Đế Thích Sở Vấn Kinh [帝釋所問經]
Đế Thích Sở Vấn Kinh
[帝釋所問經]
Nguyên bản Hán văn – Bản khắc Càn long – Vĩnh Lạc Đại Điển – CBETA

Bản chia sẻ của CBETa
Đế Thích Sở Vấn Kinh
[帝釋所問經]
thuộc tập T01, kinh số 15, tổng cộng 1 quyển, – Tống Pháp Hiền dịch»
Đế Thích Sở Vấn Kinh
[帝釋所問經]
( Bản khắc gỗ Càn long và Vĩnh Lạc Đại Điển )
Đế Thích Sở Vấn Kinh
thuộc tập T01, kinh số 15, tổng cộng 1 quyển, – Tống Pháp Hiền dịch»
Kinh Đế Thích Sở Vấn
Việt dịch: Thích Chánh Lạc
Tôi nghe như vầy:
Một thời đức Phật ở trong hang Ðế thích, nơi núi Tỳ đề hê, phía Bắc của xóm làng đại bà la môn, trong vườn Ðông yêm la, thuộc thành Vương xá, nước Ma già đà với đông đủ đại chúng.
Bấy giờ, Thiên chủ Ðế thích nghe Phật ở trong hang Ðế thích, núi Tỳ đề hê, nước Ma già đà, liền bảo Ngũ Kết Càn thát bà vương tử:
–Ngươi có biết không? Ta nghe Phật ở trong hang Ðế thích, núi Tỳ đề hê, nước Ma già đà. Ta muốn cùng ngươi đi đến chỗ Phật để thân cận cúng dường.
Ngũ Kết Càn thát bà vương tử nghe nói như vậy bèn thưa với Ðế thích:
–Rất hay! Thưa Thiên chủ!
Nói xong liền ôm đàn lưu ly bảo-trang-không-hầu đi theo Ðế thích. Lúc đó, các thiên chúng nghe Thiên chủ Ðế thích cùng Ngũ Kết Càn thát bà vương tử phát tâm đi đến chỗ Phật để thân cận cúng dường, nên cũng phát tâm vui thích đi theo đến chỗ Phật để thân cận cúng dường.
Thiên chủ Ðế thích cùng Ngũ Kết Càn thát bà vương tử và các thiên chúng lúc này biến mất ở cõi trời nhanh như lực sĩ co duỗi cánh tay, liền đến núi Tỳ đề hê, nước Ma già đà. Khi đó hòn núi này bỗng có một luồng ánh sáng bao trùm tỏa chiếu khắp cả bốn mặt. Dân chúng quanh vùng thấy luồng ánh sáng này, bèn nói với nhau:
–Núi này tại sao có một đám lửa lớn đang cháy rực cả một vùng giống như núi báu?
Khi ấy, Thiên chủ Ðế thích bảo Ngũ Kết Càn thát bà vương tử:
–Ngươi thấy núi này có màu sắc thù thắng vi diệu không? Ðấy là chỗ đức Phật Thế tôn đang an trú nơi đó, Bốn sự đều thanh tịnh. Vả lại, núi này có những nhà cửa đều do châu báu tạo thành. Người nào ở trong đó đều dứt hết các phiền não, đều chứng Thánh quả, cho đến chư Thiên có oai lực lớn cũng thường ở nơi ấy.
Rồi nói tiếp:
–Cho nên chúng ta khó mà gặp được Ngài, như trên đã nói, để thân cận cúng dường. Nay đã đúng lúc, này Ngũ Kết Càn thát bà vương tử, hãy dùng âm nhạc tấu lên để cúng dường. Vì sao như vậy? Vì trước đây thật khó mà được gặp Ngài.
Càn thát bà Vương tử nghe xong, thưa với Ðế thích:
–Rất hay! Rất hay!
Liền suy nghĩ: “Chư Phật Như lai có đủ thiên nhĩ thông, không xa cũng không gần đều có thể nghe rõ cả”. Nghĩ như vậy rồi bèn khảy đàn lưu ly bảo-trang-không-hầu phát ra bài kệ. Bài kệ ấy như sau:
Như hiền nữ Nhật quang
Hãy xin với cha nàng
Cùng ta làm quyến thuộc
Nên biết hỡi hiền lương!
Ta vốn hâm mộ nàng
Ví như người nóng khát
Nhớ nghĩ chốn trong lành
Như người khát nhớ nước.
Như người bệnh mong thuốc
Người đói mong được ăn
Như voi chúa bị xích
Không thể bước tới được.
Lại như A la hán
Ưa cầu pháp tịch diệt
Nay mong muốn của ta
Ý nghĩa cũng như vậy.
Tham dục thêm phiền não
Nó đâu có chơn thật
Nguyện cầu chẳng như ý
Chịu vô lượng khổ đau.
Ta đã tạo phước đức
Cúng dường A la hán
Các quả báo đạt được
Xin chia sẻ cùng nàng.
Ta mong Nhật quang nữ
Lòng này không đổi dời
Ðế thích chư thiên chủ
Cho tôi được mãn nguyện.
Khi ấy đức Thế tôn ở trong hang Ðế thích, dùng thiên nhĩ thông, từ xa nghe bài hát đó liền dùng thần lực bảo với Ngũ Kết Càn thát bà vương tử:
–Lành thay! Lành thay! Này Càn thát bà vương tử! Ông khéo sử dụng âm nhạc với những dây đàn rung lên, âm thanh vi diệu như tiếng ca êm ái của ngươi, khi ngươi ca hát cũng giống như tiếng đàn. Vì sao vậy? Vì từ lâu phát ra âm nhạc thì trong dây đàn lại phát ra bài kệ tụng. Lại nữa, trong bài kệ tụng ấy nói lên ba loại âm thanh. Ðó là âm thanh yêu thích, âm thanh của loài rồng và âm thanh của bậc A la hán.
Lúc đó Ngũ Kết Càn thát bà vương tử nương vào thần lực của Phật, từ xa nghe tiếng của Ngài, liền bạch Phật:
–Thưa Thế tôn, con nhớ một thời có vua Càn thát bà tên là Ðống Mẫu La, vị vua này có một người con gái tên là Nhật Quang, tâm con rất muốn được làm quyến thuộc với nàng. Mặc dù lúc đó con đã làm đủ cách nhưng vẫn không được như nguyện. Con liền đến trước người con gái ấy hát lên bản nhạc nầy, trong tiếng đàn phát ra một bài kệ, trong bài kệ có ba loại âm thanh. Bạch Thế tôn, khi con ca hát thì ở trong hội Thiện pháp có các thiên chúng, họ cùng nói với nhau:
–Ngũ Kết Càn thát bà vương tử này không thấy, không nghe đức Thế tôn của chúng ta có đủ mười hiệu là: Như lai, Ứng cúng, Chánh biến tri, Minh hạnh túc, Thiện thệ, Thế gian giải, Vô thượng sĩ, Ðiều ngự trượng phu, Thiên nhơn sư, Phật Thế tôn.
Lúc đó con nói với các thiên chúng:
–Các vị chư thiên khéo tán thán công đức của Phật.
Chư thiên đáp:
–Ngũ Kết Càn thát bà vương tử! Chúng tôi tán thán công đức của Phật cùng với người không khác.
Ngũ Kết Càn thát bà vương tử nghe chư thiên nói như vậy bỗng nhiên tỉnh ngộ, đáp:
–Nhơn giả! Nay tôi quy y Phật Thế tôn. Nhân việc ấy tôi hướng về đức Phật, hát lên bản nhạc này.
Bấy giờ, Thiên chủ Ðế thích suy nghĩ như vầy: “Nay Ngũ Kết Càn thát bà vương tử này căn duyên đã thuần thục, nhưng chưa đến trước đức Phật để đích thân cúng dường”. Nghĩ như vậy xong, liền bảo Ngũ Kết Càn thát bà vương tử:
–Ngươi hãy đem lời nói của ta đến chỗ đức Phật, đầu mặt lạy sát chân Ngài, như lời ta mà thưa: “Thiên chủ Ðế thích cúi đầu lạy dưới hai chân, thăm hỏi sức khỏe của Thế tôn, có ít bệnh, ít phiền, đi lại nhẹ nhàng, khí lực an ổn, tới lui ung dung chăng? Con nay cùng với thiên chúng trời Ðao lợi này muốn đến gặp Phật để thân cận cúng dường, nghe lời Phật dạy”.
Ngũ Kết Càn thát bà vương tử nghe xong, thưa với Ðế thích:
–Rất hay, thưa Thiên chủ!
Nói như vậy rồi liền đi đến chỗ Phật, đầu mặt lạy sát chân Phật, đứng qua một bên, bạch với Phật:
–Thưa Thế tôn! Thiên chủ Ðế thích cùng với thiên chúng trời Ðao lợi sai con đến đây lạy dưới hai chân Phật, thăm hỏi Thế tôn có ít bệnh, ít phiền, đi lại nhẹ nhàng, khí lực an ổn, tới lui ung dung chăng? Chúng con hôm nay muốn đến gặp Phật để thân cận cúng dường, cho nên sai con đến đây để nghe Phật chỉ dạy.
Phật liền đáp:
–Ông hãy trở lại nói với Ðế thích và thiên chúng ấy: “Nay đã đúng lúc”.
Ngũ Kết Càn thát bà vương tử vâng theo thánh chỉ của Phật, trở về chỗ Ðế thích truyền lại lời dạy của Thế tôn: “Nay đã đúng lúc”.
Bấy giờ, Ðế thích và thiên chúng Ðao lợi liền đến chỗ Phật, đến nơi, lạy dưới hai chân Phật, đứng qua một bên. Lúc đó Thiên chủ liền nghĩ: “Hang Ðế thích này có vẻ chật hẹp, còn thiên chúng thì nhiều vô số, làm sao mà ngồi?”. Phật biết ý nghĩ này, liền dùng thần lực khiến cho cái hang trở nên rộng rãi, có thể chứa hết thiên chúng mà không trở ngại. Thiên chủ Ðế thích và các thiên chúng đều đảnh lễ Phật, theo thứ lớp mà ngồi. Tất cả đã ngồi yên rồi, Thiên chủ Ðế thích chấp tay bạch Phật:
–Bạch Thế tôn! Ðã lâu chúng con muốn đến yết kiến Phật và muốn nghe chánh pháp. Bạch Thế tôn, con nghĩ có một thời Phật ở nước Xá vệ, rừng cây Kỳ đà, vườn Cấp cô độc, ngài nhập Tam muội hỏa giới. Lúc đó, con đang ở trong cung Tỳ sa môn, thấy trong cung có một phu nhơn tên là Diệu Tý. Phu nhơn này thấy Phật nhập Tam muội hỏa giới tam muội thì chấp tay cung kính chuyên tâm niệm Phật. Con thấy Thế tôn chưa ra khỏi tam muội, nên bảo với Diệu Tý: “Chờ Phật Thế tôn ra khỏi tam muội thì thưa: Ta chí thành hỏi thăm sức khỏe của Phật có ít bệnh, ít phiền, đi lại nhẹ nhàng, khí lực an ổn, tới lui ung dung chăng? Con lại bảo: “Hãy chờ Phật xuất định, thưa lại lời chí thành của ta, đừng quên”. Bạch Thế tôn, việc này có đúng như vậy chăng? Ðức Phật nói: “Này Ðế thích! Việc này quả đúng như vậy. Vị phu nhơn kia đã thay thế ông cung kính hỏi thăm sức khỏe của ta”. Phật lại bảo: “Này Thiên chủ! Ta ở trong tam muội cũng có nghe ngươi nói, sau đó không bao lâu ta liền xuất định”.
Ðế thích bạch Phật:
–Thưa Thế tôn, xưa kia con từng được nghe có Phật Như lai Chánh đẳng Chánh giác xuất hiện ở thế gian tạo lợi ích lớn, dùng đại phương tiện, tùy theo từng loài mà dẫn dắt, hoặc ẩn nơi tướng người, hoặc hiện làm thân trời. Nay con tự biết Phật ở thế gian tạo lợi ích lớn, dùng phương tiện khéo léo, tùy loài mà dẫn dắt, hoặc ẩn, hoặc hiện. Bạch Thế tôn! Những vị Thanh văn theo Phật xuất gia, tu trì phạm hạnh, sau khi mạng chung, sanh lên trời Ðao lợi, các vị thiên nhơn ấy vui mừng vì được ba việc, đó là: thọ mạng, sắc tướng và danh xưng. Bạch Thế tôn! Xưa có một Thích nữ tên là Mật Hạnh theo Phật xuất gia, giữ gìn phạm hạnh, thường nhàm chán thân nữ, cầu tướng nam tử. Sau khi mạng chung, sanh lên trời Ðao lợi làm con của con tên là Mật Hạnh, có đầy đủ oai lực, đúng là vị đại trượng phu. Bạch Thế tôn! Lại có ba vị Bí sô tu hạnh Thanh văn nhưng chưa đoạn trừ được tâm tham dục, sau khi mạng chung sanh lên cõi trời, làm con của vị Càn thát bà thấp nhất, thường đến chỗ thiên tử Mật Hạnh để hầu hạ. Khi ấy vị trời Mật Hạnh hướng về Càn thát bà thấp kém nói bài kệ:
Xưa kia ta thân nữ
Ðủ trí tên Mật hạnh
Chán nữ cầu tướng nam
Thường cúng Phật Pháp Tăng.
Khi ấy thấy ba người
Ðang tu hạnh Thanh văn
Nay sanh vào hạ tộc
Theo ta để hầu hạ.
Các ngươi nay nên biết
Ta nói thật các ngươi
Xưa các ngươi làm người
Tứ sự đều đầy đủ.
Không giữ giới cấm Phật
Nay ôm lòng xấu hổ
Rõ tâm là chánh pháp
Chỉ kẻ trí mới biết.
Xưa ta cùng các ngươi
Gần Phật theo chánh pháp
Tín tâm trì giới Phật
Và cúng dường thánh chúng.
Nhờ ta hành chánh hạnh
Ðược làm con Ðế thích
Vị trời đại oai lực
Tự biết tên Mật Hạnh.
Ở cung điện thù thắng
Chuyển nữ thành nam tướng
Ngươi con Càn thát bà
Theo Phật giữ phạm hạnh.
Nghe pháp Phật tối thượng
Trở lại hầu hạ người
Ta ở trong cõi trời
Chưa thấy việc như vậy.
Tu trì hạnh Thanh văn,
Mà sanh nhà hạ tiện
Ngươi con Càn thát bà
Chịu Mật hạnh giáo hóa
Chỗ thọ sanh các ngươi
Chẳng phải đệ tử Phật.
Càn thát bà tử thưa:
“Trời đã nói sự thật
Chúng tôi vì tham dục
Ðọa vào Càn thát bà.
Tôi nay nguyện tinh tấn
Chỉ nhớ chánh pháp Phật
Biết tham dục là sai
Ðoạn trừ tâm tham dục
Tham bị phiền não trói
Còn mạnh hơn ma quân.
Bỏ pháp Phật chơn thật
Nên không sanh cõi trời.
Ðế thích cùng Phạm vương
Ngồi trong hội Thiện pháp
Xem chư thiên thắng hạnh
Qua lại ở cõi trời
Thấy tôi sanh hạ tộc
Qua lại ở cõi trời
Tôi do hành bất chánh
Nên không được thắng quả”.
