sự&nbsp;vận động&nbsp;của thân;&nbsp;thân thể&nbsp;được&nbsp;cấu tạo&nbsp;bởi đất, nước, lửa, gió nên&nbsp;vô thường&nbsp;và nhơ uế; quán 9 giai đoạn&nbsp;tử thi&nbsp;để&nbsp;không chấp&nbsp;thân; (ii)&nbsp;Cảm giác&nbsp;hạnh phúc, khổ đau và&nbsp;trung tính&nbsp;đối với thân, tâm; (iii) Tám cặp&nbsp;đặc tính&nbsp;của tâm gồm tham &#8211; không tham, sân &#8211; không sân, si &#8211; không si, tập trung &#8211;&nbsp;tán loạn,&nbsp;quảng đại&nbsp;&#8211; nhỏ nhoi, hữu hạn &#8211; vô hạn, định &#8211;&nbsp;không định,&nbsp;giải thoát&nbsp;&#8211;&nbsp;trói buộc; (iv) Pháp: Cắt đứt năm&nbsp;trói buộc&nbsp;tâm,&nbsp;không chấp&nbsp;năm uẩn,&nbsp;sáu giác quan&nbsp;và sáu đối tượng&nbsp;giác quan.&nbsp;Đồng thời&nbsp;tu&nbsp;bảy yếu tố giác ngộ, bốn&nbsp;chân lý&nbsp;để&nbsp;kết thúc&nbsp;khổ đau.<br><strong>23.&nbsp;</strong><a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Kinh_T%E1%BB%87_T%C3%BAc&amp;action=edit&amp;redlink=1"><strong><em>Kinh Tệ-tú</em></strong></a><strong><em>c</em></strong>&nbsp;(P.&nbsp;<em>Pāyāsi Sutta</em>, H. 弊宿經) tương đương&nbsp;bài kinh&nbsp;cùng tựa đề trong bộ&nbsp;<em>Trường A-hàm.</em><a href="http://vncphathoc.com/dai-tang-kinh-viet-nam/kinh-truong-bo/dan-luan-kinh-truong-bo.html#_ftn19"><sup>[19]</sup></a>&nbsp;Kinh khắc họa cuộc đối thoại&nbsp;triết học&nbsp;về&nbsp;tái sinh&nbsp;giữa một&nbsp;cao Tăng&nbsp;và một vị vua&nbsp;hoài nghi. Một số dụ ngôn được&nbsp;sử dụng&nbsp;trong kinh này nhằm&nbsp;chứng minh&nbsp;sự thật&nbsp;rằng “chết không phải là hết”, thông qua đó,&nbsp;giáo dục&nbsp;mọi người&nbsp;tin sâu&nbsp;nhân quả, chịu&nbsp;trách nhiệm&nbsp;về những gì mình làm, sống đời&nbsp;đạo đức&nbsp;thanh cao để hưởng an vui và&nbsp;hạnh phúc&nbsp;ở&nbsp;hiện tại&nbsp;và tương lai.</p>



<p class="wp-block-paragraph"><strong>C. Phẩm Pāthika</strong>&nbsp;(<em>Pāthikavagga</em>)</p>



