Skip to content
-
Nam Mô A Di Đà Phật
Tàng Kinh Các

Sưu Tầm và Chia Sẻ Kinh Sách

Tàng Kinh Các

Sưu Tầm và Chia Sẻ Kinh Sách

  • Home
  • Kinh
    • Kinh Tạng Nam Truyền
      • kinh trường bộ
      • kinh trường bộ html
      • Kinh Trung Bộ
      • Kinh Tương Ưng Bộ
      • Kinh Tăng Chi Bộ
      • KInh Tiểu Bộ
      • Tạng Vi Diệu Pháp
      • Luật Tạng ( Nam Truyền )
      • Kinh Tạng Nam Truyền
        • KINH TẠNG NAM TRUYỀN (PALI TẠNG / NIKAYA)
        • Sơ Đồ Kinh Điển Tam Tạng Pāli (Tipiṭaka)
    • Linh Sơn Pháp Bảo Đại Tạng Kinh – Tạng Kinh Bắc Truyền
    • Càn Long Đại Tạng Kinh
    • TAM TẠNG THÁNH ĐIỂN PHẬT GIÁO VIỆT NAM
    • Đại Tạng Kinh Bắc Truyền Hán Tạng Việt Tạng
      • Bộ A Hàm – Tạng Kinh Bắc Truyền
      • Bộ Bản Duyên – Tạng Kinh Bắc Truyền
      • Bộ Bát Nhã – Tạng Kinh Bắc Truyền
      • Bộ Pháp Hoa – Tạng Kinh Bắc Truyền
      • Bộ Hoa Nghiêm – Tạng Kinh Bắc Truyền
      • Bộ Bảo Tích – Tạng Kinh Bắc Truyền
      • Bộ Niết Bàn – Tạng Kinh Bắc Truyền
      • Bộ Đại Tập – Tạng Kinh Bắc Truyền
      • Bộ Kinh Tập – Kinh Tạng Bắc Truyền
      • Bộ Mật Giáo – Tạng Kinh Bắc Truyền
      • Bộ Luật – Tạng Kinh Bắc Truyền
      • Bộ Thích Kinh Luận – Tạng Kinh Bắc Truyền
      • Bộ Tỳ Đàm – Tạng Kinh Bắc Truyền
      • Bộ Trung Quán Luận – Tạng Kinh Bắc Truyền
      • Bộ Du Già – Tạng Kinh Bắc Truyền
      • Bộ Luận Tập – Tạng Kinh Bắc Truyền
      •  Bộ Kinh Sớ – Tịnh Độ Tông – Tạng Kinh Bắc Truyền
      •  Bộ Kinh Sớ – Thiền Tông – Tạng Kinh Bắc Truyền
      • Bộ Luật Sớ – Tạng Kinh Bắc Truyền
      • Bộ Chư Tông – Tạng Kinh Bắc Truyền
      • Bộ Sử Truyện – Tạng Kinh Bắc Truyền
      • Bộ Sự Vị – Tạng Kinh Bắc Truyền
      • Bộ Ngoại Giáo – Tạng Kinh Bắc Truyền
      • Bộ Cổ Dật – Tạng Kinh Bắc Truyền
      • Bộ Nghi Tự – Tạng Kinh Bắc Truyền
      • Bộ Mục Lục – Tạng Kinh Bắc Truyền
  • Luật
  • Luận
  • Ebook – Mp3
  • Privacy Policy
  • Home
  • Kinh
    • Kinh Tạng Nam Truyền
      • kinh trường bộ
      • kinh trường bộ html
      • Kinh Trung Bộ
      • Kinh Tương Ưng Bộ
      • Kinh Tăng Chi Bộ
      • KInh Tiểu Bộ
      • Tạng Vi Diệu Pháp
      • Luật Tạng ( Nam Truyền )
      • Kinh Tạng Nam Truyền
        • KINH TẠNG NAM TRUYỀN (PALI TẠNG / NIKAYA)
        • Sơ Đồ Kinh Điển Tam Tạng Pāli (Tipiṭaka)
    • Linh Sơn Pháp Bảo Đại Tạng Kinh – Tạng Kinh Bắc Truyền
    • Càn Long Đại Tạng Kinh
    • TAM TẠNG THÁNH ĐIỂN PHẬT GIÁO VIỆT NAM
    • Đại Tạng Kinh Bắc Truyền Hán Tạng Việt Tạng
      • Bộ A Hàm – Tạng Kinh Bắc Truyền
      • Bộ Bản Duyên – Tạng Kinh Bắc Truyền
      • Bộ Bát Nhã – Tạng Kinh Bắc Truyền
      • Bộ Pháp Hoa – Tạng Kinh Bắc Truyền
      • Bộ Hoa Nghiêm – Tạng Kinh Bắc Truyền
      • Bộ Bảo Tích – Tạng Kinh Bắc Truyền
      • Bộ Niết Bàn – Tạng Kinh Bắc Truyền
      • Bộ Đại Tập – Tạng Kinh Bắc Truyền
      • Bộ Kinh Tập – Kinh Tạng Bắc Truyền
      • Bộ Mật Giáo – Tạng Kinh Bắc Truyền
      • Bộ Luật – Tạng Kinh Bắc Truyền
      • Bộ Thích Kinh Luận – Tạng Kinh Bắc Truyền
      • Bộ Tỳ Đàm – Tạng Kinh Bắc Truyền
      • Bộ Trung Quán Luận – Tạng Kinh Bắc Truyền
      • Bộ Du Già – Tạng Kinh Bắc Truyền
      • Bộ Luận Tập – Tạng Kinh Bắc Truyền
      •  Bộ Kinh Sớ – Tịnh Độ Tông – Tạng Kinh Bắc Truyền
      •  Bộ Kinh Sớ – Thiền Tông – Tạng Kinh Bắc Truyền
      • Bộ Luật Sớ – Tạng Kinh Bắc Truyền
      • Bộ Chư Tông – Tạng Kinh Bắc Truyền
      • Bộ Sử Truyện – Tạng Kinh Bắc Truyền
      • Bộ Sự Vị – Tạng Kinh Bắc Truyền
      • Bộ Ngoại Giáo – Tạng Kinh Bắc Truyền
      • Bộ Cổ Dật – Tạng Kinh Bắc Truyền
      • Bộ Nghi Tự – Tạng Kinh Bắc Truyền
      • Bộ Mục Lục – Tạng Kinh Bắc Truyền
  • Luật
  • Luận
  • Ebook – Mp3
  • Privacy Policy
Close