Khi ấy trời Mật hạnh
Thưa cha Ðế thích:
“Vua cha nay nên biết
Phật của con tối thắng
Xuất hiện ở thế gian
Khéo hàng phục ma quân.
Tên Thích Ca Mâu Ni
Ba Càn thát bà này
Là con của đức Phật
Vì quên mất chánh niệm
Nên đọa Càn thát bà
Nhưng trong ba vị kia
Một vị không chánh tri
Hai vị theo chánh đạo
Thường hướng Phật Bồ đề
Thực hành theo chánh pháp
Kiến thức của Thanh văn
Không có ai hơn được.
Họ xa lìa ái dục
Ðoạn trừ các phiền não
Chỉ nhớ Phật Thế tôn
Không còn sanh các tưởng.
Pháp nào chưa liễu ngộ
Cả hai ắt chánh tri
Sẽ được quả báo tốt
Sanh lên trời Phạm thiên”.
Bạch Thế tôn! Khi nghe thiên tử Mật Hạnh nói kệ xong, đối với việc ấy lòng con vẫn còn phân vân, cho nên con đến chỗ Phật muốn đích thân thưa hỏi, mong Phật rủ lòng thương xót dạy bảo.
Bấy giờ đức Thế tôn suy nghĩ: “Thiên chủ Ðế thích ở trong cõi sinh tử không hề biếng nhác, không phế bỏ, không bị cấu nhiễm, nếu có hỏi điều gì là do không biết chứ không phải là chằm để quấy nhiễu ta. Nếu vị này hỏi ta sẽ trả lời”. Nghĩ như vậy xong liền nói bài kệ bảo Ðế thích:
Ðế thích nay nên biết
Chỗ vui trong lòng ông
Muốn hỏi nghĩa lý nào
Cứ hỏi ta sẽ nói.
Thiên chủ Ðế thích liền nói kệ bạch Thế tôn:
Nay mong Phật chấp thuận
Như lòng con vui sướng
Con nay xin thưa hỏi
Xin Phật hãy chỉ dạy.
Thiên chủ Ðế thích nói kệ xong bạch Phật:
–Thưa Thế tôn! Các hàng trời, người, A tu la, Càn thát bà cùng với các hàng phàm phu khác vì sao mà bị phiền não?
Phật dạy:
–Do thương ghét mà bị phiền não. Này Thiên chủ Ðế thích! Những hàng trời, người, A tu la, Càn thát bà cho đến các chúng sanh khác nếu thường hay suy nghĩ: “Than ôi! Tự ta đối với người khác trước hết đừng có xâm hại, cũng đừng oán thù, không tranh giành chống đối, không kiện cáo, tranh hơn thua, lại cũng đừng lôi kéo lẫn nhau. Tại sao ta lại làm những việc như vậy?” Này Thiên chủ! Những việc như thế là do lòng thương ghét nổi lên nên mới sanh ra phiền não.
Ðế thích thưa:
–Bạch Thế tôn! Ðúng vậy, đúng vậy, như lời Phật dạy, nay con nhờ Phật biết được nghĩa nầy. Vì thương ghét nên có phiền não, phải đoạn trừ mê lầm thì trong lòng mới an vui.
Bấy giờ Thiên chủ Ðế thích được nghe Phật dạy, hoan hỷ tin vâng, lại bạch Phật:
–Thưa Thế tôn! Phiền não thương ghét lấy gì làm nhơn, do đâu tập khởi, vì sao sanh ra, lấy gì làm duyên, do đâu mà có, do đâu mà không?
Phật dạy:
–Này Thiên chủ! Phiền não thương ghét do kẻ oán người thân làm nhơn, do kẻ oán người thân tập khởi, từ kẻ oán người thân sanh ra, lấy oán thân làm duyên, do có oán thân mà có phiền não thương ghét. Nếu không có oán, thân sẽ không có thương ghét.
Ðế thích bạch Phật:
–Ðúng vậy, đúng vậy, như Phật đã dạy, nay con nhờ Phật hiểu được nghĩa này, phiền não thương ghét lấy oán, thân làm nhơn. Nếu không có oán thân thì cũng không có thương ghét.
Lại bạch Phật:
–Thưa Thế tôn! Oán thân nhơn đâu mà có, từ đâu tập khởi, do đâu sanh ra, lấy gì làm duyên, tại sao lại có, làm sao để không có?
Phật dạy:
–Này Ðế thích, do dục làm nhơn, vì dục tập khởi, do dục sanh ra, do dục mà có oán thân. Nếu không có dục sẽ không có oán thân.
Ðế thích bạch Phật:
–Thưa Thế tôn! Ðúng vậy, đúng vậy, như Phật đã dạy, nhơn có dục mà có oán thân.
Lại bạch Phật:
–Thưa Thế tôn! Nhưng dục này nhơn đâu mà có, do đâu tập khởi, do đâu phát sanh, dựa đâu làm duyên, tại sao lại có, làm sao để không có?
Phật dạy:
–Này Ðế thích! Dục do mê lầm mà có, từ mê lầm tập khởi, do mê lầm sanh, nương mê lầm làm duyên, nhơn mê lầm mà có, nếu không có mê lầm sẽ không có dục.
Ðế thích bạch Phật:
–Thưa Thế tôn! Ðúng vậy, đúng vậy, như Phật đã dạy, do mê lầm nên có dục.
Lại bạch Phật:
–Thưa Thế tôn! Mê lầm do nhân gì, tập gì, sanh gì, duyên gì mà có mê lầm này. Do đâu có mê lầm, do đâu không có?
Phật bảo Ðế thích:
–Lấy hư vọng làm nhân, từ hư vọng tập khởi, do hư vọng phát sanh, nương hư vọng làm duyên, do có hư vọng nên có mê lầm, do có mê lầm nên có dục, do có dục nên có oán thân, do có oán thân nên có thương ghét, do có thương ghét nên mới có dao kiếm đánh nhau, tố tụng, tranh giành, trong lòng sanh ra quanh co, khúc khuỷu, lời nói không thành thật, khởi lên muôn ngàn các thứ nghiệp xấu, là pháp bất thiện như vậy, dẫn đến sự tập khởi của khối đại khổ được tích tụ. Này Thiên chủ! Nếu không có hư vọng liền không có mê lầm, nếu không có mê lầm liền không có tham dục, nếu không có tham dục liền không có oán thân sanh ra, oán thân không có, thương ghét tự trừ. Vì không có thương ghét thì dao kiếm đánh nhau, tố tụng đấu tranh, trong lòng quanh co khúc khuỷu, lời nói không thành thật, các thứ nghiệp xấu là pháp bất thiện đều được tiêu trừ; như thế là toàn bộ khối khổ lớn được tiêu diệt.
Ðế thích bạch Phật:
–Ðúng vậy, đúng vậy, như Phật đã dạy, nhơn mê lầm mà có hư vọng.
Lại bạch Phật:
–Thưa Thế tôn! Pháp hư vọng lấy pháp gì để diệt trừ, cho đến các Bí sô phải thực hành như thế nào?
Phật dạy:
–Này Thiên chủ! Diệt trừ hư vọng đó là Bát chánh đạo. Bát chánh đạo là chánh kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm, chánh định. Nhờ tám pháp này diệt trừ được hư vọng. Nếu các Bí sô thực hành pháp này thì gọi là thực hành các pháp diệt trừ hư vọng.
Ðế thích bạch Phật:
–Ðúng vậy, đúng vậy, thưa Thế tôn! Diệt trừ hư vọng đó là pháp Bát chánh đạo.
Ðế thích lại bạch Phật:
–Bạch Thế tôn! Pháp diệt trừ hư vọng ấy, nếu Bí sô thực hành đối với Biệt giải thoát có mấy pháp?
Phật dạy:
–Này Thiên chủ! Pháp hư vọng này đối với Biệt giải thoát có sáu pháp. Những gì là sáu? Ðó là mắt thấy sắc, tai nghe tiếng, mũi ngửi mùi, lưỡi biết vị, thân cảm xúc, ý phân biệt pháp. Này Thiên chủ! Mắt xem sắc có hai thứ, đó là sắc nên xem và sắc không nên xem. Thứ không nên xem là đối với tất cả cảnh giới của pháp ô nhiễm thì không nên xem. Thứ nên xem là đối với các cảnh giới của pháp thiện thì nên quán sát. Cũng vậy, mắt xem cảnh sắc, cho đến ý phân biệt pháp cũng như thế.
–Bạch Thế tôn! Nay con nhờ Phật biết được nghĩa này. Những điều không nên xem là nếu mắt nhìn cảnh thuộc pháp bất thiện, hễ nhìn nó liền tăng trưởng pháp ô nhiễm, tổn hại pháp lành. Còn những điều nên xem là mắt thấy các cảnh thuộc pháp thiện, hễ thấy nó liền tăng trưởng pháp thiện, làm tổn giảm pháp ô nhiễm; cho đến ý phân biệt pháp trần cũng giống như vậy. Bạch Thế tôn! Nay con nhờ Phật nghe được pháp này rồi, mãn nguyện sung sướng, đoạn trừ mê lầm.
Lại bạch Phật:
–Thưa Thế tôn! Nếu lại có Bí sô muốn đoạn trừ hư vọng phải đoạn bao nhiêu pháp, hành bao nhiêu pháp?
Phật dạy:
–Này Thiên chủ! Nếu có Bí sô muốn diệt trừ pháp hư vọng cần phải đoạn ba pháp, hành ba pháp. Một là mê lầm, hai là mong cầu, ba là lời nói vô nghĩa. Ba pháp này cũng có thể thực hành, cũng có thể không thực hành. Nói không thực hành tức là đối với ba pháp bất thiện phải đoạn trừ không thực hành, nếu thực hành pháp bất thiện sẽ tăng trưởng, pháp thiện sẽ tổn giảm. Còn nói nên thực hành tức là đối với ba pháp bất thiện siêng năng đoạn trừ, như vậy pháp bất thiện được tổn giảm, pháp thiện được tăng trưởng.
Ðế thích bạch Phật:
–Thưa Thế tôn! Ðúng vậy, đúng vậy, nay con nhờ Phật được hiểu nghĩa này, đó là ba pháp: mê lầm, mong cầu và nói lời vô nghĩa. Nếu thực hành nó thì pháp thiện bị tổn giảm, pháp bất thiện được tăng trưởng. Nếu các Bí sô đối với ba pháp này siêng năng đoạn trừ thì pháp bất thiện sẽ tổn giảm, pháp thiện được tăng trưởng.
Lại bạch Phật:
–Thưa Thế tôn! Nếu có Bí sô thực hành pháp diệt trừ hư vọng, có mấy loại thân?
Phật dạy:
–Này Thiên chủ! Nếu có Bí sô thực hành pháp diệt trừ hư vọng thì có ba loại thân. Ba loại thân đó là: thân vui thích, thân khổ não và thân xả. Thân vui thích có hai nghĩa, đó là nên thực hành và không nên thực hành. Nên thực hành là các pháp thiện, không nên thực hành là các pháp bất thiện. Thân khổ não và thân xả cũng lại như vậy.
Ðế thích bạch Phật:
–Thưa Thế tôn! Ðúng vậy, đúng vậy, nay con nhờ Phật nên được hiểu nghĩa này. Nếu các Bí sô thực hành pháp diệt trừ hư vọng, đối với thân vui thích, thân khổ não và thân xả, ba loại thân này nên thực hành theo các pháp thiện, đừng nên thực hành theo các pháp bất thiện.
Bấy giờ, Ðế thích lại bạch Phật:
–Thưa Thế tôn! Tất cả chúng sanh, sự ưa muốn, nhớ nghĩ và sắc tướng có giống nhau không?
Phật dạy:
–Chẳng giống nhau. Này thiên vương! Tất cả chúng sanh không đồng một ưa muốn, không đồng một nhớ nghĩ, không đồng một sắc tướng. Này Thiên chủ, tất cả chúng sanh tuy mỗi mỗi đều ở trong cảnh giới của mình, nhưng không biết các cảnh giới sai biệt. Vì không biết các cảnh giới sai biệt cho nên mới đi vào con đường tối tăm, trở lại chấp pháp si mê cho đó là chơn thật. Các chúng sanh này không biết các cõi muôn ngàn sai biệt, điều họ biết được chỉ là cảnh giới tối tăm. Tuy có hiểu biết nhưng cũng thường đi vào con đường tăm tối, chấp chặt lấy si mê mà cho là chơn thật.
Ðế thích bạch Phật:
–Thưa Thế tôn! Ðúng vậy, đúng vậy, như Phật đã dạy, nay con nhờ Phật nên biết được nghĩa này: tất cả chúng sanh không đồng một ưa muốn, không đồng một nhớ nghĩ, không đồng một sắc tướng. Do vì các chúng sanh ấy không biết sự sai biệt cho nên mới chấp sự si ám cho là chơn thật.
Bấy giờ Ðế thích lại bạch Phật:
–Thưa Thế tôn! Tất cả Sa môn, Bà la môn đều đạt được cứu cánh là phạm hạnh thanh tịnh chăng?
Phật dạy:
–Chẳng phải như vậy. Ðiều này có hai nghĩa. Này Thiên chủ! Nếu các Sa môn, Bà la môn nào không thể tận trừ ái dục, chắc chắn không thể nào đạt được cứu cánh là phạm hạnh thanh tịnh. Còn nếu Sa môn, Bà la môn nào có thể đoạn trừ được ái dục, liền chứng được Vô thượng giải thoát, tâm chánh giải thoát, kẻ ấy mới gọi là đạt được cứu cánh là phạm hạnh thanh tịnh.
Ðế thích bạch Phật:
–Thưa Thế tôn! Ðúng vậy, đúng vậy, như lời Phật dạy, nay con nhờ Phật hiểu được nghĩa này: nếu các Sa môn Bà la môn không thể tận trừ ái dục, kẻ ấy quyết định không thể đạt được cứu cánh là phạm hạnh thanh tịnh. Còn nếu các Sa môn Bà la môn nào đã tận trừ được ái dục thì quyết định đạt được Vô thượng giải thoát, tâm chánh giải thoát, kẻ ấy mới gọi là đạt được cứu cánh là phạm hạnh thanh tịnh.
Bấy giờ Ðế thích lại bạch Phật:
–Thưa Thế tôn! Nay con làm sao vĩnh viễn xa lìa bệnh của các kiến chấp, làm sao cho nó không còn sanh ra nữa? Bệnh của các kiến chấp ấy từ tâm thức sanh ra, vậy tâm thức này của con lại phải làm thế nào? Con tuy hỏi Phật về ý nghĩa các thứ nhưng tại sao con vẫn không đạt được Thánh quả, được quả Ứng chánh đẳng giác của Phật Như lai? Cúi mong đức Thế tôn vì con đoạn trừ mê lầm là bệnh gốc của các kiến chấp.
Phật dạy:
–Này Thiên chủ! Ông có biết không, ở thời trước, có Sa môn, Bà la môn cũng hỏi về ý nghĩa này.
Ðế thích bạch Phật:
–Nay con nhớ lại trong một thời có chư thiên với đại oai lực nhóm họp ở hội Thiện pháp, cung trời Ðao lợi.