<p class="wp-block-paragraph"><strong>24.&nbsp;</strong><a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Kinh_Ba-l%C3%AA&amp;action=edit&amp;redlink=1"><strong><em>Kinh Ba-lê</em></strong></a><a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Kinh_Ba-l%C3%AA&amp;action=edit&amp;redlink=1">&nbsp;</a>(P.<em>&nbsp;Pāthika Sutta,&nbsp;</em>H. 波梨經) tương đương&nbsp;<em>A-nậu-di</em>&nbsp;<em>kinh.</em><sup>21</sup>&nbsp;Nhân&nbsp;sự kiện&nbsp;một Tăng sĩ bỏ tu vì&nbsp;thất vọng&nbsp;đức Phật&nbsp;không&nbsp;thi thố&nbsp;thần thông,&nbsp;không giải&nbsp;thích về nguồn gốc&nbsp;thế giới,&nbsp;đức Phật&nbsp;phân tích việc cho rằng&nbsp;thế giới&nbsp;này được hình thành bởi&nbsp;Thượng đế&nbsp;(chủ nghĩa&nbsp;duy thần), bởi&nbsp;vật chất&nbsp;(chủ nghĩa&nbsp;duy vật), do tâm tạo ra (chủ nghĩa&nbsp;duy tâm) và do sự&nbsp;ngẫu nhiên&nbsp;(ngẫu nhiên&nbsp;luận).&nbsp;Đức Phật&nbsp;khẳng định&nbsp;vai trò&nbsp;của&nbsp;giáo hóa&nbsp;chính là&nbsp;thần thông; thay vì biểu diễn&nbsp;thần thông, kêu gọi&nbsp;mọi người&nbsp;truyền bá&nbsp;Chánh pháp, giúp&nbsp;cuộc đời&nbsp;kết thúc&nbsp;khổ đau.<br><strong>25.&nbsp;</strong><a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Kinh_%C6%AFu-%C4%91%C3%A0m-b%C3%A0-la_S%C6%B0_T%E1%BB%AD_H%E1%BB%91ng&amp;action=edit&amp;redlink=1"><strong><em>Kinh Ưu-đàm-bà-la Sư tử hống</em></strong></a><a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Kinh_%C6%AFu-%C4%91%C3%A0m-b%C3%A0-la_S%C6%B0_T%E1%BB%AD_H%E1%BB%91ng&amp;action=edit&amp;redlink=1">&nbsp;</a>(P.&nbsp;<em>Udumbarikā Sīhanāda Sutta,&nbsp;</em>H. 優曇婆邏狮子吼經) tương đương&nbsp;<em>Tán-đà-na kinh</em>.<a href="http://vncphathoc.com/dai-tang-kinh-viet-nam/kinh-truong-bo/dan-luan-kinh-truong-bo.html#_ftn20"><sup>[20]</sup></a>&nbsp;Kinh&nbsp;mô tả&nbsp;cuộc đối thoại&nbsp;tôn giáo.&nbsp;Đức Phật&nbsp;không&nbsp;quan tâm&nbsp;đến việc&nbsp;cải đạo&nbsp;người khác theo mình mà tập trung vào việc dẫn dắt&nbsp;mọi người&nbsp;kết thúc&nbsp;khổ đau, bất luận họ là ai, theo đạo nào, làm gì trong&nbsp;xã hội. Chánh&nbsp;tri kiến,&nbsp;đạo đức&nbsp;và&nbsp;tu thiền&nbsp;là&nbsp;phương pháp&nbsp;thực tập&nbsp;đưa đến dứt khổ, được vui.<br><strong>26.&nbsp;</strong><a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Kinh_Chuy%E1%BB%83n_Lu%C3%A2n_Th%C3%A1nh_V%C6%B0%C6%A1ng_S%C6%B0_T%E1%BB%AD_H%E1%BB%91ng&amp;action=edit&amp;redlink=1"><strong><em>Kinh Chuyển Luân Thánh Vương Sư tử hống</em></strong></a>&nbsp;(P.&nbsp;<em>Cakkavatti Sīhanāda Sutta,&nbsp;</em>H. 轉輪聖王狮子吼經) tương đương&nbsp;<em>Chuyển Luân Thánh Vương&nbsp;tu hành&nbsp;kinh.</em><a href="http://vncphathoc.com/dai-tang-kinh-viet-nam/kinh-truong-bo/dan-luan-kinh-truong-bo.html#_ftn21"><sup>[21]</sup></a><em>&nbsp;</em>Lấy kiếp&nbsp;quá khứ&nbsp;của&nbsp;bản thân&nbsp;làm ví dụ,&nbsp;đức Phật&nbsp;nói về&nbsp;nguyên nhân&nbsp;sụp đổ của dòng vua chúa trong&nbsp;quá khứ&nbsp;và sự suy thoái&nbsp;xã hội&nbsp;sau đó. Kinh&nbsp;dự đoán&nbsp;Phật Di-lặc sẽ ra đời trong những kiếp tương lai nhằm&nbsp;phục hưng&nbsp;đạo đức&nbsp;và mang lại&nbsp;hạnh phúc&nbsp;cho&nbsp;con người. Nhân đó, kinh này dạy kỹ năng tự nương tựa với&nbsp;tinh thần&nbsp;chánh niệm,&nbsp;tỉnh thức, kỷ luật trong&nbsp;tu học, không nương tựa bên ngoài.&nbsp;Thực tập&nbsp;Tứ niệm xứ&nbsp;là sự nương tựa cao quý vào&nbsp;Chánh pháp.<br><strong>27.&nbsp;</strong><a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Kinh_Kh%E1%BB%9Fi_Th%E1%BA%BF_Nh%C3%A2n_B%E1%BB%95n&amp;action=edit&amp;redlink=1"><strong><em>Kinh Khởi thế nhân bổn</em></strong></a><a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Kinh_Kh%E1%BB%9Fi_Th%E1%BA%BF_Nh%C3%A2n_B%E1%BB%95n&amp;action=edit&amp;redlink=1">&nbsp;</a>(P.&nbsp;<em>Aggañña Sutta,&nbsp;</em>H. 起世因本經) tương đương&nbsp;<em>Tiểu duyên kinh&nbsp;</em>trong bộ<em>&nbsp;Trường A-hàm.</em><a href="http://vncphathoc.com/dai-tang-kinh-viet-nam/kinh-truong-bo/dan-luan-kinh-truong-bo.html#_ftn22"><sup>[22]</sup></a>&nbsp;Theo&nbsp;đức Phật, nguồn gốc sự sống không bắt đầu từ&nbsp;nguyên nhân&nbsp;khởi thủy là&nbsp;Thượng đế,&nbsp;vật chất&nbsp;hay tâm.&nbsp;Con người&nbsp;đầu tiên trên địa cầu&nbsp;chúng ta&nbsp;đang sống đến từ địa cầu khác. Khác với&nbsp;quan điểm&nbsp;Ấn giáo về&nbsp;xã hội&nbsp;giai cấp,&nbsp;đức Phật&nbsp;cho rằng&nbsp;con người&nbsp;chọn lựa nghề nghiệp,&nbsp;thể hiện&nbsp;quan điểm&nbsp;và&nbsp;cách sống&nbsp;của mình, tự tạo ra&nbsp;hạnh phúc&nbsp;hay khổ đau, giàu hay nghèo, cao hay thấp, quý hay tiện, không có&nbsp;định mệnh&nbsp;an bài. Lòng tham vô đáy của&nbsp;con người&nbsp;đã góp phần hủy hoại&nbsp;thiên nhiên.<br><strong>28.&nbsp;</strong><a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Kinh_T%E1%BB%B1_Hoan_H%E1%BB%B7&amp;action=edit&amp;redlink=1"><strong><em>Kinh Tự hoan hỷ</em></strong></a><a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Kinh_T%E1%BB%B1_Hoan_H%E1%BB%B7&amp;action=edit&amp;redlink=1">&nbsp;</a>(P.&nbsp;<em>Sampasādanīya Sutta,&nbsp;</em>H. 自歡喜經) tương đương&nbsp;bài kinh&nbsp;cùng tựa đề trong bộ&nbsp;<em>Trường A-hàm.</em><a href="http://vncphathoc.com/dai-tang-kinh-viet-nam/kinh-truong-bo/dan-luan-kinh-truong-bo.html#_ftn23"><sup>[23]</sup></a>&nbsp;Trước khi&nbsp;viên tịch&nbsp;tại Nāḷandā, Ngài Sāriputta đã&nbsp;tán dương&nbsp;giá trị&nbsp;Phật pháp, kêu gọi&nbsp;mọi người&nbsp;thực tập&nbsp;Bốn niệm xứ,&nbsp;Bốn chánh cần,&nbsp;Bốn như ý túc, Năm căn, Năm&nbsp;năng lực, Bảy&nbsp;giác ngộ, Tám chánh đạo… nhằm&nbsp;kết thúc&nbsp;khổ đau, trải nghiệm&nbsp;an lạc&nbsp;ngay&nbsp;trong đời&nbsp;sống&nbsp;hiện tại.<br><strong>29.&nbsp;</strong><a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Kinh_Thanh_T%E1%BB%8Bnh&amp;action=edit&amp;redlink=1"><strong><em>Kinh Thanh tịnh</em></strong></a>&nbsp;(P.&nbsp;<em>Pāsādika Sutta,&nbsp;</em>H. 