Search

Home/Kinh Tạng Bắc Truyền/Bộ A Hàm/Giải Hạ Kinh – Bộ A Hàm
Giải Hạ Kinh
Bộ A Hàm

Giải Hạ Kinh – Bộ A Hàm

By admin
11 Min Read
Comments Off on Giải Hạ Kinh – Bộ A Hàm

Giải Hạ Kinh
[解夏經]

Nguyên bản Hán văn – Bản khắc Càn long – Vĩnh Lạc Đại Điển – CBETA

Bản chia sẻ của CBETa

Giải Hạ Kinh
[解夏經]

  thuộc tập T01, kinh số 63, tổng cộng 1 quyển, – Tống Pháp Hiền dịch

Giải Hạ Kinh [解夏經]Download
Nguyên Bản Chữ Hán

Giải Hạ Kinh
[解夏經]

( Bản khắc gỗ Càn long và Vĩnh Lạc Đại Điển )

Bản Khắc Càn Long

Giải Hạ Kinh [解夏經] (1)Download

Vĩnh Lạc Đại Điển

Giải Hạ Kinh [解夏經] (2)Download

Bản Dịch Tiếng Việt

Bộ A Hàm

Linh sơn pháp bảo đại tạng kinh

Giải Hạ Kinh
[解夏經]

  thuộc tập T01, kinh số 63, tổng cộng 1 quyển, – Tống Pháp Hiền dịch

Kinh Giải Hạ

Việt dịch: Thích Chánh Lạc

Nghe như vầy,

một thời đức Phật ở tại tịnh xá Trúc Lâm, ở Ca lan đà, thành Vương xá, cùng 500 bí sô chúng đều là bậc A la hán, các lậu đã hết, việc cần làm đã làm xong, đoạn trừ các gánh nặng, đã được tự lợi, sạch hết hữu kiết, tâm khéo giải thoát, chỉ có một bí sô vẫn còn ở địa vị hữu học.