Khi ấy, trong hội có các thiên nhơn vì không biết pháp nên vội muốn thành Phật. Vì có ý như vậy nên họ bạch với Thế tôn. Thế tôn quán sát thấy họ là những người ngu si cho nên Thế tôn đã không thọ ký cho họ. Chư thiên ấy vì không được mãn nguyện, tâm có sai biệt, nên từ chỗ ngồi đứng dậy, mỗi người đều trở về chỗ ở của mình. Chỗ ở của họ chẳng hiện ra nên liền bị đọa lạc. Lúc đó chư thiên này vì bị đọa lạc nên hết sức sợ hãi, tâm sanh mê lầm, ai cũng nghĩ như vầy: Chỗ ở của mình không hiện ra, chắc chắn phải bị đọa lạc. Nếu ta thấy được vị Sa môn Bà la môn nào liền đến để thưa hỏi:
–Ông có phải là Như lai, Ứng cúng chánh đẳng chánh giác chăng?
Bấy giờ, chư thiên kia hoặc có người thấy con một mình đi kinh hành, đến chỗ con hỏi:
–Này nhơn giả! Ngài là ai?
Con đáp:
–Tôi là Thiên chủ Ðế Thích.
Khi ấy chư thiên kia trong lòng rất khổ não, thưa:
–Này Thiên chủ! Há ngài không thấy tôi đang bị khổ não sao? Vì tôi hướng đến Phật để hỏi pháp nhưng không thể hỏi được, muốn quy y mà không quy y được, vì dùng tâm sai biệt nên liền trở về chỗ ở của mình, chỗ ở của mình lại chẳng hiện ra, chắc chắn biết mình đã bị đọa lạc cho nên khổ não, mong được cứu hộ. Này Thiên chủ! Kể từ ngày hôm nay, tôi thệ nguyện quy y Phật làm đệ tử Thanh văn.
Khi ấy con liền nói kệ đáp vị thiên kia:
Các ngươi khởi niệm tà
Nói ra lời bất chánh
Tâm sai biệt cầu Phật
Do đó chịu khổ mãi.
Hoặc thấy vị Sa môn
Và các Bà la môn
Kinh hành liền thưa hỏi:
“Ngài là chánh giác chăng?
Nếu là bậc chánh giác
Con quy y cúng dường”.
Con liền hỏi vị kia
Làm sao để cúng dường
Chỗ hỏi không thể biết
Phật chánh đạo như thật.
Khi ấy thiên chúng kia
Những dục vọng trong lòng
Tâm và tâm sở pháp
Mê lầm mà phân biệt.
Con biết tâm pháp họ
Như Thế tôn đã dạy
Con đã nói với họ
Ở trong ba cõi này.
Chỉ có Phật Thế tôn
Là Ðại sư thế gian
Hàng phục đại ma quân
Ðộ các loài hữu tình.
Ðến bờ giác Niết bàn
Như lai đại giác tôn
Ở thiên thượng, nhơn gian
Không có ai bằng Ngài.
Ðại trượng phu vô úy
Khéo đoạn bệnh tham ái,
Như lai Ðại nhật tôn
Ngươi nay cúi đầu lạy.
Khi Thiên chủ Ðế thích nói việc này xong, Phật lại bảo:
–Này Thiên chủ! Ông có thể biết được việc quá khứ này, đó là lợi Phân biệt và lợi vui thích.
Ðế thích bạch Phật:
–Bạch Thế tôn! Nay con nhớ lại một thuở xưa, chư thiên và A tu la cùng đánh nhau, thiên nhơn thắng trận, A tu la bại trận. Con suy nghĩ như vầy: “Những điều vui thích của thiên nhơn và của A tu la, nay con một mình được sự vui thích, nhơn được cái lợi vui thích như vậy, thì suốt cả cuộc đời này cần phải tranh giành, đao binh chém giết lẫn nhau, đó gọi là cái lợi của sự vui thích. Còn lợi phân biệt là suốt cả đời này không có tranh giành cho đến việc dùng đao binh tàn hại lẫn nhau, đó là lợi phân biệt”.
Ðế thích lại thưa:
–Bạch Thế tôn! Nay con nhờ Phật nghe được chánh pháp này, lại càng thêm thâm tín, phát khởi hạnh nguyện. Nguyện cho con sau khi mạng chung, nếu sanh ở nhơn gian thì được sanh vào nhà giàu có, sang trọng, tiền bạc lúa thóc vô kể, chứa nhiều châu báu, xe cộ đầy đủ, quyến thuộc đông đúc, mọi thứ chẳng thiếu vật gì. Nguyện cho con sẽ sanh vào nhà giàu có như vậy, ở thai trí tuệ, thân thể tròn đầy, sắc tướng đẹp đẽ, ăn uống thượng vị, tôn quý tự tại, thọ mạng lâu dài, khởi sanh chánh tín, theo Phật xuất gia, cạo bỏ râu tóc mặc áo cà sa làm Bí sô, thường giữ phạm hạnh không có thiếu sót sai phạm, chứng quả Tu đà hoàn, Tư đà hàm, cho đến đạt được biên vực tận cùng của sự khổ. Bạch Thế tôn! Con lại nghe nói có cõi trời Sắc cứu cánh, mong cho con khi mạng chung ở nhơn gian được sanh lên cõi trời ấy.
Phật dạy:
–Này Thiên chủ! Lành thay, lành thay, này Thiên chủ. Như lời nguyện của ông, do nhân duyên gì mà có được sự chứng quả thù thắng ấy?
Ðế thích bạch Phật:
–Thưa Thế tôn! Con không có nguyên nhơn gì đặc biệt, chỉ nhờ theo Phật nghe chánh pháp mà phát khởi đức tin sâu xa, nhờ nguyện lực ấy mà chứng được quả như vậy. Bạch Thế tôn! Nay con ở trong hội này được nghe chánh pháp, nhờ pháp lực ấy nên được tăng trưởng trí tuệ, lại được tăng thêm tuổi thọ.
Khi ấy, Ðế thích phát nguyện này xong, xa lìa mọi thứ cấu nhiễm, được pháp nhãn thanh tịnh, đồng thời có tám vạn người trời cũng được pháp nhãn thanh tịnh. Bấy giờ Thiên vương Ðế thích nghe pháp, thấy pháp, có thể thông tỏ an trụ vững chắc nơi pháp, đoạn các mê lầm. Chứng như vậy xong, liền từ chỗ ngồi đứng dậy, trịch áo vai bên phải, chấp tay đảnh lễ bạch Phật:
–Bạch Thế tôn! Con được giải thoát! Con được giải thoát! Kể từ hôm nay cho đến trọn đời con xin quy y Phật, Pháp và Tăng, thọ trì giới Ưu bà tắc.
Bấy giờ Thiên chủ Ðế thích đang ở trước đức Phật quay lại nói với Ngũ Kết Càn thát bà vương tử:
–Nhờ ngươi mà ngày nay ta được hoan hỷ, lợi lạc và nhiều người cũng được lợi ích. Nhờ ngươi đã đến trước dùng âm thanh vi diệu này cúng dường Phật khiến cho chúng ta được nghe pháp, chứng quả. Chờ ta trở về cung sẽ khiến cho ngươi được mãn nguyện.
Khi ấy, Thiên chủ Ðế thích lại bảo Thiên chúng cõi Ðao lợi:
–Này các nhơn giả! Các ngươi hãy dùng phạm âm, ba lần xin quy y đức Phật. Vì sao như vậy? Vì ngày nay đức Phật Thế tôn đã đắc Phạm trụ, tịch tĩnh, Niết bàn.
Bấy giờ Thiên chúng đi theo Ðế Thích, đều nhiễu quanh chỗ Phật ba vòng đầu mặt lạy sát chân Phật, đứng trước đức Phật, khác miệng cùng lời bằng phạm âm, ba lần quy y Phật:
–Na mô na mạc, tát đa tát muội, bà nga phạ đế, đát tha nga đa da, a ra ha đế, tam miệu tam một đà dã (Thành kính đảnh lễ bậc Nhất thiết trí, Thế tôn, A la hán, Chánh đẳng Chánh giác).
Thiên chủ Ðế thích và các thiên chúng ấy ba lần quy y Phật xong cùng với Ngũ Kết Càn thát bà vương tử… biến mất khỏi hội chúng, trở về cõi trời.
Bấy giờ Ðại phạm Thiên vương, chủ cõi Ta bà, ngày đã qua, đêm đến, đi tới chỗ Phật, thân phát ra ánh sáng rực rỡ, chiếu sáng hang Ðế Thích, đến trước đức Phật, lạy dưới hai chân Ngài, chấp tay đảnh lễ, nói kệ:
Ðế thích được nhiều lợi.
Theo Phật hỏi chánh pháp.
Phật dùng vi diệu âm.
Ðoạn trừ hết mê lầm.
Phạm vương nói kệ xong, bạch Phật:
–Bạch Thế tôn! Khi Phật nói chánh pháp, Thiên chủ Ðế thích xa lìa mọi thứ cấu nhiễm, được con mắt pháp thanh tịnh, tám vạn trời người cũng được con mắt pháp thanh tịnh.
Phật dạy:
–Ðúng vậy, đúng vậy!
Khi ấy, Ðại phạm thiên vương, chủ cõi Ta bà, nghe Phật nói xong, hoan hỷ tin vâng, lạy dưới chân Phật rồi ẩn thân biến mất, trở về cõi trời.
Bấy giờ đức Thế Tôn, lúc đêm vừa tàn, đến chỗ chúng Bí sô, đi vòng quanh rồi an tọa, bảo các Bí sô:
–Ngày đã qua, khoảng nửa đêm, Ðại phạm thiên vương, chủ cõi Ta bà đi đến chỗ ta, lạy dưới chân xong, chấp tay cung kính nói kệ:
Ðế thích được nhiều lợi.
Theo Phật hỏi chánh pháp.
Phật dùng vi diệu âm.
Ðoạn trừ hết mê lầm.
Lại nói với ta:
–Thiên chủ Ðế thích khi nghe chánh pháp, được mắt pháp thanh tịnh, và tám vạn trời người cũng được mắt pháp thanh tịnh.
Ta liền nói:
–Ðúng vậy, đúng vậy!
Khi ấy, Phạm vương nghe lời ta nói hoan hỷ tin vâng, lạy dưới chân ta rồi, ẩn thân biến mất, trở về cõi trời.
Bấy giờ các Bí sô nghe Phật nói pháp này xong, thảy đều hoan hỷ, lạy Phật lui ra.
PHẬT NÓI KINH ÐẾ THÍCH SỞ VẤN
Kinh Đế Thích Sở Vấn
Việt dịch: Huyền Thanh
Như vậy tôi nghe. Một thời Đức Phật ngự tại Đế Thích Nham (Indraśilāguhā:cái hang Đế Thích) ở núi Tỳ Đề Hứ (Vaidehī) thuộc phía Bắc của làng xóm (Grāma:tụ lạc) Đại Bà La Môn, trong vườn Am La (Āmrapāli, hay Āmrāvati) ở phía Đông của thành Vương Xá (Rājagṛha) thuộc nước Ma Già Đà (Magadha), cùng với Đại Chúng đến dự.
Bấy giờ Đế Thích Thiên Chủ (Śakra Devānām-indra) nghe Đức Phật ngự trong Đế Thích Nham ở núi Tỳ Đề Hứ tại nước Ma Kiệt Đà, liền bảo Ngũ Kế Càn Thát Bà Vương Tử (Pañca-śikhā-gandharva) rằng: “Ngươi có biết chăng ? Ta nghe Đức Phật ngự trong Đế Thích Nham ở núi Tỳ Đề Hứ tại nước Ma Kiệt Đà. Ta muốn cùng với ngươi đi đến chỗ Phật ngự, gần gũi cúng dường”
Lúc đó, Ngũ Kế Càn Thát Bà Vương Tử nghe lời nói này xong, bạch với Đế Thích rằng: “Thưa Thiên Chủ ! Rất tốt”
Nói lời này xong, liền cầm cây đàn Lưu Ly Bảo Trang Không Hầu theo hầu Đế Thích. Thời Thiên Chúng ấy nghe Đế Thích Thiên Chủ cùng với Ngũ Kế Càn Thát Bà Vương Tử phát Tâm đi đến chỗ của Đức Phật gần gũi cúng dường, đều phát Tâm ưa thích theo hầu, đi đến chỗ của Đức Phật gần gũi cúng dường.
Bấy giờ Đế Thích Thiên Chủ, Ngũ Kế Càn Thát Bà Vương Tử cùng với Thiên Chúng ấy từ cõi Trời ẩn mất, ví như khoảng người Lực Sĩ co duỗi cánh tay, liền đến bên cạnh núi Tỳ Đề Hứ tại nước Ma Già Đà. Lúc đó, ngọn núi ấy đột nhiên có ánh sáng lớn chiếu sáng khắp cả. Hết thảy người dân ở bốn mặt của ngọn núi ấy đều nhìn thấy ánh sáng đấy xong, cùng nhau nói rằng: “Vì sao ngọn núi này có lửa rực sáng che lấp Bản Tướng giống như ngọn núi báu ?”.
Khi ấy Đế Thích Thiên Chủ bảo Ngũ Kế Càn Thát Bà Vương Tử rằng: “Ông thấy ngọn núi này có hình sắc thù diệu như vậy chăng ? Vì Đức Thế Tôn an nghỉ trong ấy nên có bốn việc thanh tịnh. Lại nữa hết thảy Đường, Điện của ngọn núi này thảy đều do vật báu tạo thành. Người cư ngụ ở đấy đều dứt hết các phiền não, đều chứng Thánh Quả, cho đến chư Thiên có sức mạnh to lớn cũng thường dừng nghỉ ở chốn này”
Lại bảo rằng: “Chính vì thế cho nên chúng ta khó có dịp gặp gỡ. Như lúc trước đã nói gần gũi cúng dường. Nay chính là lúc ! Này Ngũ Kế Càn Thát Bà Vương Tử ! ông có thể dùng nhạc khí đã mang theo, nên tác cúng dường. Tại sao thế ? Vì bỏ qua dịp này, rất khó gặp gỡ được !”
Khi Càn Thát Bà Vương Tử nghe lồi này xong liền bạch với Đế Thích rằng: “Rất tốt ! Rất tốt !”.
Nói lời này xong, khiền khởi suy nghĩ: “Chư Phật Như Lai có đủ Thiên Nhĩ Thông (Divya-śrotra-jñāna-sākṣātkriyābhijñā) không kể xa gần thảy đều nghe thấy”
Tác niệm này xong, liền khảy cây đàn Lưu Ly Bảo Trang Không Hầu đã đem theo, ở trong âm thanh ấy phát ra Già Đà (Gāthā: Kệ Tụng), ở trong Già Đà nói việc đã yêu thích.