清淨經) tương đương&nbsp;bài kinh&nbsp;cùng tựa đề trong bộ&nbsp;<em>Trường A-hàm.</em><sup>26</sup>&nbsp;Nhân&nbsp;sự kiện&nbsp;tạ thế&nbsp;của Nigaṇṭha Nāṭaputta, lãnh tụ đạo Kỳ-na,&nbsp;đức Phật&nbsp;nhắc nhở các&nbsp;đệ tử&nbsp;cần sống có&nbsp;lý tưởng, đề cao tình&nbsp;huynh đệ&nbsp;và&nbsp;tinh thần&nbsp;hòa hợp, không&nbsp;tranh chấp, và để chứng&nbsp;Thánh quả, cần&nbsp;thực tập&nbsp;37&nbsp;yếu tố&nbsp;giác ngộ,&nbsp;đặc biệt&nbsp;tu&nbsp;bốn thiền&nbsp;và bốn&nbsp;chân lý&nbsp;Thánh. Các&nbsp;đệ tử&nbsp;nhiệt&nbsp;tâm truyền&nbsp;bá&nbsp;chân lý&nbsp;để&nbsp;Phật pháp&nbsp;soi sáng&nbsp;thế gian, giúp&nbsp;cuộc đời&nbsp;được an vui.<br><strong>30.&nbsp;</strong><a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Kinh_T%C6%B0%E1%BB%9Bng&amp;action=edit&amp;redlink=1"><strong><em>Kinh T</em></strong></a><a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Kinh_T%C6%B0%E1%BB%9Bng&amp;action=edit&amp;redlink=1"><strong><em>ướng</em></strong></a>&nbsp;(P.&nbsp;<em>Lakkhaṇa Sutta,&nbsp;</em>H. 相經).<a href="http://vncphathoc.com/dai-tang-kinh-viet-nam/kinh-truong-bo/dan-luan-kinh-truong-bo.html#_ftn24"><sup>[24]</sup></a>&nbsp;Chấp nhận&nbsp;văn hóa&nbsp;nhân tướng&nbsp;tại&nbsp;Ấn Độ&nbsp;cổ đại,&nbsp;đức Phật&nbsp;khẳng định rằng 32&nbsp;tướng Đại&nbsp;nhân là kết quả của sự gieo trồng nhân tốt trong các kiếp&nbsp;quá khứ. Người có 32&nbsp;tướng Đại&nbsp;nhân, nếu làm chính trị sẽ&nbsp;trở thành&nbsp;Chuyển Luân Thánh Vương, nếu&nbsp;xuất gia&nbsp;sẽ&nbsp;trở thành&nbsp;bậc&nbsp;Giác Ngộ Tối Thượng.<br><strong>31.&nbsp;</strong><a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Kinh_Gi%C3%A1o_Th%E1%BB%8D_Thi-ca-la-vi%E1%BB%87t&amp;action=edit&amp;redlink=1"><strong><em>Kinh Giáo thọ Thi-ca-la-việt</em></strong></a><a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Kinh_Gi%C3%A1o_Th%E1%BB%8D_Thi-ca-la-vi%E1%BB%87t&amp;action=edit&amp;redlink=1">&nbsp;</a>(P.&nbsp;<em>Siṅgālovāda Sutta,&nbsp;</em>H. 教授尸迦羅越<br>經) tương đương&nbsp;<em>Thiện Sanh</em>&nbsp;<em>kinh.</em><a href="http://vncphathoc.com/dai-tang-kinh-viet-nam/kinh-truong-bo/dan-luan-kinh-truong-bo.html#_ftn25"><sup>[25]</sup></a><em>&nbsp;</em>Giới thiệu&nbsp;6 mối quan hệ&nbsp;xã hội. Về&nbsp;gia đình&nbsp;có: (i)&nbsp;Cha mẹ&nbsp;&#8211; con cái; (ii) Vợ &#8211; chồng; (iii)&nbsp;Bà con&nbsp;&#8211;&nbsp;thân quyến. Về&nbsp;giáo dục&nbsp;và nghề nghiệp có: (iv) Thầy cô giáo &#8211; học trò; (v) Chủ lao động &#8211; người lao động. Về&nbsp;tôn giáo&nbsp;có: (vi)&nbsp;Nhà tôn giáo&nbsp;&#8211;&nbsp;tín đồ. Mỗi bên được khuyên nên&nbsp;giữ gìn&nbsp;5&nbsp;trách nhiệm&nbsp;cao quý, góp phần&nbsp;xây dựng&nbsp;hạnh phúc&nbsp;gia đình,&nbsp;xã hội&nbsp;và&nbsp;tâm linh.<br><strong>32.&nbsp;<em>Kinh A-sá-nang-chi</em></strong><em>&nbsp;</em>(P.&nbsp;<em>Āṭānāṭiya Sutta,&nbsp;</em>H. 阿吒曩胝經).<a href="http://vncphathoc.com/dai-tang-kinh-viet-nam/kinh-truong-bo/dan-luan-kinh-truong-bo.html#_ftn26"><sup>[26]</sup></a>&nbsp;Đức Phật&nbsp;dạy bốn&nbsp;Thiên Vương, dạ-xoa, càn-thát-bà, cưu-bàn-trà về&nbsp;giới pháp, gồm không giết hại, không&nbsp;trộm cắp, không nói láo, không uống rượu;&nbsp;kính trọng&nbsp;Phật pháp;&nbsp;truyền bá&nbsp;chân lý; giúp&nbsp;mọi người&nbsp;an vui.<br><strong>33.&nbsp;</strong><a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Kinh_Ph%C3%BAng_T%E1%BB%A5ng&amp;action=edit&amp;redlink=1"><strong><em>Kinh Phúng tụng</em></strong></a>&nbsp;(P.&nbsp;<em>Saṅgīti Sutta,&nbsp;</em>H. 諷誦經) tương đương&nbsp;<em>Chúng tập</em>&nbsp;<em>kinh.</em><a href="http://vncphathoc.com/dai-tang-kinh-viet-nam/kinh-truong-bo/dan-luan-kinh-truong-bo.html#_ftn27"><sup>[27]</sup></a>&nbsp;Nhân dịp&nbsp;chứng minh&nbsp;lễ khánh thành&nbsp;giảng đường&nbsp;mới tại nước Mạt-la,&nbsp;đức Phật&nbsp;khích lệ Ngài Sāriputta trùng tuyên 229&nbsp;pháp số&nbsp;quan trọng, bắt đầu từ 1 pháp đến 10 pháp,&nbsp;tóm tắt&nbsp;chân lý&nbsp;Phật dạy, nhắc nhở&nbsp;mọi người&nbsp;thực tập,&nbsp;kết thúc&nbsp;khổ đau.<br><strong>34.&nbsp;</strong><a href="https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Kinh_Th%E1%BA%ADp_Th%C6%B0%E1%BB%A3ng&amp;action=edit&amp;redlink=1"><strong><em>Kinh Thập thượng</em></strong></a>&nbsp;(P.&nbsp;<em>Dasuttara Sutta,&nbsp;</em>H. 十上經) tương đương&nbsp;bài kinh&nbsp;cùng tựa đề trong bộ&nbsp;<em>Trường A-hàm.</em><a href="http://vncphathoc.com/dai-tang-kinh-viet-nam/kinh-truong-bo/dan-luan-kinh-truong-bo.html#_ftn28"><sup>[28]</sup></a>&nbsp;Đức Phật&nbsp;khích lệ Ngài Sāriputta giảng 100&nbsp;pháp số&nbsp;quan trọng, bắt đầu bằng số 1 và&nbsp;kết thúc&nbsp;ở số 10. Mỗi con số có 10&nbsp;pháp số&nbsp;khác nhau,&nbsp;tóm tắt&nbsp;các&nbsp;học thuyết&nbsp;và&nbsp;hành trì&nbsp;quan trọng của&nbsp;đức Phật.<br>Bản&nbsp;<em>Kinh&nbsp;Trường bộ</em>&nbsp;được in trong bộ&nbsp;<em>Tam tạng&nbsp;Thánh điển&nbsp;Phật giáo Việt Nam</em>&nbsp;lần này được đánh số theo quy cách của Viện&nbsp;Nghiên cứu&nbsp;Thiền quán&nbsp;(<em>Vipassana Research Institute</em>) tại&nbsp;Ấn Độ, hay còn gọi là ấn bản của kỳ&nbsp;kết tập&nbsp;Tam tạng&nbsp;Thánh điển&nbsp;Pāli lần thứ sáu, nhằm hỗ trợ cho việc&nbsp;tra cứu&nbsp;bản nguồn Pāli và các bản dịch khác dễ dàng.&nbsp;Đồng thời, ngoài việc bổ túc một số cước chú do các dịch giả trong Hội&nbsp;Thánh điển&nbsp;Pāli chú thích, vốn đã được&nbsp;Hòa thượng&nbsp;Thích&nbsp;Minh Châu&nbsp;sử dụng, Ban&nbsp;Biên tập&nbsp;còn&nbsp;đối chiếu&nbsp;bản A-hàm thuộc Hán tạng,&nbsp;cung cấp&nbsp;thêm nguồn dẫn cho các nhà&nbsp;nghiên cứu&nbsp;Phật học&nbsp;và nhuận sắc một vài chỗ&nbsp;cần thiết.&nbsp;Chúng tôi&nbsp;hết sức&nbsp;cố gắng&nbsp;cho sự&nbsp;hoàn thiện&nbsp;ấn bản&nbsp;<em>Kinh&nbsp;Trường bộ</em>&nbsp;lần này, hầu mong đem lại&nbsp;lợi lạc,&nbsp;hiệu quả&nbsp;tốt nhất cho người học Phật.<br>&nbsp;</p>