Ðức Thế tôn đã vì vị ấy thọ ký làm cho thấy pháp, đắc pháp, sẽ chứng quả viên mãn.


Bấy giờ đức Thế tôn an cư đã xong, khi sắp giải hạ vào ngày rằm, ngài cùng chúng bí sô trải tòa mà ngồi. Khi hội chúng đã ngồi xong, đức Phật bảo chúng bí sô rằng:

“Nay ta đã được phạm hạnh tịch tịnh, đây là thân cuối cùng, dùng vô thượng lạc đoạn trừ các lậu. Ðệ tử của ta biết rõ các pháp, đều đã thông đạt, cho nên nay ta tuyên nói pháp giải hạ. Này các chúng bí sô, các nghiệp về thân, khẩu, ý của trong mùa hạ này, các người có nhẫn được chăng?”


Bấy giờ tôn giả Xá Lợi Phất nghe đức Phật nói xong, từ tòa ngồi đứng dậy, trịch áo vai bên hữu, quỳ gối mặt sát đất, chắp tay hướng đức Phật bạch rằng: “Bạch đức Thế tôn, như lời Phật dạy, nay con đã được phạm hạnh thanh tịnh, cho đến thân, khẩu, ý nghiệp đều có thể nhẫn được. Chúng con biết thân, khẩu, ý nghiệp của đức Phật không có lỗi lầm. Các bí sô chúng con nay không có phiền trách gì đức Thế tôn cả.

Vì sao vậy? Vì Phật Thế tôn của con với người khó điều phục thì ngài có thể điều phục được, với người không chỉ tức thì ngài khéo chỉ tức, với người không an ổn, ngài khéo an ổn, kẻ chưa tịch tịnh thì ngài làm cho được tịch tịnh. Như lai khéo rõ chánh đạo, khéo nói chánh đạo, khai thị chánh đạo, cho đến chúng con thích Bồ đề của Thanh văn, Phật khéo vì chúng con dạy, khiến cho các Thanh văn như lý tu hành mà chứng được thánh quả. Cho nên chúng con đối với thân, khẩu, ý pháp của Phật Thế tôn không có gì phiền trách cả”.


Bấy giờ tôn giả Xá Lợi Phất thưa đức Phật:

“Bạch Thế tôn, nay con đối với đức Phật, nếu thân, khẩu, ý nghiệp của con có bất thiện gì, cúi mong đức Phật chỉ dạy”. Ðức Phật bảo: “Này Xá lợi phất! Nay thân, khẩu, ý nghiệp của gnươi, ta không có gì phiền trách cả.

Vì sao vậy? Này Xá lợi phất! Ngươi có đầy đủ giới, đa văn, thiểu dục, tri túc, đoạn trừ các phiền não, phát đại tinh tấn, an trụ chánh niệm, đầy đủ các dẫn huệ, văn huệ, tiệp huệ, lợi huệ, xuất ly huệ, liễu đạt huệ, quãng đại thanh tịnh huệ, thậm thâm huệ, vô đẳng huệ, cụ đại huệ bảo, làm cho kẻ chưa thấy đạo thì được thấy, kẻ chưa điều phục thì làm cho được điều phục, kẻ chưa được nghe pháp thì thuyết pháp cho nghe, kẻ có nhiều sân hận thì khiến cho hoan hỷ, hay thuyết pháp cho bốn chúng mà không mệt mõi.

Thí như con của Kim luân vương thì được thọ pháp quán đảnh kế thừa ngôi vua y pháp mà cai trị. Tôn giả Xá Lợi Phất cũng lại như vậy, là con của ta, thọ pháp quán đảnh kế thừa ngôi pháp vương. Tôn giả Xá Lợi Phất như ta sẽ chuyển bánh xe pháp vô thượng, như ta hết các lậu, chứng đắc giải thoát. Cho nên tôn giả Xá Lợi Phất đối với ba nghiệp của tôn giả, nay ta công nhận là không có lỗi”.