Già Đà ấy là:
“Như hiền nữ Nhật Quang (Sūrya-prabha)
Nên thỉnh cầu vua cha
Cùng Ta làm quyến thuộc
Đây biết như hiền lương
Ta đã luyến mộ nàng
Ví như người nóng bức
Nghĩ nhớ nơi trong mát
Như người khát nhớ nước
Như người bệnh nhớ thuốc
Như người đói nhớ ăn
Như voi lớn bị khóa
Chẳng thể bước tới trước
Lại như A La Hán (Arhat)
Vui cầu Pháp Tịch Diệt
Nay nguyện cầu của Ta
Nghĩa ấy cũng như thế
Tham Dục thêm phiền phiền não
Đây không có chân thật
Điều nguyện cầu chẳng đạt
Chịu mọi thứ khổ não
Ta đã làm nghiệp Phước
Cúng dường A La Hán
Đã đạt được Quả Báo
Đem cọng chung với nàng
Ta cầu Nhật Quang Nữ
Ý này rất bền chắc
Đế Thích ! Chủ chư Thiên
Hãy cho tôi mãn nguyện”
Bấy giờ Đức Thế Tôn ở trong hang Đế Thích, dùng Thiên Nhĩ Thông từ xa nghe thấy âm thanh ấy, liền dùng Thần Lực từ xa bảo Ngũ Kế Càn Thát Bà Vương Tử rằng:“Lành thay ! Lành thay Càn Thát Bà Vương Tử ! Ông khéo dùng nhạc khí, khi khảy dây đàn thời phát ra âm thanh vi diệu như tiếng ca màu nhiệm. Khi phát ra tiếng ca thời lại như âm thanh của dây đàn. Do Nhân (Hetu) nào mà đợi đến khi phát ra âm nhạc thì ở trong dây đàn ấy tuôn ra Già Đà. Lại ở Già Đà nói ba loại âm thanh là âm thanh yêu thích, âm thanh của loài Rồng, âm thanh của A La Hán ?”
Khi ấy Ngũ Kế Càn Thát Bà Vương Tử nương theo Thần Lực của Đức Phật, từ xa nghe thấy lời nói của Đức Phật, liền bạch Phật rằng: “Thế Tôn ! Con nhớ một thời có vị Càn Thát Bà Vương (Gandharva-rāja) tên là Đống Mẫu La (Tumburu). Vị vua ấy có cô con gái tên là Nhật Quang (Sūrya-prabha), Tâm con ưa thích, cầu làm quyến thuộc. Lúc đó, tuy con làm mọi loại phương tiện cũng chẳng được thỏa nguyện, bèn đến trước mặt cô gái khảy nhạc khí như vậy, ở trong dây đàn của nhạc khí tuôn ra Già Đà, ở trong Già Đà nói ba loại âm thanh.
Thế Tôn ! Ngay khi con khảy nhạc khí này thời Thiện Pháp Hội kia có các Thiên Chúng nói chuyện với nhau rằng: “Vị Ngũ Kế Càn Thát Bà Vương này chẳng thấy chẳng nghe Đức Phật Thế Tôn của Ta có đầy đủ mười Hiệu: Như Lai (Tathāgata), Ứng Cúng (Arhat), Chính Biến Tri (Samyak-saṃbuddha), Minh Hạnh Túc (Vidyā-caraṇa-saṃpanna), Thiện Thệ (Sugata), Thế Gian Giải (Loka-vid), Vô Thượng Sĩ (Anuttara), Điều Ngự Trượng Phu (Puruṣa-damya-sārathi), Thiên Nhân Sư (Śāstā deva-manuṣyāṇāṃ), Phật Thế Tôn (Buddha-lokanātha)”
Lúc đó con nói với Thiên Chúng rằng: “Chư Thiên các ông khéo ca ngợi Đức Hạnh của Phật”
Chư Thiên đáp rằng: “Này Ngũ Kế Càn Thát Bà Vương Tử ! Hết thảy Công Đức mà chúng tôi đã khen ngợi Đức Phật, đem cho chung với ông”
Ngũ Kế Càn Thát Bà Vương Tử nghe chư Thiên nói, đột nhiên tỉnh ngộ, bảo rằng: “Này Nhân Giả ! Nay tôi quy y Đức Phật Thế Tôn”
Con dùng việc này cho nên hướng về Đức Phật khảy nhạc khí như vậy”
Bấy giờ Đế Thích Thiên Chủ tác niệm như vầy: “Nay căn duyên của Ngũ Kế Càn Thát Bà Vương Tử này đã thành thục, chỉ chưa đến trước mặt Đức Phật, tác cúng dường”
Tác niệm này xong, bảo Ngũ Kế Càn Thát Bà Vương Tử rằng: “Ông đem lời của Ta, đi đến chỗ của Đức Phật, cúi đầu mặt lễ bàn chân của Phật, rồi như lời của Ta mà thưa rằng: “Thiên Chủ Đế Thích cúi đầu dưới hai bàn chân của Đức Phật, thăm hỏi Đức Thế Tôn có ít bệnh,ít buồn bực, đứng ngồi có nhẹ nhàng thuận lợi, khí lực an ổn chăng ? Đi đứng không có bực bội chăng ?Nay con cùng với Thiên Chúng của cõi Trời Đao Lợi muốn đi đến chỗ của Phật, gần gũi cúng dường, lắng nghe Đức Phật chỉ bảo”
Khi ấy Ngũ Kế Càn Thát Bà Vương Tử nghe lời này xong, bạch với Đế Thích rằng: “Thưa Thiên Tử ! Rất tốt”.
Nói lời này xong, đi đến chỗ của Đức Phật, cúi đầu mặt lễ bàn chân của Đức Phật, đứng trụ một bên rồi bạch Phật rằng: “Thế Tôn ! Đế Thích Thiên Chủ cùng với Thiên Chúng của cõi Trời Đao Lợi sai con đến đây, lễ hai bàn chân của Đức Phật, thăm hỏi Đức Thế Tôn có ít bệnh,ít buồn bực, đứng ngồi có nhẹ nhàng thuận lợi, khí lực an ổn chăng ? Đi đứng không có bực bội chăng ? Hôm nay chúng con muốn đi đến chỗ của Phật, gần gũi cúng dường, cho nên sai con đến lắng nghe lời chỉ dạy của Đức Phật”
Đức Phật liền đáp rằng: “Ông có thể quay về báo cho Đế Thích với Thiên Chúng ấy: “Nay chính là lúc”
Lúc đó Ngũ Kế Càn Thát Bà Vương Tử vâng theo Thánh Chỉ của Đức Phật quay về cõi của Đế Thích, truyền lại lời dạy của Đức Thế Tôn: “Nay chính là lúc”
Khi ấy Đế Thích Thiên Chủ với Thiên Chúng của cõi Trời Đao Lợi liền đi đến chỗ của Đức Phật. Đến chỗ Đức Phật ngự xong, lễ hai bàn chân của Đức Phật rồi đứng ở một bên.
Lúc đó Thiên Chủ liền khởi niệm này: “Hang Đế Thích này có vẻ chật hẹp, còn Thiên Chúng thì nhiều vô số. Như thế làm sao mà ngồi đây ?”
Đức Phật biết Ý ấy, liền dùng Thần Lực khiến cho hang động rộng rãi, dung chứa các Thiên Chúng chẳng có sự trở ngại. Đế Thích Thiên Chủ với Thiên Chúng ấy, mỗi mỗi đều lể Đức Phật rồi theo thứ tự mà ngồi.
Các Chúng đã ngồi yên xong, Đế Thích Thiên Chủ chắp tay bạch rằng: “Thế Tôn! Con ở đêm dài, ưa muốn nhìn thấy Đức Phật, vui nghe Chính Pháp.
Thế Tôn ! Con nhớ một thời Đức Phật ở trong vườn Kỳ Thọ Cấp Cô Độc (Jeṭavaṇe’nāthapiṇḍadasyārāma) tại nước Xá-Vệ (Śrāvastya), nhập vào Tam Muội Hỏa Giới (Agni-dhātu-samādhi). Khi ấy, con ở tại cung Tỳ Sa Môn (Vaiśravaṇa¬pura) thấy trong cung ấy có một vị phu nhân tên là Diệu Tý (Subāhu) nhìn thấy Đức Phật nhập vào Tam Muội Hỏa Giới đấy, chắp tay cung kính, chuyên Tâm niệm Phật.
Con thấy Đức Thế Tôn chưa rời khỏi Tam Muội (Samādhi) đã bảo Diệu Tý rằng: “Đợi đến khi Đức Phật Thế Tôn ra khỏi Tam Muội, truyền dạy con đến ngay, thăm hỏi Đức Phật có ít bệnh, ít buồn bực, đứng ngồi có nhẹ nhàng thuận lợi, khí lực an ổn chăng ? Đi đứng không có bực bội chăng ?” Lại bảo rằng: “Đợi đến khi Đức Phật ra khỏi Định, truyền dạy con đến ngay, đừng để cho quên mất”.
Bạch Đức Thế Tôn ! Việc này có thật chăng?”
_ Đức Phật bảo Đế Thích: “Việc này thật như thế. Vị phu nhân kia từng thay mặt cho ông, đến kính cẩn thăm hỏi Ta”
Đức Phật lại bảo rằng: “Này Thiên Chủ ! Ta ở tại Tam Muội (Samādhi) cũng nghe ông nói, sau đó chẳng lâu, liền ra khỏi Tam Muội”
Bấy giờ Đế Thích bạch rằng: “Thế Tôn ! Xưa con từng nghe, có Đức Phật Như Lai Chính Đẳng Chính Giác hiện ra ở đời, làm lợi ích lớn, dùng phương tiện lớn tùy theo loại mà dẫn lối, hoặc ần tướng người, hoặc hiện thân Trời. Nay con tự biết Đức Phật hiện ra ở Thế Gian làm lợi ích lớn, dùng phương tiện khéo tùy theo loại mà dẫn lối, hoặc ẩn hoặc hiện.
Thế Tôn ! Hết thảy Thanh Văn (Śrāvaka) theo Phật xuất gia, tu trì Phạm Hạnh (Brahma-caryā), sau khi mệnh chung sinh lên cõi Trời Đao Lợi (Trāyastriṃśa:Tam Thập Tam Thiên) rồi Thiên Nhân ấy ưa thích ba loại việc là: Thọ Mệnh (Jivita: hạn năm sinh tồn), Sắc Tướng (Rūpa-lakṣaṇa: hình chất tướng trạng) cùng với Danh Xưng (Yaśa: Danh tiếng)
Thế Tôn ! Xưa có Thích Nữ tên là Mật Hạnh (Guhya-caryā) theo Phật xuất gia, giữ gìn Phạm Hạnh, thường chán thân nữ, mong cầu tướng Nam Tử, sau khi mệnh chung sinh về cõi Trời Đao Lợi, làm con của con, tên là Mật Hạnh (Guhya-caryā), có đủ uy lực lớn. là bậc Đại Trượng Phu (Mahā-puruṣa)
Thế Tôn ! Lại có ba vị Bật Sô (Bhikṣu) tu Hạnh Thanh Văn (Śrāvaka-caryā) nhưng chưa chặt đứt được Tâm tham dục, sau khi mệnh chung, sinh về cõi Trời, làm con của vị Vĩ Na Càn Thát Bà (Vīṇā-gandharva) thường đi đến hầu hạ vị Mật Hạnh Thiên Tử kia.
Thời vị Mật Hạnh Thiên kia hướng đến người con của Vĩ Na Càn Thát Bà, nói Già Đà (Kệ Tụng) rằng:
“Xưa Ta là người nữ
Đủ Trí (Jñāna), tên Mật Hạnh
Chán nữ cầu tướng nam
Thường cúng Phật (Buddha) Pháp (Dharma) Tăng (Saṃgha)
Khi nhìn thấy ba người
Tu theo Hạnh Thanh Văn
Nay sinh vào Tộc thấp (Hạ Tộc)
Đến phụng sự cho Ta
Nay các ngươi nên biết
Ta vì ngươi nói thật
Xưa khi ngươi làm người
Bốn việc (việc lắng nghe, việc quy hướng, việc tu học, việc Bồ Đề) đều dư đủ
Chẳng y Phật Cấm Giới (Buddha-saṃvara:Giới luật của Đức Phật)
Nay ôm giữ xấu hổ
Hiểu Tâm (Citta) tức Chính Pháp (Sad-dharma)
Chỉ bậc Trí mới hiểu
_Xưa, Ta ngươi đồng hành
Gần Phật, nghe Chính Pháp Khởi tin, giữ Phật Giới Với cúng dường chúng Thánh Ta do hành Chính Hạnh (Samyak-pratipatti) Được làm con Đế Thích (Indra-putra) Đủ Uy Lực của Trời Tự biết tên Mật Hạnh Ở cung điện thù thắng Chuyển nữ thành tướng nam Ngươi, con Càn Thát Bà (Gandharva-putra) Theo Phật giữ Phạm Hạnh Nghe Phật Tối Thượng Pháp (Pháp tối thượng của Phật) Trở lại làm người hầu Ta ở trong cõi Trời Chưa thấy việc, nay thấy Tu trì Hạnh Thanh Văn Mà sinh vào Tộc thấp Ngươi, con Càn Thát Bà Chịu Mật Hạnh dạy bảo Các ngươi, chỗ được sinh Chẳng phải các Phật Tử (Buddha-putra: con của Phật)”
_ Con Càn Thát Bà nói
“Trời đã nói thành thật
Chúng tôi do tham dục
Đọa vào Càn Thát Bà
Nay tôi khởi tinh tiến
Chỉ niệm Phật Chính Pháp (Chính Pháp của Phật)
Biết tham dục sinh lỗi
Chặt Tâm tham dục ấy
Tham bị phiền não cột
Sức ấy thắng quân Ma
Vứt Phật Chân Thật Pháp (Pháp chân thật của Phật)
Nên chẳng sinh Thắng Thiên (cõi Trời cao hơn)”
Đế Thích (Indra) với Phạm Vương (Brahma-rāja)
Ngồi ở Thiện Pháp Hội
Quán Thắng Hạnh chư Thiên
Người đi đến cõi Trời
Thấy tôi ở Tộc thấp
Đi đến ở cõi Trời
Tôi do hành chẳng đúng
Nên chẳng được Thắng Quả.