<p class="wp-block-paragraph"><em>TP. Hồ&nbsp;Chí Minh, ngày 12-9-2019</em><br><strong>Thượng tọa&nbsp;THÍCH NHẬT TỪ</strong><br>(Đồng Tổng&nbsp;Biên tập&nbsp;Tam tạng&nbsp;Thánh điển&nbsp;Phật giáo Việt Nam)</p>



<hr class="wp-block-separator has-alpha-channel-opacity"/>



<p class="wp-block-paragraph"><a href="http://vncphathoc.com/dai-tang-kinh-viet-nam/kinh-truong-bo/dan-luan-kinh-truong-bo.html#_ftnref1">[1]</a>&nbsp;梵動經 (<em>T.</em>01.<em>&nbsp;</em>0001.21. 0088b12).&nbsp;Tham chiếu:&nbsp;<em>Phạm võng lục thập nhị kiến kinh&nbsp;</em>梵網六十二見經 (<em>T.</em>01. 0021. 0264a20);&nbsp;<em>Xá-lợi-phất A-tỳ-đàm luận</em>&nbsp;舍利弗阿毘曇論 (<em>T</em>.28. 1548.19. 0656b19).</p>



<p class="wp-block-paragraph"><a href="http://vncphathoc.com/dai-tang-kinh-viet-nam/kinh-truong-bo/dan-luan-kinh-truong-bo.html#_ftnref2">[2]</a>&nbsp;沙門果經 (<em>T.</em>01.<em>&nbsp;</em>0001.27. 0107a20).&nbsp;Tham chiếu:&nbsp;<em>Tịch chí quả kinh&nbsp;</em>寂志果經 (<em>T</em>.01. 0022. 0270c27);&nbsp;<em>Tăng.</em>&nbsp;增 (<em>T</em>.02. 0125.43.7. 0762a07);&nbsp;<em>Tạp</em>. 雜 (<em>T</em>.02. 0099.154. 0043c21);&nbsp;<em>Tạp</em>. 雜 (<em>T</em>.02. 0099.155. 0044a01);&nbsp;<em>Tạp</em>. 雜 (<em>T</em>.02. 0099.156. 0044a11);&nbsp;<em>Tạp</em>. 雜 (<em>T</em>.02. 0099.157-160. 0044a22-b11);&nbsp;<em>Tạp</em>. 雜 (<em>T</em>.02. 0099.161. 0044b16);&nbsp;<em>Tạp</em>. 雜 (<em>T</em>.02. 0099.162. 0044b29);&nbsp;<em>Tạp</em>. 雜 (<em>T</em>.02. 0099.163. 0044c12);&nbsp;<em>Căn Bản Thuyết Nhất Thiết Hữu Bộ&nbsp;Tỳ-nại-da</em>&nbsp;根本說一切有部毘奈耶 (<em>T</em>.23. 1442.13. 0692b01).</p>



<p class="wp-block-paragraph"><a href="http://vncphathoc.com/dai-tang-kinh-viet-nam/kinh-truong-bo/dan-luan-kinh-truong-bo.html#_ftnref3">[3]</a>&nbsp;阿摩晝經 (<em>T</em>.01. 0001.20. 0082a06).&nbsp;Tham chiếu:&nbsp;<em>Phật&nbsp;khai giải&nbsp;Phạm chí&nbsp;A-bạt kinh</em>&nbsp;佛開解梵志阿颰經 (<em>T</em>.01. 0020. 0259c04).</p>



<p class="wp-block-paragraph"><a href="http://vncphathoc.com/dai-tang-kinh-viet-nam/kinh-truong-bo/dan-luan-kinh-truong-bo.html#_ftnref4">[4]</a>&nbsp;種德經 (<em>T.</em>01.<em>&nbsp;</em>0001.22. 0094a18).</p>



<p class="wp-block-paragraph"><a href="http://vncphathoc.com/dai-tang-kinh-viet-nam/kinh-truong-bo/dan-luan-kinh-truong-bo.html#_ftnref5">[5]</a>&nbsp;究羅檀頭經 (<em>T.</em>01.<em>&nbsp;</em>0001.23. 0096a16).</p>



<p class="wp-block-paragraph"><a href="http://vncphathoc.com/dai-tang-kinh-viet-nam/kinh-truong-bo/dan-luan-kinh-truong-bo.html#_ftnref6">[6]</a>&nbsp;倮形梵志經 (<em>T.</em>01.<em>&nbsp;</em>0001.25. 0102c25).</p>



<p class="wp-block-paragraph"><a href="http://vncphathoc.com/dai-tang-kinh-viet-nam/kinh-truong-bo/dan-luan-kinh-truong-bo.html#_ftnref7">[7]</a>&nbsp;布吒婆楼經 (<em>T.</em>01.<em>&nbsp;</em>0001.28. 0109c22).&nbsp;<sup>8</sup>&nbsp;堅固經 (<em>T.</em>01.<em>&nbsp;</em>0001.24. 0101b14).</p>



<p class="wp-block-paragraph"><a href="http://vncphathoc.com/dai-tang-kinh-viet-nam/kinh-truong-bo/dan-luan-kinh-truong-bo.html#_ftnref8">[8]</a>&nbsp;露遮經 (<em>T</em>.01.<em>&nbsp;</em>0001.29. 0112c20).</p>



<p class="wp-block-paragraph"><a href="http://vncphathoc.com/dai-tang-kinh-viet-nam/kinh-truong-bo/dan-luan-kinh-truong-bo.html#_ftnref9">[9]</a>&nbsp;三明經 (<em>T.</em>01.<em>&nbsp;</em>0001.26. 0104c17).</p>



<p class="wp-block-paragraph"><a href="http://vncphathoc.com/dai-tang-kinh-viet-nam/kinh-truong-bo/dan-luan-kinh-truong-bo.html#_ftnref10">[10]</a>&nbsp;大本經 (<em>T.</em>01.<em>&nbsp;</em>0001.01. 0001b11).&nbsp;Tham chiếu:&nbsp;<em>Phật thuyết&nbsp;Thất Phật</em>&nbsp;<em>kinh&nbsp;</em>佛說七佛經 (<em>T</em>.01. 0002. 0150a03);&nbsp;<em>Tỳ-bà-thi&nbsp;Phật kinh</em>&nbsp;毘婆尸佛經 (<em>T</em>.01. 0003. 0154b05);&nbsp;<em>Thất Phật&nbsp;phụ mẫu&nbsp;tánh tự</em>&nbsp;<em>kinh&nbsp;</em>七佛父母姓字經 (<em>T.</em>01. 0004. 0159a27);&nbsp;<em>La-ma kinh</em>&nbsp;羅摩經 (<em>T</em>.01. 0026.204. 0775c07); Tăng. 增 (<em>T.</em>02. 0125.19.1. 0593a24);&nbsp;<em>Tăng</em>. 增 (<em>T</em>.02. 0125.48.4. 0790a07);&nbsp;<em>Pháp tập yếu tụng kinh,</em>&nbsp;<em>Như Lai&nbsp;phẩm</em>&nbsp;法集要頌經如來品 (<em>T</em>.04. 0213.21. 0787b22).</p>