_ Bấy giờ Mật Hạnh Thiên
Bạch với cha Đế Thích:
“Nay phụ vương nên biết
Phật của con tối thượng
Hiện ra ở đời, nghe
Khéo giáng phục quân Ma (Māra-sena)
Tên Thích Ca Mâu Ni (Śākya-muṇi)
Ba Càn Thát Bà (Gandharva) này
Là Đệ Tử của Phật
Quên mất nơi Chính Niệm (Samyak-smṛti)
Đọa vào Càn Thát Bà
Ở trong ba người ấy
Một người chẳng biết đúng
Hai người quy Chính Đạo (Samyak-mārga)
Thường hướng Phật Bồ Đề (Buddha-bodhi)
Mà thực hành Chính Pháp
Các Thanh Văn đã thấy
Không có ai theo kịp
Vị ấy lìa ham muốn
Hay chặt đứt phiền não (Kleśa)
Chỉ niệm Phật Thế Tôn
Chẳng sinh ra Tưởng (Saṃjñā) khác
Hết thảy Pháp chưa hiểu
Cả hai đều biết đúng
Được Quả Báo thù thắng
Sinh về cõi Phạm Thiên (Brahma-deva)”
_ Thế Tôn ! Lúc bấy giờ, con nghe Mật Hạnh Thiên Tử nói Kệ này xong, con đồi với việc này có chỗ chưa quyết định, cho nên đến chỗ của Phật, muốn trình bày thỉnh hỏi. Nguyện xin Phật rũ thương, vì con mà tuyên nói”
Khi ấy Đức Thế Tôn tác niệm này: “Đế Thích Thiên Chủ ở trong đêm dài, không có lười biếng, không có bỏ phế, không có bụi, không có dơ. Như có điều đã hỏi là chân thật chẳng biết, chẳng phải là làm việc của Ma. Điều ông ấy đã hỏi, Ta sẽ vì ông tuyên nói”
Tác niệm này xong, liền nói Già Đà, bảo Đế Thích rằng:
“Nay Đế Thích nên biết
Trong Tâm ông ưa thích
Muốn hỏi nghĩa lý nào
Nên hỏi, Ta sẽ nói”
Bấy giờ Đế Thích Thiên Chủ liền nói Già Đà, bạch với Đức Thế Tôn rằng:
“Nay mong Phật nghe, hứa
Như Ý con ưa thích
Nay con sẽ khải thỉnh
Nguyện xin Phật tuyên nói”
_ Đế Thích Thiên Chủ nói Già Đà xong, bạch với Đức Phật rằng: “Thế Tôn ! Hết thảy hàng Trời (Deva), Người (Manuṣya), A Tu La (Asura), Càn Thát Bà (Gandharva) với các Phàm Phu (Dị sinh: Pṛthag-jana) làm điều gì mà bị phiền não?”
Đức Phật nói: “Do yêu ghét gây ra phiền não. Này Đế Thích Thiên Chủ ! Hết thảy hàng Trời, Người, A Tu La, Càn Thát Bà cho đến các Phàm Phu…mà tác niệm này: “Than ôi ! Ta tự mình đối với người khác, trước tiên không có xâm phạm gây hại, cũng chẳng gây điều oan uổng, chẳng đánh nhau, chẳng giành giật, không có
gièm chê, không có kiện tụng, lại chẳng lôi kéo lẫn nhau. Vì sao đối với Ta lại trở ngược làm việc này ?!…”
Này Thiên Chủ ! Việc như vậy đều do yêu ghét mà dấy lên. Vì dấy lên yêu ghét cho nên phiền não liền sinh ra”
Đế Thích bạch rằng: “Thế Tôn ! Như vậy ! Như vậy ! Như Đức Phật đã nói. Nay con theo Phật biết rõ nghĩa này Yêu ghét gây ra phiền não. Chặt đứt sự nghi ngờ này thì tràn đầy Tâm vui thích”
Khi ấy Đế Thích Thiên Chủ được nghe Đức Phật nói, liền vui vẻ tin nhận.
_ Lại bạch Phật rằng: “Thế Tôn ! Phiền não yêu ghét này lấy gì làm Nhân (Hetu)? Do đâu mà tụ hội ? Do đâu mà sinh ra ? Lấy gì làm Duyên (pratyaya) ? Do Nhân nào mà có (Bhava)? Do Nhân nào mà không có (Abhava)?”
Đức Phật nói: “Thiên Chủ ! Phiền não yêu ghét này lấy oán thân làm Nhân. Do oán thân mà tụ hội, theo oán thân mà sinh ra, dùng oán thân làm Duyên. Do oán thân cho nên có phiền não yêu ghét, nếu không có oán thân thì yêu ghét liền không có”
Đế Thích bạch Phật rằng: “Như vậy ! Như vậy ! Như Đức Phật đã nói. Nay con theo Đức Phật biết rõ nghĩa này phiền não yêu ghét lấy oán thân làm Nhân, nếu không có oán thân tức không có yêu ghét”
_ Lại bạch Phật rằng: “Thế Tôn ! Oán Thân nhân vào đâu mà có ? Theo điều gì mà tụ hội ? Do đâu mà sinh ra ? Y theo Duyên nào Nhân nào mà có? Do Nhân nào mà không có ?”
Đức Phật bảo Đế Thích: “Sở Dục (Nơi mà mỗi một thứ phẩm loại thọ dụng tham dục đã cư trú) làm Nhân, theo Sở Dục mà tụ hội, do Sở Dục mà sinh ra, Y theo Sở Dục làm Duyên, Nhân vào Sở Dục ấy cho nên có oán thân, nếu không có Sở Dục thì oán thân liền không có”
Đế Thích bạch Phật rằng: “Như vậy ! Như vậy ! Như Đức Phật đã nói. Nay con theo Đức Phật biết rõ nghĩa này oán thân ấy nhân vào Sở Dục mà có”
_ Lại bạch Phật rằng: “Thế Tôn ! Nhưng Sở Dục này do Nhân nào mà có ? Theo điều gì mà tụ hội ? Do đâu mà sinh ra ? Y theo Duyên nào Nhân nào mà có? Do Nhân nào mà không có ?”
Đức Phật nói: “Này Đế Thích ! Sở Dục nhân vào sự nghi ngờ mê lầm (nghi hoặc) mà có, theo sự nghi ngờ mê lầm mà tụ hội, do sự nghi ngờ mê lầm mà sinh ra, y theo sự nghi ngờ mê lầm làm Duyên, nhân vào sự nghi ngờ mê lầm cho nên có Sở Dục, nếu không có sự nghi ngờ mê lầm tức không có Sở Dục”
Đế Thích bạch Phật rằng: “Như vậy ! Như vậy ! Như Đức Phật đã nói. Sở Dục nhân vào sự nghi ngờ mê lầm (nghi hoặc) mà có”
_ Lại bạch rằng: “Thế Tôn ! Sự nghi ngờ mê lầm lấy gì làm Nhân? Do đâu mà tụ hội? Do đâu mà sinh ra ? Lấy gì làm Duyên ? Song sự nghi ngờ mê lầm này do Nhân nào mà có? Do Nhân nào mà không có ?”
Đức Phật bảo Đế Thích: “Do hư vọng làm Nhân, theo hư vọng mà tập hội, do hư vọng mà sinh ra, y theo hư vọng làm Duyên. Do hư vọng cho nên liền có sự nghi ngờ mê lầm, do sự nghi ngờ mê lầm cho nên dẫn đến có sở dục, nhân vào Sở Dục ấy cho nên có oán thân, do oán thân ấy liền có yêu ghét, do yêu ghét cho nên liền có đao kiếm lôi kéo nhau gièm chê, kiện tụng, đánh nhau, giành giật. Tình sinh ra siểm khúc (Vaṅka, hay Kuhana: Làm ra dáng vẻ đáng yêu để lừa dối người khác), lời nói chẳng chân thật. Dấy lên mọi loại nghiệp tội, Pháp chẳng lành của nhóm như vậy. Do đây mà có một nhóm chất chồng khổ đau to lớn (đại khổ uẩn) tụ hội.
Này Thiên Chủ ! Nếu không có hư vọng tức không có sự nghi ngờ mê lầm. Nếu không có sự nghi ngờ mê lầm tức không có sở dục. Sở Dục đã không có thì oán thân làm sao mà có. Oán Thân chẳng dựng lập thì yêu ghét tự trừ, không có đao kiếm lôi kéo nhau gièm chê, kiện tụng, đánh nhau, giành giật. Tình của Siểm Khúc, lời nói chẳng thật…mọi loại nghiệp tội, Pháp chẳng lành của nhóm như vậy thảy đều được diệt. Như vậy ắt một nhóm khổ đau to lớn (đại khổ uẩn) được diệt.
Đế Thích bạch Phật rằng: “Như vậy ! Như vậy ! Như Đức Phật đã nói. Nhân vào sự nghi ngờ mê lầm cho nên liến có hư vọng”
_ Lại bạch Phật rằng” Thế Tôn ! Dùng Pháp nào để diệt Pháp hư vọng ? Cho đến Bật Sô (Bhikṣu) nên thực hành như thế nào ?”
Đức Phật bảo Thiên Chủ: “Pháp diệt được hư vọng là tám con dường chính đúng (Bát chính đạo: Aṣṭāṅgika-mārga)
Tám con đường chính đúng là:
1_ Chính Kiến (Samyak-dṛṣti: cái thấy chính đúng)
2_ Chính Tư Duy (Samyak-saṃkalpa: suy nghĩ chính đúng)
3_ Chính Ngữ (Samyak-vāc: nói năng chính đúng)
4_ Chính Nghiệp (Samyak-karmānta:làm công việc chính đúng)
5_ Chính Mệnh (Samyak-ājiva: nuôi mạng sống chính đúng)
6_ Chính Tinh Tiến (Samyak-vyāyāma: hoặc tinh tiến chính đúng)
7_ Chính Niệm (Samyak-smṛti: nghĩ nhớ chính đúng)
8_ Chính Định (Samyak-samādhi: an định Tâm chính đúng)
Do tám Pháp này mà hư vọng bị diệt. Nếu các Bật Sô thực hành Pháp này thì đây tức gọi là Diệt Hư Vọng Hạnh”
Đế Thích bạch Phật rằng: “Như vậy ! Như vậy ! Như Đức Phật đã nói. Pháp diệt hư vọng là tám con đường chính đúng”
_ Đế Thích lại bạch Phật rằng: “Thế Tôn ! Pháp đã diệt hư vọng. Nếu Bật Sô Hành Giả đang ở trong Pháp Biệt Giải Thoát (Prātimokṣa) thì có mấy loại Pháp?”
Đức Phật nói: “Này Thiên Chủ ! Pháp hư vọng ở trong Pháp Biệt Giải Thoát có sáu loại Pháp. Nhóm nào là sáu ? Ấy là: Mắt xem xét hình thể màu sắc, tai nghe âmthanh, mũi ngửi mùi hương, lưỡi biết mùi vị, thân hiểu biết sự tiếp chạm, Ý phân biệt Pháp.
Này Thiên Chủ ! Mắt xem xét hình thể màu sắc có hai loại nghĩa là: nên xem xét, chẳng nên xem xét.
Việc chẳng nên xem xét là đối với tất cả cảnh giới (Viṣaya) của Pháp ô nhiễm thì chẳng nên quan sát
Việc nên xem xét là đối với tất cả cảnh giới của Pháp lành (Kuśalā-dharmāḥ: Thiện Pháp) thì nên quan sát.
Như vậy, mắt xem xét Sắc Cảnh (Rūpa-viṣaya: cảnh giới của hình thể màu sắc) cho đến Ý phân biệt Pháp cũng lại như vậy”
_ “Thế Tôn ! Nay con theo Đức Phật biết rõ nghĩa này: Việc chẳng nên xem xét là hết thảy Pháp bất thiện của Nhãn Cảnh (Cakṣur-dhātu: Nhãn giới, cảnh giới mà
con mắt nhìn thấy). Nếu xem xét việc ấy tức là tăng trưởng Pháp ô nhiễm, giảm bớt Pháp lành
Việc chẳng nên xem xét ấy là hết thảy Pháp Thiện của Nhãn Cảnh. Nếu xem xét việc ấy tức là tăng trưởng Pháp lành, giảm bớt Pháp ô nhiễm…cho đến Ý phân biệt Pháp cũng lại như vậy.
Thế Tôn ! Nay con theo Đức Phật được nghe Pháp này xong thì chặt đứt được sự nghi ngờ mê lầm, vui sướng được thỏa mãn ước nguyện”
_ Lại bạch rằng: “Thế Tôn ! Nếu vị Bật Sô lại muốn diệt điều hư vọng thì nên chặt đứt bao nhiêu Pháp? Nên thực hành bao nhiêu Pháp ?”
Đức Phật nói: Này Thiên Chủ ! Nếu có vị Bật Sô muốn diệt Pháp hư vọng thì nên chặt đứt ba Pháp, nên thực hành ba Pháp.
1_ Sự nghi ngờ mê lầm
2_ Sự hy vọng
3_ Lời nói không có nghĩa
Ba loại Pháp này cũng có điều nên thực hành, có điều chẳng nên thực hành
Điều chẳng nên thực hành là đối với ba loại Pháp chẳng lành (Bất Thiện Pháp: Akuśalā-dharmāḥ) này thì nên chặt đứt chẳng thực hành. Nếu người lại thực hành thì tăng thêm Pháp chẳng lành, giảm bớt Pháp lành (Thiện Pháp: Kuśalā¬dharmāḥ).
Điều nên thực hành là đối với ba loại Pháp chẳng lành này thì siêng năng thực hành đoạn trừ, tức được giảm bớt sự chẳng lành, tăng trưởng Pháp lành”.
Đế Thích bạch rằng: “Thế Tôn ! Như vậy ! Như vậy ! Nay con theo Đức Phật biết rõ nghĩa này: Ba loại Pháp của nhóm nghi ngờ mê lầm, hy vọng, lời nói không có nghĩa…nếu người thực hành sẽ giảm bớt các Pháp lành, tăng trưởng sự chẳng lành. Lại nếu vị Bật Sô đối với ba Pháp này, siêng năng thực hành đoạn trừ, liền được giảm bới sự chẳng lành, tăng trưởng Pháp lành.
_ Tiếp lại bạch rằng: “Thế Tôn ! Nếu có vị Bật Sô thực hành diệt trừ Pháp hư vọng thì có bao nhiêu loại Thân (Kāya)?”
Đức Phật nói: “Này Thiên Chủ ! Nếu có vị Bật Sô thực hành diệt trừ Pháp hư vọng thì có ba loại Thân. Ba loại Thân là thân vui thích, thân khổ não, thân buông xả
Thân vui thích có hai nghĩa là nên thực hành, chẳng nên thực hành. Việc nên thực hành là các Pháp lành. Việc chẳng nên thực hành là các Pháp chẳng lành. Thân khổ não, thân buông xả cũng lại như vậy”
Đế Thích bạch Phật rằng: “Thế Tôn ! Như vậy ! Như vậy ! Nay con theo Đức Phật biết rõ nghĩa này. Nếu vị Bật Sô kia thực hành diệt trừ Pháp hư vọng, đối với thân vui thích, thân khổ não, thân buông xả…Đối với ba Thân này thì các nhóm Pháp lành thì nên thực hành, các nhóm Pháp chẳng lành đều chẳng nên thực hành”
_ Bấy giờ Đế Thích lại bạch rằng: “Thế Tôn ! Sự vui muốn, sự nghĩ nhớ,sắc tướng của hết thảy tất cả chúng sinh có đều giống nhau chăng ?”
Đức Phật nói: “Chẳng phải giống nhau vậy. Này Thiên Chủ ! Tất cả chúng sinh chẳng phải đồng một sự ham muốn (dục), chẳng phải đồng một sự nghĩ nhớ (niệm), chẳng phải là một sắc tướng.
Này Thiên Chủ ! Tất cả chúng sinh khiến như điều này: mỗi mỗi đều cư ngụ nơi Giới Thú (nơi chốn luân hồi sinh tử trong sáu nẻo thuộc ba cõi) của mình. Do chúng sinh kia chẳng biết Giới Thú có sai khác, thế nên đi vào con đường tối tăm (hắc ám), trở ngược lại chấp vào Pháp si mê (Si Pháp:Moha-dharma) cho là chân thật. Các chúng sinh này chẳng biết Giới Thú có mọi loại sai biệt, điều đã biết rõ chỉ là cõi HắcÁm. Tuy lại biết rõ, nhưng cũng thường đi vào con đường đen tối, chấp chặt vào Pháp si mê cho là chân thật”.
Đế Thích bạch rằng: “Thế Tôn ! Như vậy ! Như vậy ! Như Đức Phật đã nói ! Nay con theo Đức Phật biết rõ nghĩa này: Tất cả chúng sinh chẳng phải đồng một sự ham muốn (dục), chẳng phải đồng một sự nghĩ nhớ (niệm), chẳng phải là một sắctướng.Do chúng sinh chẳng biết điều sai biệt cho nên chấp vào sự Si Ám mà cho là chân thật”
_ Khi ấy Đế Thích lại bạch Phật rằng: “Thế Tôn ! Hết thảy tất cả hàng Sa Môn (Śramaṇa), Bà La Môn (Brāhmaṇa) đều được Phạm Hạnh (Brahma-caryā) trong rạch rốt ráo chăng?”
Đức Phật nói: “Chẳng phải giống nhau vậy, điều này có hai nghĩa.
Này Thiên Chủ ! Nếu hàng Sa Môn, Bà La Môn ấy chẳng thể dứt hết được Pháp luyến ái (Ái Pháp:Tṛṣṇa-dharma) kia thì quyết định chẳng đạt được Phạm Hạng trong sạch rốt ráo.
Nếu hàng Sa Môn, Bà La Môn ấy hay dứt hết Pháp luyến ái kia, liền được sự giải thoát chính đúng của Tâm giải thoát vô thượng. Đây gọi là được Phạm Hạnh trong sạch rốt ráo”.
Đế Thích bạch Phật rằng: “Thế Tôn ! Như vậy ! Như vậy ! Như Đức Phật đã nói! Nay con theo Đức Phật biết rõ nghĩa này: Nếu hàng Sa Môn, Bà La Môn chẳng thể dứt hết được Pháp luyến ái (Ái Pháp:Tṛṣṇa-dharma) thì quyết định chẳng đạt được Phạm Hạnh trong sạch rốt ráo.
Nếu có hàng Sa Môn, Bà La Môn dứt hết Pháp luyến ái kia, liền được sự giải thoát chính đúng của Tâm giải thoát vô thượng. Đây gọi là được Phạm Hạnh trong sạch rốt ráo”.
_ Lúc đó Đế Thích lại bạch Phật rằng: “Thế Tôn ! Nay con làm thế nào để được lìa hẳn bệnh của các Kiến (Dṛṣṭi, hoặc Darśana: suy nghĩ tìm cầu, xem xét rõ ràng rồi quyết định chọn lực sự lý) khiến cho nó chẳng sinh trở lại nữa? Bệnh của các Kiến đấy theo Tâm Thức sinh ra, Tâm Thức này của con cần phải làm thế nào? Tuy con hỏi Phật mọi loại ý nghĩa. Vì sao lại chẳng có thể được Quả Báo của bậc Thánh, được Phật Như Lai Ứng Chính Đẳng Giác ? Nguyện xin Đức Thế Tôn vì con mà chặt đứt gốc rễ của sự nghi ngờ mê lầm, bệnh của các Kiến”
Đức Phật nói: “Này Thiên Chủ ! Ông có biết chăng ? Vào thời xa xưa, có vị Bà La Môn cũng đã hỏi nghĩa này”
Đế Thích bạch rằng: “Thế Tôn ! Nay con nhớ lại, ở trong một thời, có chư Thiên có uy lực lớn tụ tập tại Hội Thiện Pháp trên cõi Trời Đao Lợi. Khi ấy trong Hội cócác Thiên Nhân chẳng biết Pháp, luôn muốn thành Phật. Dùng Ý như vậy nói rõ với Đức Thế Tôn. Đức Phật xem xét thấy họ là kẻ ngu tối nên chẳng trao cho thọ ký. Thời chư Thiên ấy chẳng được mãn ước nguyện, nên Tâm có sự sai biệt, từ chỗ ngồi đứng dậy, đều quay trở về chỗ ở của mình (bản giới). Vì chỗ ở của mình (bản giới) chẳng hiện ra, do đó liền bị đọa lạc.
Khi chư Thiên kia đã bị đọa lạc, liền rất sợ hãi, Tâm sinh nghi hoặc, đều tác niệm này: “Chỗ ở của mình chẳng hiện ra, chắc chắn biết đã bị đọa lạc. Nếu Ta được nhìn thấy vị Sa Môn, Bà La Môn…liền đi đến thỉnh hỏi: “Ông là đấng Như Lai Ứng Cúng Chính Đẳng Chính Giác chăng ?”
Thời chư Thiên ấy, hoặc nhìn thấy con (Đế Thích) chỉ đi Kinh Hành (Caṅkramana) một mình, liền đi đến chỗ của con, rồi hỏi con rằng: “Này Nhân Giả (người có Đức Hạnh, câu thường dùng để tôn xưng người đối diện)! Ông là người nào?”
Con liền đáp rằng: “Ta là Đế Thích Thiên Chủ”
Thời chư Thiên kia, vì Tâm khổ não nên bạch rằng: “Thiên Chủ ! Há chẳng thấy tôi đang chịu sự khổ não sao ? Do tôi hướng về Đức Phật, Pháp cần phải hỏi thì chẳng thể hỏi, nơi đáng Quy Y thì chẳng Quy Y. Dùng Tâm sai biệt bèn quay về chỗ ở của mình (bản giới) thì chỗ ở của mình chẳng hiện ra, chắc chắn biết đã bị đọa lạc, thế nên phải chịu sự khổ não. Nguyện xin nhìn thấy, cứu giúp !…
Thiên Chủ ! Từ ngày hôm nay, tôi thề quy y Phật, làm Đệ Tử Thanh Văn”
Vào lúc đó, con liền nói Già Đà, đáp lại vị Trời kia là:
“_ Các ngươi khởi Tà Niệm
Nói lời chẳng chính đúng
Cầu Phật, Tâm sai biệt
Do đó chịu khổ mãi
Hoặc nhìn thấy Sa Môn
Với Bà La Môn kia
Kinh Hành, liền thỉnh hỏi
“Ông là Chính Giác chăng ?
Nếu là Bậc Chính Giác
Tôi quy y, cúng dường”
_Con (Đế Thích) liền hỏi kẻ ấy
“Nên cúng dường thế nào?”
Chỗ hỏi, chẳng thể biết
Phật, chính đạo như thật
_ Thời các Thiên Chúng kia
Mọi lạc dục trong Tâm
Pháp Tâm (Citta) và Tâm Sở (Caitta, hay Caitasika)
Nghi hoặc mà phân biệt
Con biết Tâm Pháp ấy
Như Thế Tôn đã nói
Con đã vì họ nói
Ở trong ba cõi (Dục Giới, Sắc Giới, Vô Sắc Giới) kia
Chỉ có Phật Thế Tôn
Là Đại Sư Thế Gian
Khéo giáng phục quân Ma
Hay độ các Hữu Tình
Đến bờ kia (bờ giải thoát), Niết Bàn (Nirvāṇa)
Như Lai Đại Giác Tôn
Ở trên Trời, cõi người
Không có ai sánh bằng
Đại Trượng Phu Vô Úy (Vaiśāradya, hoặc Abhaya: không có sự sợ hãi)
Khéo chặt bệnh tham nhận Như Lai Đại Nhật Tôn (Mahā-varocana-nātha)
Nay con cúi đều lễ”
_ Khi Đế Thích Thiên Chủ nói việc này xong, thời Đức Phật lại bảo rằng: “ThiênChủ ! Ông có thể biết việc quá khứ kia, ấy là lợi phân biệt (phân biệt lợi) với lợi vui thích (thích duyệt lợi)”
Đế Thích bạch Phật rằng: “Thế Tôn ! Nay con nhớ lại, một thuở xa xưa, chư Thiên (Deva) cùng với Tu La (Asura) chiến đấu, Thiên Nhân được thắng, Tu La lui bại. Con tác niệm này: “Hết thảy sự vui sướng của Thiên Nhân với sự vui sướng của Tu La. Nay riêng mình con nhận được sự vui thích, nhân được lợi của sự vui thích như vậy ắt hết cuộc sống này sẽ có đấu tranh với đao binh hại nhau”. Đây là nhân vào lợi vui thích kia.
Lợi phân biệt là hết một đời này không có chiến đấu, không có tranh giành cho đến đao binh chẳng lôi kéo gây hại lẫn nhau. Đây là lợi của sự phân biệt”
Đế Thích lại nói: “Thế Tôn ! Nay con theo Phật nghe Chính Pháp này, chuyển lại tin tưởng sâu xa, phát khởi Hạnh Nguyện: “Nguyện khi con dứt tuổi thọ, nếu sinh vào nhân gian thời sinh vào giòng tộc giàu sang cao quý, có nhiều tiền của lúa đậu, tích chứa nhiều châu báu, xe cộ dư thừa, đầy đủ vật thưởng ngoạn ưa thích, quyến thuộc đông đầy, đầy đủ mọi loại, thường chẳng bị túng thiếu.
Nguyện cho con sinh vào giòng tộc cao quý như vậy, ở trong thai của bậc Trí, thân thể tròn đầy, sắc tướng thù diệu, ăn thức có thượng vị, tôn quý, tự tại, thọ mệnh lâu dài, khới Tâm tin tưởng chính đúng, hướng theo Phật xuất gia, cắt bỏ râu tóc, khoác mặc quần áo Pháp (Pháp phục) làm vị Bật Sô, thường giữ gìn Phạm Hạnh không có chỗ khuyết phạm, chứng quả Tu Đà Hoàn, Tư Đà Hàm cho đến đước bớ mé dứt hết sự khổ.
Thế Tôn ! Con lại nghe cõi Trời Sắc Cứu Cánh (Akaniṣṭha, hoặc Aghaniṣṭha).
Nguyện cho con khi chết ở nhân gian, lại được sinh về cõi Trời ấy”
Đức Phật nói: “Thiên Chủ ! Lành thay ! Lành thay Thiên Chủ ! Như ông đã nguyện. Do Nhân nào, Duyên nào mà có Quả đã chứng thù thắng này?”
Đế Thích bạch rằng: “Thế Tôn ! Riêng con không có Nhân (Hetu), chỉ là theo Phật nghe nơi Chính Pháp, mà phát khởi niềm tin sâu xa. Dùng sức Nguyện cho nên chứng Quả như vậy.
Thế Tôn ! Nay con ở trong Hội này, nghe nơi Chính Pháp, dùng sức của Pháp cho nên tăng thêm Trí Tuệ, lại tăng thêm thọ mệnh”
Lúc đó, Đế Thích phát Nguyện này xong thì xa bụi lìa dơ, được sự trong sạch của con mắt Pháp (Dharma-cakṣu: Pháp Nhãn). Lại có tám vạn Thiên Nhân cũng lại được sự trong sạch của con mắt Pháp.
Khi ấy Đế Thích Thiên Chủ nghe Pháp, thấy Pháp nên hay biết thấu tỏ, trụ Pháp bền chắc, chặt đứt các nghi ngờ mê lầm. Chứng như vậy xong, từ chỗ ngồi đứng dậy, trật áo hở vai phải, chắp tay, đỉnh lễ rồi bạch Phật rằng: “Thế Tôn ! Con được giải thoát ! Con được giải thoát ! Từ hôm nay cho đến hết thọ mệnh, con quy y Phật Pháp Tăng, giữ gìn Giới của Ưu Bà Tắc (cận sự Nam)”.
_ Bấy giờ Đế Thích Thiên Chủ liền ở trước mặt Đức Phật, quay lại nói với Ngũ Kế Càn Thát Bà Vương Tử rằng: “Nay ông đối với Ta, thích sinh Thiện Lợi với lợi ích cho nhiều người. Do Ông đến trước, dùng diệu nhạc cúng dường Đức Phật nên khiến cho chúng ta nghe Pháp được Quả. Chờ Ta quay về Cung, sẽ thỏa mãn ước nguyện của ông”
Khi ấy Đế Thích Thiên Chủ lại bảo Thiên Chúng của cõi Trời Đao Lợi rằng: “Này Nhân Giả ! Các ông nên tác Phạm Âm (Brahma-ghoṣa) ba lần Quy Phật. Ý ấy thế nào ? Vì nay Đức Phật Thế Tôn đã được Phạm Trú, Niết Bàn vắng lặng”
Lúc đó Thiên Chúng tùy theo Đế Thích nhiễu quanh Đức Phật ba vòng, liền cúi đầu mặt lễ hai bàn chân của Đức Phật, đứng ở trước mặt Đức Phật, khác miệng đồng tiếng, liền tác Phạm Âm (Brahma-ghoṣa), ba lần Quy Phật là:
“Na mô na mạc (1) tát đa tát muội, bà nga phộc đế (2) đát tha nga đa dã (3) a la ha đế, tam miểu tam một đà dã (4)”
矧伕矧休凹梜珞矛丫砉包凹卡丫出仲照包屹谷堄蒤湑傂
*) Namo namaḥ tattve-bhagavate, Tathāgatāya arhate samyaksaṃbuddhāya
(Quy mệnh kính lễ Đức Thế Tôn của bản tính chân thật. Ngài là đấng Như Lai, Ứng Cúng, Chính Đẳng Chính Giác)
Đế Thích Thiên Chủ và Thiên Chúng ấy ba lần quy y Phật xong, rồi cùng với nhóm Ngũ Kế Càn Thát Bà Vương Tử ấy ẩn mất ở trong Hội, quay trở về cõi Trời.
_ Khi ấy Ta Bà Thế Giới Chủ Đại Phạm Thiên Vương (Sahaṃpati) qua ngày này xong, vào ban đêm, đi đến chỗ của Đức Phật, lễ hai bàn chân của Đức Phật rồi lui ra ngồi một bên, chắp tay đỉnh lễ, nói Già Đà (Gāthā:Kệ ) rằng:
“Đế Thích vì nhiều lợi
Hướng Phật hỏi Chính Pháp
Phật dùng âm vi diệu
Cắt trừ sự nghi hoặc”
Lúc đó, vị Phạm Vương nói Già Đà xong, liền bạch rằng: “Thế Tôn ! Khi Đức Phật nói Chính Pháp thời Đế Thích Thiên Vương xa bụi lìa dơ, được sự trong sạch của con mắt Pháp, tám vạn người Trời cũng được sự trong sạch của con mắt Pháp”
Đức Phật nói: “Đúng như vậy ! Đúng như vậy !”
Thời Ta Bà Thế Giới Chủ Đại Phạm Thiên Vương (Sahaṃpati) nghe Đức Phật nói xong, vui vẻ tin nhận, lễ bàn chân của Đức Phật rồi ẩn thân chẳng hiện, quay trở lại cõi Trời.