<p class="wp-block-paragraph"><a href="http://vncphathoc.com/dai-tang-kinh-viet-nam/kinh-truong-bo/dan-luan-kinh-truong-bo.html#_ftnref11">[11]</a>&nbsp;大緣方便經 (<em>T</em>.01.<em>&nbsp;</em>0001.13. 0060a29).&nbsp;Tham chiếu:&nbsp;<em>Đại nhân</em>&nbsp;<em>kinh&nbsp;</em>大因經 (<em>T.</em>01.<em>&nbsp;</em>0026.97<em>.</em>&nbsp;0578b07);&nbsp;<em>Phật thuyết&nbsp;Nhân bổn dục&nbsp;sanh kinh</em>&nbsp;佛說人本欲生經 (<em>T.</em>01. 0014. 0241c23);&nbsp;<em>Phật thuyết&nbsp;Đại sanh nghĩa</em>&nbsp;<em>kinh&nbsp;</em>佛說大生義經 (<em>T.</em>01. 0052. 0844b09);&nbsp;<em>A-tỳ-đạt-ma Tập dị môn túc luận&nbsp;</em>阿毘達磨集異門足論 (<em>T</em>.26. 1536.18. 0440c23).</p>



<p class="wp-block-paragraph"><a href="http://vncphathoc.com/dai-tang-kinh-viet-nam/kinh-truong-bo/dan-luan-kinh-truong-bo.html#_ftnref12">[12]</a>&nbsp;遊行經 (<em>T.</em>01.<em>&nbsp;</em>0001.02. 0011a07).&nbsp;Tham chiếu:&nbsp;<em>Phật Bát-nê-hoàn kinh</em>&nbsp;佛般泥洹經 (<em>T.</em>01. 0005. 0160b05);&nbsp;<em>Bát-nê-hoàn</em>&nbsp;<em>kinh&nbsp;</em>般泥洹經 (<em>T.</em>01. 0006. 0176a02);&nbsp;<em>Đại Bát-niết-bàn kinh&nbsp;</em>大般涅槃經 (<em>T.</em>01. 0007. 0191b02);&nbsp;<em>Địa động&nbsp;kinh</em>&nbsp;地動經 (<em>T</em>.01. 0026.36. 0477b23);&nbsp;<em>Tăng.</em>&nbsp;增 (<em>T</em>.02. 0125.28.5. 0652b13);&nbsp;<em>Tăng</em>. 增 (<em>T</em>.02. 0125.42.5. 0753c11);&nbsp;<em>Xuất diệu kinh, Thủy phẩm</em>&nbsp;出曜經水品 (<em>T</em>.04. 0212.18. 0706c07);&nbsp;<em>Căn Bản Thuyết Nhất Thiết Hữu Bộ&nbsp;Tỳ-nại-da tạp sự</em>&nbsp;根本說一切有部毘柰耶雜事 (<em>T</em>.24. 1451.35. 0382b29).</p>



<p class="wp-block-paragraph"><a href="http://vncphathoc.com/dai-tang-kinh-viet-nam/kinh-truong-bo/dan-luan-kinh-truong-bo.html#_ftnref13">[13]</a>&nbsp;Tham chiếu:&nbsp;<em>Du hành</em>&nbsp;<em>kinh&nbsp;</em>遊行經 (<em>T.</em>01.<em>&nbsp;</em>0001.02. 0011a07);&nbsp;<em>Đại Thiện Kiến Vương</em>&nbsp;<em>kinh&nbsp;</em>大善見王經 (<em>T.</em>01.<em>&nbsp;</em>0026.68. 0515b03);&nbsp;<em>Phật Bát-nê-hoàn kinh</em>&nbsp;佛般泥洹經 (<em>T</em>.01. 0005. 0160b05);&nbsp;<em>Bát-nê-hoàn kinh</em>&nbsp;般泥洹經 (<em>T.</em>01. 0006. 0176a02);&nbsp;<em>Đại Bát-niết-bàn</em>&nbsp;<em>kinh&nbsp;</em>大般涅槃經 (<em>T.</em>01. 0007. 0191b02);&nbsp;<em>Căn Bản Thuyết Nhất Thiết Hữu Bộ&nbsp;Tỳ-nại-da tạp sự</em>&nbsp;根本說一切有部 毘柰耶 雜事 (<em>T</em>.24. 1451.37. 0393a01).</p>



<p class="wp-block-paragraph"><a href="http://vncphathoc.com/dai-tang-kinh-viet-nam/kinh-truong-bo/dan-luan-kinh-truong-bo.html#_ftnref14">[14]</a>&nbsp;闍尼沙經 (<em>T.</em>01.<em>&nbsp;</em>0001<em>.</em>04. 0034b05).&nbsp;Tham chiếu:&nbsp;<em>Phật thuyết&nbsp;Nhân tiên</em>&nbsp;<em>kinh&nbsp;</em>佛說人仙經 (<em>T.</em>01. 0009. 0213c22).</p>



<p class="wp-block-paragraph"><a href="http://vncphathoc.com/dai-tang-kinh-viet-nam/kinh-truong-bo/dan-luan-kinh-truong-bo.html#_ftnref15">[15]</a>&nbsp;典尊經<em>&nbsp;</em>(<em>T.</em>01.<em>&nbsp;</em>0001.03. 0030b10).&nbsp;Tham chiếu:&nbsp;<em>Phật thuyết&nbsp;Đại&nbsp;Kiên Cố&nbsp;Bà-la-môn&nbsp;duyên khởi&nbsp;kinh&nbsp;</em>佛說大堅固婆羅門緣起經 (<em>T.</em>01. 0008. 0207c18).</p>



<p class="wp-block-paragraph"><a href="http://vncphathoc.com/dai-tang-kinh-viet-nam/kinh-truong-bo/dan-luan-kinh-truong-bo.html#_ftnref16">[16]</a>&nbsp;大會經 (<em>T.</em>01.<em>&nbsp;</em>0001.19. 0079b02).&nbsp;Tham chiếu:&nbsp;<em>Phật thuyết&nbsp;Đại tam-ma-nhạ kinh&nbsp;</em>佛說大三摩惹經 (<em>T.</em>01. 0019. 0258a10);&nbsp;<em>Tạp</em>. 雜<em>&nbsp;</em>(<em>T.</em>02.<em>&nbsp;</em>0099.1192. 0323a12);&nbsp;<em>Biệt Tạp.</em>&nbsp;別雜 (<em>T.</em>02. 0100.105. 0411a24).</p>



<p class="wp-block-paragraph"><a href="http://vncphathoc.com/dai-tang-kinh-viet-nam/kinh-truong-bo/dan-luan-kinh-truong-bo.html#_ftnref17">[17]</a>&nbsp;釋提桓因問經 (<em>T.</em>01.<em>&nbsp;</em>0001.14. 0062b29).&nbsp;Tham chiếu:&nbsp;<em>Thích vấn</em>&nbsp;<em>kinh&nbsp;</em>釋問經 (<em>T.</em>01. 0026.134. 0632c27);&nbsp;<em>Phật thuyết&nbsp;Đế-thích sở vấn</em>&nbsp;<em>kinh</em>&nbsp;佛說帝釋所問經 (<em>T.</em>01. 0015. 0246b03);&nbsp;<em>Phật thuyết&nbsp;Đế-thích vấn sự duyên kinh</em>&nbsp;佛說帝釋問事緣經 thuộc&nbsp;<em>Tạp Bảo tạng kinh</em>&nbsp;雜寶藏經 (<em>T.</em>04. 0203.73. 0476a17).</p>