_ Khi ấy Đức Thế Tôn liền ở trong đêm, đi đến chỗ ngồi có chúng Bật Sô vây quanh, rồi bảo các vị Bật Sô rằng: “Qua ngày này xong, ở trong ban đêm, Ta Bà Thế Giới Chủ Đại Phạm Thiên Vương đi đến chỗ của Ta, lễ bàn chân của Ta rồi chắp tay cung kính, nói Già Đà rằng:
“Đế Thích vì nhiều lợi
Hướng Phật hỏi Chính Pháp
Phật dùng âm vi diệu
Cắt trừ sự nghi hoặc”
Lại vì Ta nói rằng: “Khi Đế Thích Thiên Chủ nghe Chính Pháp thời được sự trong sạch của con mắt Pháp, với tám vạn người Trời cũng được sự trong sạch của con mắt Pháp”. Ta liền bảo rằng: “Đúng như vậy ! Đúng như vậy !” Thời vị Phạm Vương ấy nghe Ta đã nói, vui vẻ tin nhận, lễ bàn chân của Ta rồi ẩn thân chẳng hiện, quay trở lại cõi Trời.
Bấy giờ, chúng Bật Sô nghe Đức Phật nói Pháp này xong, đều rất vui vẻ, lễ Phật rồi lui ra.
PHẬT NÓI KINH ĐẾ THÍCH SỞ VẤN _Hết_
帝釋所問經 ( nguyên bản tiếng hán )
長部21經
大品[第二]
帝釋所問經
我聽到這樣:
有一次,世尊住在摩揭陀國王舍城東方,名叫芒果叢的婆羅門村落北邊能知山因陀沙羅樹洞中。
當時,天帝釋生起了見世尊的熱誠。那時,天帝釋這麼想:
「現在,世尊、阿羅漢、遍正覺者住在哪裡呢?」
那時,天帝釋看見世尊住在摩揭陀國王舍城東方,名叫芒果叢的婆羅門村落北邊能知山因陀沙羅樹洞中。看見後,召喚三十三天眾:
「親愛的先生!這位世尊、阿羅漢、遍正覺者住在摩揭陀國王舍城東方,名叫芒果叢的婆羅門村落北邊能知山因陀沙羅樹洞中。親愛的先生!我們去見世尊、阿羅漢、遍正覺者如何?」
「是的,尊師!」那些三十三天眾回答天帝釋。
那時,天帝釋召喚乾達婆之子五髻:
「親愛的五髻!這位世尊住在摩揭陀國王舍城東方,名叫芒果叢的婆羅門村落北邊能知山因陀沙羅樹洞中,親愛的五髻!我們去見世尊、阿羅漢、遍正覺者如何?」
「是的,尊師!」乾達婆之子五髻回答天帝釋後,取了淡黃色的橡木琵琶琴,然後為帝釋的隨從前往。
那時,天帝釋被三十三天眾圍繞,以乾達婆之子五髻為前導,猶如有力氣的男子能伸直彎曲的手臂,或彎曲伸直的手臂那樣[快]地在三十三天消失,出現在摩揭陀國王舍城東方,名叫芒果叢的婆羅門村落北邊能知山。
當時,能知山與芒果叢的婆羅門村落變得非常光亮,如諸天眾的天威。村落周圍的人們這麼說:
「能知山起火了,能知山燒起來了,能知山燒亮了,[不然]能知山與芒果叢的婆羅門村落怎麼非常光亮呢?」他們變得驚慌、身毛豎立。
那時,天帝釋召喚乾達婆之子五髻:
「親愛的五髻!像我這樣難去見愛好禪定的禪修者、在靜坐禪修中的如來,五髻!你先使世尊喜悅如何?親愛的!你先使之喜悅,隨後我們再去見世尊、阿羅漢、遍正覺者。」
「是的,尊師!」乾達婆之子五髻回答天帝釋後,取淡黃色的橡木琵琶琴,然後前往因陀沙羅樹洞處。抵達後[心想]:
「就在這範圍,我與世尊[距離]既不太近也不太遠,他聽得到我的聲音。」他在一旁站立。
五髻的歌唱偈頌
在一旁站好後,乾達婆之子五髻彈奏淡黃色的橡木琵琶琴,[唱]說這些與佛、法、僧團、愛欲有關的偈頌:
「如太陽閃耀般的跋陀,[我]禮拜你的父親丁玻魯,
因為他而美女被生,生出我喜歡的。如風對流汗者是可愛的,如飲水對口渴者,
天女對我是可愛的,如法對阿羅漢。如藥物對生病者,如食物對飢餓者,
跋陀使我變成寂靜,如以水[澆熄]我的燃燒。冷水的蓮花池,成雙的花柱與花粉,
如被熱壓迫的象那樣,跳入你的乳房與腹部。如鉤棍下的象,征服刺棒與槍矛,
我不知[什麼是]懲罰,被[你的]美色迷醉。因為你而我的心貪求,心被變化,
我不能再向前走,如已吞了鉤的魚。美腿的跋陀請擁抱我,請以可愛的眼睛擁抱我,
美女擁抱我,這是我的希求。我的愛欲[起初]是細微的,捲髮[美女]!
[後來]生起種種情況,如阿羅漢供養物[的增長]。
凡被我做而有的福德,像對阿羅漢那樣的,
其果報,我全部與美女共享。凡被我做而有的福德,在這大地圓周,
其果報,我全部與美女共享。如釋迦之子以禪定,專一、明智、正念,
牟尼欲求不死,而我[欲求]如太陽閃耀般的[跋陀]。如牟尼會歡喜,他到達最高的正覺後,
同樣的美女[我]會歡喜,與你到達性交。如果三十三天的主宰者帝釋,會施與我最上的,
我會要求跋陀,我對你的愛欲是那麼強烈。如開花不久的沙羅樹,你非常明智的父親,
我將鞠躬禮拜,因為他子孫的關係。」
當這麼說時,世尊對乾達婆之子五髻這麼說:
「五髻!你將琴絃融合歌聲,歌聲[融合]琴絃,五髻!你琴絃不超越歌聲,歌聲[不超越]琴絃,五髻!你什麼時候集結這些與佛、法、僧團、愛欲有關的偈頌呢?」
「大德!這裡,有一次,世尊住在優樓頻螺,尼連禪河邊牧羊人的榕樹下,初現正覺,大德!當時,我追求音樂神之王丁玻魯的女兒,名叫如太陽閃耀般的跋陀,大德!但,那位姊妹追求他者:戰車御車手摩得利的兒子,名叫冠毛。大德!當我以任何法門都得不到那位姊妹時,那時,我取了淡黃色的橡木琵琶琴,然後去音樂神之王丁玻魯的住處。抵達後,彈奏淡黃色的橡木琵琶琴,[唱]說這些與佛、法、僧團、愛欲有關的偈頌:
『如太陽閃耀般的跋陀,[我]禮拜你的父親丁玻魯,
因為他而美女被生,生出我喜歡的。……(中略)
如開花不久的沙羅樹,你非常明智的父親,
我將鞠躬禮拜,因為他的子孫的關係。』
大德!當這麼說時,如太陽閃耀般的跋陀對我這麼說:『親愛的先生!我沒當面見過世尊,但,我在三十三天善法堂跳舞時聽過世尊。親愛的先生!由於你稱讚世尊,讓我們今天在一起。』大德!我與那位姊妹共同在一起,從那次之後到今天就沒[在一起過]了。」
帝釋前往
那時,天帝釋這麼想:
「乾達婆之子五髻與世尊、世尊與五髻正友善地交談。」
那時,天帝釋召喚乾達婆之子五髻:
「親愛的五髻!你為我向世尊問訊[並且說]:『大德!天帝釋跟大臣一起包括從僕以頭禮拜世尊的足。』」
「是的,尊師!」乾達婆之子五髻回答天帝釋後,向世尊問訊[並且說]:『大德!天帝釋跟大臣一起包括從僕以頭禮拜世尊的足。』」
「五髻!願天帝釋跟大臣一起包括從僕都這麼安樂,因為天、人、阿修羅、龍、音樂神,以及所有其他存在的種種群聚都想要安樂。」
這樣,如來對像這樣有影響力的夜叉歡迎。當已被歡迎,天帝釋進入世尊的因陀沙羅樹洞,然後向世尊問訊,接著在一旁站立。三十三天眾也進入因陀沙羅樹洞,然後向世尊問訊,接著在一旁站立。乾達婆之子五髻進入因陀沙羅樹洞,然後向世尊問訊,接著在一旁站立。
當時,因陀沙羅樹洞有不平整的都變成平整,有障礙的都變成寬敞,以那諸天的天威,在洞窟中的黑暗消失而出現光明。
那時,世尊對天帝釋這麼說:
「尊者憍戶迦!這[真]是不可思議,尊者憍戶迦!這[真]是未曾有,這麽繁忙、這麼多事要作而來此。」
「大德!長久以來,我都想要前來見世尊,但三十三天總有應該經營事務要做,這樣,我都不能前來見世尊。大德!有一次,世尊住在舍衛城沙勒勒樹屋。大德!那時,我為了見世尊而去舍衛城。大德!當時,世尊以[入]某個定而坐,名叫布若滴的毘沙門天王妻子合掌禮敬地站立侍奉著世尊。那時,我對布若滴這麼說:『姊妹!請你為我向世尊問訊[並且說]:「大德!天帝釋跟大臣一起包括從僕以頭禮拜世尊的足。」』大德!當這麼說時,那位布若滴對我這麼說:『親愛的先生!這不是見世尊的適當時機,世尊已靜坐禪修。』『姊妹!那樣的話,當世尊從禪定出來時,那時,請以我的名義向世尊問訊[並且說]:「大德!天帝釋跟大臣一起包括從僕以頭禮拜世尊的足。」』大德!那位姊妹是否為我向世尊問訊?世尊記得那位姊妹的話嗎?」
「天帝!那位姊妹曾向我問訊,我記得那位姊妹的話,又,因為尊者的車輞聲之故,我從定中出來。」
「大德!那些比我早生的三十三天眾,我在他們面前聽聞、領受:『當如來、阿羅漢、遍正覺者出現於世間時,天眾充滿,阿修羅減損。』大德!那是我親眼見到這樣:當如來、阿羅漢、遍正覺者出現於世間時,天眾充滿,阿修羅減損。
守護者之事
大德!就在這裡,在迦毘羅衛城有一位名叫守護者的釋迦族女孩,她是對佛有淨信者,對法有淨信者,對僧團有淨信者,對戒的全分行者,她捨女子的狀態後成為男子的狀態,然後以身體的崩解,死後往生到善趣、天界,與三十三天為同伴,到達我們兒子的狀態,在那裡,他們這麼知道(稱)他『守護者天子,守護者天子』。大德!還有其他三位在世尊處行梵行的比丘往生到低階的音樂神眾,他們具備、具有五種欲,為侍奉我們的隨侍,來伺候我們。當他們為我們的隨侍,來伺候我們時,守護者天子斥責[他們]:『親愛的先生!不聽聞那世尊的法,你們有什麼臉?我是對佛有淨信、對法有淨信、對僧團有淨信、對戒全分行者的女子,捨女子的狀態後成為男子的狀態,然後以身體的崩解,死後往生到善趣、天界,與三十三天為同伴,到達天帝釋兒子的狀態,在這裡,他們這麼稱我「守護者天子,守護者天子」。親愛的先生!而你們在世尊處行梵行,卻往生到低階的音樂神眾,先生!我們確實看到難看的樣子,我們看到同法者往生到低階的音樂神眾。』大德!被守護者天子斥責,二位天神在當生中獲得正念,成為梵輔天眾,但[另]一位仍住於欲中。」
「我是有眼的優婆夷,我的名字是守護者,
是對佛與法有淨信者,[我]以淨信心侍奉僧團。以那世尊的善法性,我成為大威力的帝釋之子,
三十三天具有光輝者,在這裡他們稱我『守護者』。那時我看見前世的比丘,來到音樂神眾中住,
這幾位在那些喬達摩弟子中,他們與我以前都是人身。我們以食物飲料侍奉[他們],在自己的住處等候[他們],
他們受領佛陀的法,這幾位有什麼臉?各自應該體驗,被有眼的隨覺者善教導的法,
聽聞聖者的善說後,我服侍你們。大威力的帝釋之子,三十三天具有光輝者,
但你們有最上的服侍,行無上的梵行後,
往生為低階眾,不隨順往生[適當處]。我們確實看到難看的樣子,同法者往生到低階眾中,
往生到音樂神眾中,你們來為諸天服侍。屬於住於在家的我,看吧!這是殊勝的,
昔為女子今為男天神,具備天界的欲。」
他們被喬達摩弟子呵責,來到急迫感,同意守護者:
「來吧!讓我們向前走,讓我們精進,讓我們不再是別人的僕人。」
他們中的兩位發動活力,回想起是喬達摩的弟子,
在這裡心離貪後,在欲上看到過患。那些欲的結縛,惡魔的束縛與難征服的,
如龍象般切斷沈淪的繩索後,兩位征服三十三天。包括帝釋天與生主神,坐在善法堂中的全體,
超越那些坐著者,英雄們是離貪、離塵垢者。
看見他們後襪瑟哇作急迫感,征服天在天眾中間[說]:
「這幾位往生為低階眾者,超越三十三天。」
[聽到]慎重地生起急迫感之語,守護者對襪瑟哇說:
「在人間中佛陀是人類的因陀羅,欲的征服者被稱為『釋迦牟尼』。
他們是他失去正念的兒子,他們被我斥責而得到正念,
已超越而在這裡還留一位,來到音樂神眾中住,
而兩位是正覺之路的隨行者,諸天輕蔑入定者之事。像這樣在這裡有法的顯示,在那裡弟子沒任何懷疑,
未超越暴流之疑已被切斷,禮敬佛陀:勝利者、人類的因陀羅。這裡,他們了知法後,他們得到殊勝的,
兩位已到達殊勝的,梵輔天眾處。為了那個法的獲得,來吧!親愛的先生!