<p class="wp-block-paragraph"><a href="http://vncphathoc.com/dai-tang-kinh-viet-nam/kinh-truong-bo/dan-luan-kinh-truong-bo.html#_ftnref18">[18]</a>&nbsp;念處經<em>&nbsp;</em>(<em>T.</em>01.<em>&nbsp;</em>0026.98. 0582b07).&nbsp;Tham chiếu:&nbsp;<em>Phân biệt Thánh đế kinh</em>&nbsp;分別聖諦經 (<em>T</em>.01. 0026.31. 0467a28);&nbsp;<em>Niệm thân kinh</em>&nbsp;念身經 (<em>T</em>.01. 0026.81. 0554c10);&nbsp;<em>Phật thuyết&nbsp;Tứ đế kinh&nbsp;</em>佛說四諦經 (<em>T</em>.01. 0032. 0814b08).</p>



<p class="wp-block-paragraph"><a href="http://vncphathoc.com/dai-tang-kinh-viet-nam/kinh-truong-bo/dan-luan-kinh-truong-bo.html#_ftnref19">[19]</a>&nbsp;弊宿經 (<em>T.</em>01.<em>&nbsp;</em>0001.07. 0042b24).&nbsp;Tham chiếu:&nbsp;<em>Tỳ-tứ</em>&nbsp;<em>kinh&nbsp;</em>蜱肆經 (<em>T.</em>01.<em>&nbsp;</em>0026.71. 0525a10);&nbsp;<em>Đại Chánh Cú Vương</em>&nbsp;<em>kinh&nbsp;</em>大正句王經 (<em>T</em>.01. 0045. 0831a06).&nbsp;<sup>21</sup>&nbsp;阿㝹夷經 (<em>T.</em>01.<em>&nbsp;</em>0001.15. 0066a09).</p>



<p class="wp-block-paragraph"><a href="http://vncphathoc.com/dai-tang-kinh-viet-nam/kinh-truong-bo/dan-luan-kinh-truong-bo.html#_ftnref20">[20]</a>&nbsp;散陀那經<em>&nbsp;</em>(<em>T.</em>01.<em>&nbsp;</em>0001.08<em>.</em>&nbsp;0047a17).&nbsp;Tham chiếu:<em>&nbsp;Ưu-đàm-bà-la</em>&nbsp;<em>kinh&nbsp;</em>優曇婆邏經<em>&nbsp;</em>(<em>T.</em>01.<em>&nbsp;</em>0026.104. 0591b26);<em>&nbsp;Phật thuyết&nbsp;Ni-câu-đà&nbsp;Phạm chí&nbsp;kinh</em>&nbsp;佛說尼拘陀梵志經 (<em>T.</em>01. 0011. 0222a19).</p>



<p class="wp-block-paragraph"><a href="http://vncphathoc.com/dai-tang-kinh-viet-nam/kinh-truong-bo/dan-luan-kinh-truong-bo.html#_ftnref21">[21]</a>&nbsp;轉輪聖王修行經 (<em>T.</em>01.<em>&nbsp;</em>0001.06. 0039a21).&nbsp;Tham chiếu:&nbsp;<em>Chuyển Luân Vương</em>&nbsp;<em>kinh&nbsp;</em>轉輪王經<em>&nbsp;</em>(<em>T.</em>01.<em>&nbsp;</em>0026.70. 0520b16).</p>



<p class="wp-block-paragraph"><a href="http://vncphathoc.com/dai-tang-kinh-viet-nam/kinh-truong-bo/dan-luan-kinh-truong-bo.html#_ftnref22">[22]</a>&nbsp;小緣經 (<em>T.</em>01.<em>&nbsp;</em>0001.05. 0036b28).&nbsp;Tham chiếu:&nbsp;<em>Bà-la-bà đường kinh</em>&nbsp;婆羅婆堂經 (<em>T.</em>01.<em>&nbsp;</em>0026.154. 0673b04);&nbsp;<em>Phật thuyết&nbsp;Bạch y&nbsp;kim tràng&nbsp;nhị Bà-la-môn&nbsp;duyên khởi&nbsp;kinh</em>&nbsp;佛說白衣金幢二婆羅門緣起經<br>(<em>T.</em>01. 0010. 0216b11).</p>



<p class="wp-block-paragraph"><a href="http://vncphathoc.com/dai-tang-kinh-viet-nam/kinh-truong-bo/dan-luan-kinh-truong-bo.html#_ftnref23">[23]</a>&nbsp;自歡喜經 (<em>T.</em>01.<em>&nbsp;</em>0001.18. 0076b24).&nbsp;Tham chiếu:&nbsp;<em>Phật thuyết&nbsp;Tín Phật&nbsp;công đức</em>&nbsp;<em>kinh&nbsp;</em>佛說信佛功德經 (<em>T.</em>01. 0018. 0255a11);&nbsp;<em>Tạp.&nbsp;</em>雜 (<em>T.</em>02.<em>&nbsp;</em>0099.498. 0130c07).&nbsp;<sup>26</sup>&nbsp;清淨經 (<em>T.</em>01.<em>&nbsp;</em>0001.17. 0072c12).</p>



<p class="wp-block-paragraph"><a href="http://vncphathoc.com/dai-tang-kinh-viet-nam/kinh-truong-bo/dan-luan-kinh-truong-bo.html#_ftnref24">[24]</a>&nbsp;Tham chiếu:&nbsp;<em>Tam thập nhị tướng</em>&nbsp;<em>kinh&nbsp;</em>三十二相經 (<em>T.</em>01.<em>&nbsp;</em>0026.59. 0493a24).</p>



<p class="wp-block-paragraph"><a href="http://vncphathoc.com/dai-tang-kinh-viet-nam/kinh-truong-bo/dan-luan-kinh-truong-bo.html#_ftnref25">[25]</a>&nbsp;善生經<em>&nbsp;</em>(<em>T.</em>01.<em>&nbsp;</em>0001.16. 0070a20).&nbsp;Tham chiếu:&nbsp;<em>Thiện Sanh kinh&nbsp;</em>善生經 (<em>T.</em>01.<em>&nbsp;</em>0026.135. 0638c06);&nbsp;<em>Phật thuyết&nbsp;Thi-ca-la-việt&nbsp;lục phương lễ kinh</em>&nbsp;佛說尸迦羅越六方禮經 (<em>T.</em>01. 0016. 0250c11);&nbsp;<em>Thiện Sanh&nbsp;tử kinh</em>&nbsp;善生子經 (<em>T.</em>01. 0017. 0252b06).</p>



<p class="wp-block-paragraph"><a href="http://vncphathoc.com/dai-tang-kinh-viet-nam/kinh-truong-bo/dan-luan-kinh-truong-bo.html#_ftnref26">[26]</a>&nbsp;Tham chiếu:&nbsp;<em>Tỳ-sa-môn&nbsp;Thiên Vương</em>&nbsp;<em>kinh&nbsp;</em>毘沙門天王經 (<em>T.</em>21. 1244. 0215a03);&nbsp;<em>Phật thuyết&nbsp;Tỳ-sa-môn&nbsp;Thiên Vương&nbsp;kinh&nbsp;</em>佛說毘沙門天王經 (<em>T</em>.21. 1245. 0217a03).</p>



<p class="wp-block-paragraph"><a href="http://vncphathoc.com/dai-tang-kinh-viet-nam/kinh-truong-bo/dan-luan-kinh-truong-bo.html#_ftnref27">[27]</a>&nbsp;眾集經 (<em>T.</em>01.<em>&nbsp;</em>0001.09. 0049b27). Kinh này còn gọi là&nbsp;<em>Đẳng tụng</em>&nbsp;<em>kinh&nbsp;</em>等誦經,&nbsp;<em>Tăng-kỳ-đà</em>&nbsp;<em>kinh&nbsp;</em>僧祇陀<br>經.<em>&nbsp;</em>Tham chiếu:&nbsp;<em>Thập thượng kinh</em>&nbsp;十上經 (<em>T.</em>01. 0001.10. 0052c17);&nbsp;<em>Phật thuyết&nbsp;Đại&nbsp;tập pháp&nbsp;môn kinh</em>&nbsp;佛說大集法門經 (<em>T.</em>01. 0012. 0226c03);&nbsp;<em>Tâm uế kinh</em>&nbsp;心穢經 (<em>T</em>.01. 0026.206. 0780b15);&nbsp;<em>Tăng</em>. 增 (<em>T</em>.02. 0125.37.1. 0708c11);&nbsp;<em>Tăng.</em>&nbsp;增 (<em>T.</em>02. 0125.39.5. 0730c19);&nbsp;<em>Tăng.</em>&nbsp;增 (<em>T</em>.02. 0125.44.1. 0764c20);&nbsp;<em>Tăng</em>. 增 (<em>T.</em>02. 0125.51.4. 0817a16).</p>



<p class="wp-block-paragraph"><a href="http://vncphathoc.com/dai-tang-kinh-viet-nam/kinh-truong-bo/dan-luan-kinh-truong-bo.html#_ftnref28">[28]</a>&nbsp;十上經 (<em>T.</em>01.<em>&nbsp;</em>0001.10. 0052c17).&nbsp;Tham chiếu:&nbsp;<em>Chúng tập kinh</em>&nbsp;眾集經 (<em>T</em>.01. 0001.9. 0049b27);&nbsp;<em>Tăng nhất kinh</em>&nbsp;增一經 (<em>T</em>.01. 0001.11. 0057b26);&nbsp;<em>Phật thuyết&nbsp;Đại&nbsp;tập pháp&nbsp;môn kinh</em>&nbsp;佛說大集法門經 (<em>T</em>.01. 0012. 0226c03);&nbsp;<em>Trường A-hàm&nbsp;thập báo pháp kinh</em>&nbsp;長阿含十報法經 (<em>T.</em>01. 0013. 0233b23);&nbsp;<em>Tâm uế kinh</em>&nbsp;心穢經 (<em>T</em>.01. 0026.206. 0780b15);&nbsp;<em>Tăng.</em>&nbsp;增 (<em>T</em>.02. 0125.37.5. 0712a09);&nbsp;<em>Tăng.&nbsp;</em>增 (<em>T</em>.02. 0125.39.5. 0730c19);&nbsp;<em>Tăng.</em>&nbsp;增 (<em>T</em>.02. 0125.51.4. 0817a16)</p>



<p class="wp-block-paragraph"></p>



<p class="wp-block-paragraph">File pdf </p>



<div class="wp-block-columns is-layout-flex wp-container-core-columns-is-layout-f383d393 wp-block-columns-is-layout-flex">
<div class="wp-block-column is-layout-flow wp-block-column-is-layout-flow" style="flex-basis:100%">
<blockquote class="wp-block-quote is-layout-flow wp-block-quote-is-layout-flow">
<ul class="wp-block-list">
<li><a href="https://thuvienhoasen.org/images/file/yej8bJCf2QgBAFdC/pdf-icon-4-.jpg"></a></li>



<li><a href="https://tangkinhcac.org/wp-content/uploads/2026/02/00-phan-mo-dau.pdf">00.-Phần-Mở-Đầu</a></li>



<li><a href="https://tangkinhcac.org/wp-content/uploads/2026/02/01-kinh-pham-vong-brahmaja-la-sutta-.pdf" data-type="link" data-id="https://tangkinhcac.org/wp-content/uploads/2026/02/01-kinh-pham-vong-brahmaja-la-sutta-.pdf">01.-Kinh-Phạm-võng-(Brahmajāla-Sutta)</a></li>



<li><a href="https://tangkinhcac.org/wp-content/uploads/2026/02/02-kinh-sa-mon-qua-s-ma-aphala-sutta-1-1.pdf">02.-Kinh-Sa-môn-quả-(Sāmaññaphala-Sutta)</a></li>



<li><a href="https://tangkinhcac.org/wp-content/uploads/2026/02/03.-Kinh-Ambaṭṭha-A-ma-tru.pdf" data-type="link" data-id="https://tangkinhcac.org/wp-content/uploads/2026/02/03.-Kinh-Ambaṭṭha-A-ma-tru.pdf">03-KinhAmbatta (A Ma&nbsp;Trú)</a></li>



<li><a href="https://tangkinhcac.org/wp-content/uploads/2026/02/04-kinh-chung-duc-so-a-a-a-sutta-.pdf">04.-Kinh-Chủng-Đức-(Soṇaḍaṇḍa-Sutta)</a></li>



<li><a href="https://tangkinhcac.org/wp-content/uploads/2026/02/05-kinh-cuu-la-dan-dau-k-adanta-sutta-.pdf">05.-Kinh-Cứu-la-đàn-đầu-(Kūṭadanta-Sutta)</a></li>



<li><a href="https://tangkinhcac.org/wp-content/uploads/2026/02/06-kinh-mah-li-mah-li-sutta-.pdf">06.-Kinh-Mahāli-(Mahāli-Sutta)</a></li>



<li><a href="https://tangkinhcac.org/wp-content/uploads/2026/02/07-kinh-j-liya-j-liya-sutta-.pdf">07.-Kinh-Jāliya-(Jāliya-Sutta)</a></li>



<li><a href="https://tangkinhcac.org/wp-content/uploads/2026/02/08-kinh-ca-diep-su-tu-hong-kassapas-han-da-sutta-.pdf">08.-Kinh-Ca-diếp-Sư-tử-Hống-(Kassapasīhanāda-Sutta)</a></li>



<li><a href="https://tangkinhcac.org/wp-content/uploads/2026/02/09-kinh-po-hap-da-po-hap-da-sutta-.pdf">09.-Kinh-Poṭṭhapāda-(Poṭṭhapāda-Sutta)</a></li>



<li><a href="https://tangkinhcac.org/wp-content/uploads/2026/02/10-kinh-subha-tu-ba-subha-sutta-.pdf">10.-Kinh-Subha-(Tu-bà)-(Subha-Sutta)</a></li>



<li><a href="https://tangkinhcac.org/wp-content/uploads/2026/02/11-kinh-kevaddha-kien-co-kevaddha-sutta-.pdf">11.-Kinh-Kevaddha-(Kiên-Cố)-(Kevaddha-Sutta)</a></li>