已得到機會,親愛的先生!讓我們問世尊問題。」
那時,世尊這麼想:
「這位夜叉長久以來是清淨的,凡他將問我的問題,全都將問伴隨利益的,非伴隨無益的,凡我解答所問的[內容],他將快速地了知。」
那時,世尊以偈頌對天帝釋說:
「襪瑟哇!請你問我,任何你心中想問的問題,
對所有問題,我為你作終結。」
初誦品終了。
因世尊[給與]而得到機會,天帝釋問世尊這第一個問題:
「親愛的先生!以什麼結而天、人、阿修羅、龍、音樂神,以及所有其他存在的種種群聚,像這樣,他們都想:『願我們住於無怨恨的、無杖罰的、無互相敵對的、無惡意的、無敵意的。』但他們卻住於怨恨的、杖罰的、互相敵對的、惡意的、有敵意的呢?」天帝釋如此地問世尊問題。
世尊解答他所問的問題:
「天帝!以嫉妒與慳吝之結而天、人、阿修羅、龍、音樂神,以及所有其他存在的種種群聚,像這樣,他們都想:『願我們住於無怨恨的、無杖罰的、無互相敵對的、無惡意的、無敵意的。』但他們卻住於怨恨的、杖罰的、互相敵對的、惡意的、有敵意的。」世尊如此地解答天帝釋所問的問題。
悅意的天帝釋歡喜、隨喜世尊所說:
「正是這樣,世尊!正是這樣,善逝!在這裡,聽了世尊對問題所作的解答後,我的困惑已超越、疑惑已離去。」
天帝釋確實歡喜、隨喜世尊所說後,更進一步問世尊問題:
「親愛的先生!但,嫉妒與慳吝,什麼是其因?什麼是其集?什麼是其生?什麼是其根源?當什麼存在了,則有嫉妒與慳吝?當什麼不存在了,則沒有嫉妒與慳吝?」
「天帝!嫉妒與慳吝,愛與憎是因,愛與憎是集,愛與憎所生的,愛與憎是根源,當愛與憎存在了,則有嫉妒與慳吝;當愛與憎不存在了,則沒有嫉妒與慳吝。」
「親愛的先生!但,愛與憎,什麼是其因?什麼是其集?什麼是其生?什麼是其根源?當什麼存在了,則有愛與憎?當什麼不存在了,則沒有愛與憎?」
「天帝!愛與憎,意欲是因,意欲是集,意欲所生的,意欲是根源,當意欲存在了,則有愛與憎;當意欲不存在了,則沒有愛與憎。」
「親愛的先生!但,意欲,什麼是其因?什麼是其集?什麼是其生?什麼是其根源?當什麼存在了,則有意欲?當什麼不存在了,則沒有意欲?」
「天帝!意欲,尋是因,尋是集,尋所生的,尋是根源,當尋存在了,則有意欲;當尋不存在了,則沒有意欲。」
「親愛的先生!但,尋,什麼是其因?什麼是其集?什麼是其生?什麼是其根源?當什麼存在了,則有尋?當什麼不存在了,則沒有尋?」
「天帝!尋,想與名稱之妄想是因,想與名稱之妄想是集,想與名稱之妄想所生的,想與名稱之妄想是根源,當想與名稱之妄想存在了,則有尋;當想與名稱之妄想不存在了,則沒有尋。」
「親愛的先生!但,怎樣的行道,比丘有適合導向想與名稱之妄想的滅之行道的道跡呢?」
受之業處
「天帝!我以二種說喜悅:應該追求的與不應該追求的。天帝!我以二種說憂:應該追求的與不應該追求的。天帝!我以二種說平靜:應該追求的與不應該追求的。
天帝!當像這樣說:『我以二種說喜悅:應該追求的與不應該追求的。』時,緣於什麼而說呢?在這裡,如果知道喜悅:『當追求這個喜悅時,我的惡不善法增長,善法衰退。』這樣子的喜悅不應該追求。在這裡,如果知道喜悅:『當追求這個喜悅時,我的惡不善法衰退,善法增長。』這樣子的喜悅應該追求。在這裡,[喜悅]如果[具備]有尋、有伺,[喜悅]如果[具備]無尋、無伺,那些[具備]無尋、無伺者是更勝妙的。天帝!當像這樣說:『我以二種說喜悅:應該追求的、不應該追求的。』時,緣於此而說。
天帝!當像這樣說:『我以二種說憂:應該追求的與不應該追求的。』時,緣於什麼而說呢?在這裡,如果知道憂:『當追求這個憂時,我的惡不善法增長,善法衰退。』這樣子的憂不應該追求。在這裡,如果知道憂:『當追求這個憂時,我的惡不善法衰退,善法增長。』這樣子的憂應該追求。在這裡,[憂]如果[具備]有尋、有伺,[憂]如果[具備]無尋、無伺,那些[具備]無尋、無伺者是更勝妙的。天帝!當像這樣說:『我以二種說憂:應該追求的、不應該追求的。』時,緣於此而說。
天帝!當像這樣說:『我以二種說平靜:應該追求的與不應該追求的。』時,緣於什麼而說呢?在這裡,如果知道平靜:『當追求這個平靜時,我的惡不善法增長,善法衰退。』這樣子的平靜不應該追求。在這裡,如果知道平靜:『當追求這個平靜時,我的惡不善法衰退,善法增長。』這樣子的平靜應該追求。在這裡,[平靜]如果[具備]有尋、有伺,[平靜]如果[具備]無尋、無伺,那些[具備]無尋、無伺者是更勝妙的。天帝!當像這樣說:『我以二種說平靜:應該追求的、不應該追求的。』時,緣於此而說。
天帝!這樣的行道,比丘有適合導向想與名稱之妄想的滅之行道的道跡。」世尊如此地解答天帝釋所問的問題。
悅意的天帝釋歡喜、隨喜世尊所說:
「正是這樣,世尊!正是這樣,善逝!在這裡,聽了世尊對問題所作的解答後,我的困惑已超越、疑惑已離去。」
波羅提木叉自制
天帝釋確實歡喜、隨喜世尊所說後,更進一步問世尊問題:
「親愛的先生!但,怎樣的行道,比丘有為了波羅提木叉自制的行道呢?」
「天帝!我以二種說身行儀:應該實行的與不應該實行的。天帝!我以二種說語行儀:應該實行的與不應該實行的。天帝!我以二種說遍求:應該實行的與不應該實行的。
天帝!當像這樣說:『我以二種說身行儀:應該實行的與不應該實行的。』時,緣於什麼而說呢?在這裡,如果知道身行儀:『當實行這個身行儀時,我的惡不善法增長,善法衰退。』這樣子的身行儀不應該實行。在這裡,如果知道身行儀:『當實行這個身行儀時,我的惡不善法衰退,善法增長。』這樣子的身行儀應該實行。天帝!當像這樣說:『我以二種說身行儀:應該實行的、不應該實行的。』時,緣於此而說。
天帝!當像這樣說:『我以二種說語行儀:應該實行的與不應該實行的。』時,緣於什麼而說呢?在這裡,如果知道語行儀:『當實行這個語行儀時,我的惡不善法增長,善法衰退。』這樣子的語行儀不應該實行。在這裡,如果知道語行儀:『當實行這個語行儀時,我的惡不善法衰退,善法增長。』這樣子的語行儀應該實行。天帝!當像這樣說:『我以二種說語行儀:應該實行的、不應該實行的。』時,緣於此而說。
天帝!當像這樣說:『我以二種說遍求:應該實行的與不應該實行的。』時,緣於什麼而說呢?在這裡,如果知道遍求:『當實行這個遍求時,我的惡不善法增長,善法衰退。』這樣子的遍求不應該實行。在這裡,如果知道遍求:『當實行這個遍求時,我的惡不善法衰退,善法增長。』這樣子的遍求應該實行。天帝!當像這樣說:『我以二種說遍求:應該實行的、不應該實行的。』時,緣於此而說。
天帝!這樣的行道,比丘有為了波羅提木叉自制的行道。」世尊如此地解答天帝釋所問的問題。
悅意的天帝釋歡喜、隨喜世尊所說:
「正是這樣,世尊!正是這樣,善逝!在這裡,聽了世尊對問題所作的解答後,我的困惑已超越、疑惑已離去。」
根自制
天帝釋確實歡喜、隨喜世尊所說後,更進一步問世尊問題:
「親愛的先生!但,怎樣的行道,比丘有為了根自制的行道呢?」
「天帝!我以二種說能被眼識知的色:應該追求的與不應該追求的。天帝!我以二種說能被耳識知的聲音:應該追求的與不應該追求的。天帝!我以二種說能被鼻識知的氣味:應該追求的與不應該追求的。天帝!我以二種說能被舌識知的味道:應該追求的與不應該追求的。天帝!我以二種說能被身識知的所觸:應該追求的與不應該追求的。天帝!我以二種說能被意識知的法:應該追求的與不應該追求的。」
當這麼說時,天帝釋對世尊這麼說:
「大德!我這麼了知這世尊簡要所說的詳細義理:大德!像這樣,當追求能被眼識知的色而惡不善法增長,善法衰退時,這樣,能被眼識知的色不應該追求。大德!像這樣,當追求能被眼識知的色而惡不善法衰退,善法增長時,這樣,能被眼識知的色應該追求。大德!像這樣,當追求能被耳識知的聲音……(中略)追求能被鼻識知的氣味……追求能被舌識知的味道……追求能被身識知的所觸……大德!像這樣,當追求能被意識知的法而惡不善法增長,善法衰退時,這樣,能被意識知的法不應該追求。大德!像這樣,當追求能被意識知的法而惡不善法衰退,善法增長時,這樣,能被意識知的法應該追求。
大德!我這麼了知這世尊簡要所說的詳細義理。聽了世尊對問題所作的解答後,我的困惑已超越、疑惑已離去。」
天帝釋確實歡喜、隨喜世尊所說後,更進一步問世尊問題:
「親愛的先生!一切沙門、婆羅門都是單一論說、單一戒、單一意欲、單一取著嗎?」
「天帝!一切沙門、婆羅門不都是單一論說、單一戒、單一意欲、單一取著。」
「親愛的先生!為何一切沙門、婆羅門不都是單一論說、單一戒、單一意欲、單一取著呢?」
「天帝!世間有許多界、種種界。在那許多界、種種界的世間中,凡眾生執著界者,他們以其取著而剛毅地、執著地說:『這才正確,其它都錯。』因此,一切沙門、婆羅門不都是單一論說、單一戒、單一意欲、單一取著。」
「親愛的先生!一切沙門、婆羅門都是畢竟究竟者、究竟離軛安穩者、究竟梵行者、究竟終結者嗎?」
「天帝!一切沙門、婆羅門不都是畢竟究竟者、究竟離軛安穩者、究竟梵行者、究竟終結者。」
「親愛的先生!為何一切沙門、婆羅門不都是畢竟究竟者、究竟離軛安穩者、究竟梵行者、究竟終結者呢?」
「天帝!只有渴愛之消滅而解脫的比丘,他們是畢竟究竟者、究竟離軛安穩者、究竟梵行者、究竟終結者。因此,一切沙門、婆羅門不都是畢竟究竟者、究竟離軛安穩者、究竟梵行者、究竟終結者。」世尊如此地解答天帝釋所問的問題。
悅意的天帝釋歡喜、隨喜世尊所說:
「正是這樣,世尊!正是這樣,善逝!在這裡,聽了世尊對問題所作的解答後,我的困惑已超越、疑惑已離去。」
天帝釋確實歡喜、隨喜世尊所說後,更進一步問世尊問題:
「大德!擾動是病,擾動是腫瘤,擾動是箭,擾動引誘這男子拉他入這個、那個有的再生處,因此,這位男子來到低的或高的[再生處]。大德!在此處之外的所有其他沙門、婆羅門處我得不到機會問這些問題,世尊已為我解答了那些長時間潛伏於心中[的問題],世尊已拔除我的疑惑、猶豫之箭。」
「天帝!你自證在其他沙門、婆羅門處問過這些問題嗎?」
「大德!我自證在其他沙門、婆羅門處問過這些問題。」
「天帝!但,他們怎麼解答呢?如果對你不麻煩的話,請說。」
「大德!對我不麻煩,當與世尊或像世尊這樣的人同坐時。」
「那樣的話,天帝!請說。」
「大德!我去見那些我認為住在林野、邊地住處的沙門、婆羅門後,問這些問題,他們不能解答我所問。當不能解答時,他們對我反問:『尊者是什麼名字?』我回答他們的所問:『親愛的先生!我是天帝釋。』他們更近一步對我反問:『帝釋尊者!作了什麼業後到達此處?』我如[我]所聽聞、如[我]所學得的法教導他們,他們就以那麼些而悅意地說:『我們看見天帝釋,我們問他,他為我們解答。』既然那樣,他們就變成我的弟子,而非我變成他們的[弟子]。大德!但,我是世尊的弟子,是不墮惡趣法、決定、以正覺為彼岸的入流者。」
獲得喜悅說
「天帝!你自證以前曾有像這樣的信受之獲得、喜悅之獲得嗎?」
「大德!我自證以前曾有像這樣的信受之獲得、喜悅之獲得。」
「天帝!你怎樣自證以前曾有像這樣的信受之獲得、喜悅之獲得呢?」
「大德!從前,諸天與阿修羅眾列陣戰鬥。大德!在那場戰鬥中,諸天勝了,阿修羅敗。大德!我征服那場戰鬥後,為戰鬥的勝利者,心想:『今天,凡天的滋養物與阿修羅的滋養物,這兩者諸天都將受用。』大德!但,我的那信受之獲得、喜悅之獲得是有杖罰的領域、有刀劍的領域,不導向厭、離貪、滅、寂靜、正智、正覺、涅槃。大德!但,聽聞世尊的法後,我的這個信受之獲得、喜悅之獲得無杖罰行境、無刀劍行境,導向厭、離貪、滅、寂靜、正智、正覺、涅槃。」
「天帝!但你看到什麼義理而說這樣是信受之獲得、喜悅之獲得呢?」
「大德!我看到六個義理而說這樣是信受之獲得、喜悅之獲得:就住立在這裡,我是天神類,
我已得到更進一步的壽命,我這麼知道,親愛的先生。
大德!我看到這第一個義理而說這樣是信受之獲得、喜悅之獲得。捨棄非人的壽命後,我從天眾處死沒,
我將不癡地入胎,[該處為]我心喜樂之處。
大德!我看到這第二個義理而說這樣是信受之獲得、喜悅之獲得。我是不癡的慧者,住於在教說上愛好,
我將住於真理,正知的、憶念的。
大德!我看到這第三個義理而說這樣是信受之獲得、喜悅之獲得。我行以真理,將成為正覺者,
我將住於已了知,將就這樣成為[我的]終結。
大德!我看到這第四個義理而說這樣是信受之獲得、喜悅之獲得。捨棄人的壽命後,我從人身死沒,
我將再成為天神,最高天的世界。
大德!我看到這第五個義理而說這樣是信受之獲得、喜悅之獲得。那些比諸天更勝妙的,是有名聲的色究竟天,
當我存在時,這將是我最終的住所。大德!我看到這第六個義理而說這樣是信受之獲得、喜悅之獲得。
大德!我看到這六個義理而說這樣是信受之獲得、喜悅之獲得。」「未完成的意向,疑惑與猶豫,
長時間地伺察,探求於如來。在所有我認為的沙門處,獨居的居住者,
像這樣必是正覺者,我去侍奉他們。怎樣是成功?怎樣是失敗?
對[其]道與道跡,像被這樣問他們不能解答。他們知道我,是天帝釋到來,
他們還問我:作了什麼後到達此處。我教導每個人,所聽聞的法,
他們因此成為悅意的:我們見到了襪瑟哇。當我看到佛陀時,疑惑被去除,
現在我已離恐懼,侍奉正覺者。已破壞渴愛之箭,佛陀是無與倫比者,
我要禮拜大英雄,太陽族人的佛陀。親愛的先生!就等同梵天,被天神們禮拜,
那麼現在我們禮拜你,就像那樣。你是正覺者,你是無上大師,
在包括天的世間中,沒有與你對等者。」
那時,天帝釋召喚乾達婆之子五髻:
「親愛的五髻!你先使世尊喜悅,幫了我很多,親愛的!由於你先使世尊喜悅,之後我[才得]去見世尊、阿羅漢、遍正覺者。我將[你]置於父親的地位,你將成為音樂神之王,如太陽閃耀般的跋陀將施與你,因為你希求她。」
那時,天帝釋以雙手觸地後,自說優陀那三次:
「禮敬那位世尊、阿羅漢、遍正覺者!」
而當這個解說被說時,天帝釋的遠塵、離垢之法眼生起:
「凡任何集法都是滅法。」
其他八千位天神也像那樣。
凡被天帝釋所請求而問的問題,都被世尊解答,因此,他們稱此記說為帝釋所問。
帝釋所問經第八終了。