<li><a href="https://tangkinhcac.org/wp-content/uploads/2026/02/12-kinh-lohicca-lo-gia-lohicca-sutta-.pdf">12.-Kinh-Lohicca-(Lộ-già)-(Lohicca-Sutta)</a></li>



<li><a href="https://tangkinhcac.org/wp-content/uploads/2026/02/13-kinh-tam-minh-tevijja-sutta-.pdf">13.-Kinh-Tam-Minh-(Tevijja-Sutta)</a></li>



<li><a href="https://tangkinhcac.org/wp-content/uploads/2026/02/14-kinh-dai-bon-mah-pad-na-sutta-.pdf">14.-Kinh-Đại-Bổn-(Mahāpadāna-Sutta)</a></li>



<li><a href="https://tangkinhcac.org/wp-content/uploads/2026/02/15-kinh-dai-duyen-maha-nida-na-sutta-.pdf">15.-Kinh-Đại-Duyên-(Mahānidāna-Sutta)</a></li>



<li><a href="https://tangkinhcac.org/wp-content/uploads/2026/02/16-kinh-dai-bat-niet-ban-maha-parinibba-na-sutta-.pdf">16.-Kinh-Đại-Bát-Niết-Bàn-(Mahāparinibbāna-Sutta)</a></li>



<li><a href="https://tangkinhcac.org/wp-content/uploads/2026/02/17-kinh-dai-thien-kien-vuong-mah-sudassana-sutta-.pdf">17.-Kinh-Đại-Thiện-Kiến-Vương-(Mahāsudassana-Sutta)</a></li>



<li><a href="https://tangkinhcac.org/wp-content/uploads/2026/02/18-kinh-xa-ni-sa-janavasabha-sutta-.pdf">18.-Kinh-Xà-ni-sa-(Janavasabha-Sutta)</a></li>



<li><a href="https://tangkinhcac.org/wp-content/uploads/2026/02/19-kinh-dai-dien-ton-mah-govinda-sutta-.pdf">19.-Kinh-Đại-Điển-Tôn-(Mahāgovinda-Sutta)</a></li>



<li><a href="https://tangkinhcac.org/wp-content/uploads/2026/02/20-kinh-dai-hoi-mah-samaya-sutta-.pdf">20.-Kinh-Đại-Hội-(Mahāsamaya-Sutta)</a></li>



<li><a href="https://tangkinhcac.org/wp-content/uploads/2026/02/21-kinh-de-thich-so-van-sakkapanha-sutta-.pdf">21.-Kinh-Đế-Thích-Sở-Vấn-(Sakkapañha-Sutta)</a></li>



<li><a href="https://tangkinhcac.org/wp-content/uploads/2026/02/22-kinh-dai-niem-xu-mah-satipa-h-na-sutta-.pdf">22.-Kinh-Đại-Niệm-Xứ-(Mahāsatipaṭṭhāna-Sutta)</a></li>



<li><a href="https://tangkinhcac.org/wp-content/uploads/2026/02/23-kinh-te-tuc-p-y-si-sutta-.pdf">23.-Kinh-Tệ-túc-(Pāyāsi-Sutta)</a></li>



<li><a href="https://tangkinhcac.org/wp-content/uploads/2026/02/24-kinh-ba-le-p-thika-sutta-.pdf">24.-Kinh-Ba-lê-(Pāthika-Sutta)</a></li>



<li><a href="https://tangkinhcac.org/wp-content/uploads/2026/02/25-kinh-uu-dam-ba-la-su-tu-hong-udumbarik-s-han-da-sutta-.pdf">25.-Kinh-Ưu-đàm-bà-la-Sư-tử-Hống-(Udumbarikā-Sῑhanāda-Sutta)</a></li>



<li><a href="https://tangkinhcac.org/wp-content/uploads/2026/02/26-kinh-chuyen-luan-thanh-vuong-su-tu-hong-cakkavatti-s-han-da-sutta-.pdf">26.-Kinh-Chuyển-Luân-Thánh-Vương-Sư-Tử-Hống-(Cakkavatti-Sῑhanāda-Sutta)</a></li>



<li><a href="https://tangkinhcac.org/wp-content/uploads/2026/02/27-kinh-khoi-the-nhan-bon-agga-a-sutta-.pdf">27.-Kinh-Khởi-Thế-Nhân-Bổn-(Aggañña-Sutta)</a></li>



<li><a href="https://tangkinhcac.org/wp-content/uploads/2026/02/28-kinh-tu-hoan-hy-sampas-dan-ya-sutta-.pdf">28.-Kinh-Tự-Hoan-Hỷ-(Sampasādanīya-Sutta)</a></li>



<li><a href="https://tangkinhcac.org/wp-content/uploads/2026/02/29-kinh-thanh-tinh-p-s-dika-sutta-.pdf">29.-Kinh-Thanh-Tịnh-(Pāsādika-Sutta)</a></li>



<li><a href="https://tangkinhcac.org/wp-content/uploads/2026/02/30-kinh-tuong-lakkhana-sutta-.pdf">30.-Kinh-Tướng-(Lakkhaṇa-Sutta)</a></li>



<li><a href="https://tangkinhcac.org/wp-content/uploads/2026/02/31-kinh-giao-tho-thi-ca-la-viet-si-ga-lava-da-sutta-.pdf">31.-Kinh-Giáo-Thọ-Thi-ca-la-việt-(Siṅgālavāda-Sutta)</a></li>



<li><a href="https://tangkinhcac.org/wp-content/uploads/2026/02/32-kinh-a-sa-nang-chi-a-ta-na-tiya-sutta-.pdf">32.-Kinh-A-sá-nang-chi-(Āṭānāṭiya-Sutta)</a></li>



<li><a href="https://tangkinhcac.org/wp-content/uploads/2026/02/33-kinh-phung-tung-sa-g-ti-sutta-.pdf">33.-Kinh-Phúng-Tụng-(Saṅgīti-Sutta)</a></li>



<li><a href="https://tangkinhcac.org/wp-content/uploads/2026/02/34-kinh-thap-thuong-dasuttara-sutta-.pdf">34.-Kinh-Thập-Thượng-(Dasuttara-Sutta)</a></li>



<li><a href="https://tangkinhcac.org/wp-content/uploads/2026/02/phu-luc.pdf">Phụ-Lục</a></li>
</ul>



<p class="wp-block-paragraph"><a href="https://tangkinhcac.org/wp-content/uploads/2026/02/kinhtruongbo.pdf" data-type="link" data-id="https://tangkinhcac.org/wp-content/uploads/2026/02/kinhtruongbo.pdf">Kinh trường bộ bản cũ </a></p>
</blockquote>
</div>
</div>



<p class="has-text-align-right wp-block-paragraph"><br>Nguồn : thư viện hoa sen</p>



<p class="wp-block-paragraph"></p>
<p>The post <a href="https://tangkinhcac.org/kinh-truong-bo-digha-nikaya-bo-moi/">Kinh Trường Bộ Dīghā Nikâya | Bộ Mới</a> appeared first on <a href="https://tangkinhcac.org">Tàng Kinh Các</a>.</p>
]]></content:encoded>
					
		
		
			</item>
	</channel>
</rss>