Bấy giờ tôn giả Xá Lợi Phất nghe đức Phật đã chấp nhận xong, tôn giả cúi đầu lạy tạ, lại bạch đức Phật: “Bạch Thế tôn, như đức Phật đã vì con mà chấp nhận ba nghiệp của con rồi, vậy nay đối với năm trăm bí sô trong hội này, về thân, khẩu, ý nghiệp nếu có bị bất thiện chăng, cúi mong đức Thế tôn cũng chấp nhận như thế”. Ðức Phật bảo tôn giả Xá Lợi Phất: “Ba nghiệp của năm trăm bí sô ta cũng chấp nhận.

Vì sao vậy? Vì năm trăm vị bí sô này đều là bậc A la hán, các lậu đã hết, việc cần làm đã làm xong, đã bỏ các gánh nặng xuống, đã được tự lợi, đã hết các kiết sử, tâm khéo giải thoát. Trong đó chỉ có một vị bí sô hiện đang ở địa vị hữu học, nhưng vị bí sô này ta đã thọ ký rồi, đã thấy pháp, đắc pháp, sẽ chứng quả viên mãn. Này Xá lợi phất! Cho nên ta đối với ba nghiệp của năm trăm bí sô này đều có thể chấp nhận cả”.


Bấy giờ tôn giả Xá Lợi Phất lại bạch đức Phật: “Bạch Thế tôn, ba nghiệp của con và năm trăm vị bí sô đã được đức Phật chấp nhận rồi. Nay con có điều nghi nên lại thưa hỏi, cúi mong Phật Thế tôn phân biệt cho con. Bạch Thế tôn, trong năm trăm vị bí sô này có bao nhiêu vị được pháp Tam minh?

Lại có bao nhiêu vị bí sô được Câu giải thoát? Lại có bao nhiêu vị bí sô được huệ giải thoát?”.

Ðức Phật bảo tôn giả Xá Lợi Phất: “Trong năm trăm vị bí sô này có 90 bí sô được pháp Tam minh, 90 vị bí sô được Câu giải thoát. Ngoài ra các bí sô còn lại đều được Huệ giải thoát. Này Xá lợi phất! Như vậy các bí sô này đã hết các phiền não, đều an trú chơn thật”.


Khi ấy ở trong hội chúng có một tôn giả tên là Phạ Nghi Xá suy nghĩ như vầy: “Nay ta nên đối trước đức Phật và chúng bí sô dùng kệ (Dà Ðà) giải hạ để tán thán”. Bấy giờ tôn giả Phạ Nghi Xá nghĩ như vậy xong, từ tòa đứng dậy, trạch vai áo bên phải quỳ gối mặt xuống đất, chấp tay cung kính nói bài kệ rằng:


Ngày mười lăm giải hạ.
Hành luật nghi thanh tịnh.
Chúng bí sô năm trăm.
Ðoạn hết các phiền não.
Ðã sạch hết lậu pháp.
Ðược chứng quả vị Thánh.
Trong tịnh, ngoài điều phục.
Giải thoát nên lìa hữu.
Tận cùng mé sanh tử.
Việc cần làm đã xong.
Ðã đoạn hết không còn.
Vô minh và ngã mạn.
Phật của con tối thượng.
Ðoạn các pháp tà niệm.
Và đoạn pháp hữu lậu.
Khéo trừ bệnh khổ ái.
Ái diệt không còn sanh.
Ðại sư tử lìa thủ.
Hết các sự sợ hãi.
Phật Thế tôn của con.
Thí như vua Kim luân.
Ngàn người con doanh vây.
Khéo trị bốn thiên hạ.
Ðiều phục cả bốn biển.
Lại như người chiến thắng.
Là điều ngự tối thượng.
Thanh văn được ba minh.
Lìa sự chết cũng vậy.
Phật tử cũng như thế.
Chứng diệt không còn sanh.
Nay con lạy Pháp vương.
Ðại Nhật Tôn vô thượng.


Bấy giờ tôn giả Phạ Nghi Xá nói bài kệ Dà Ðà xong về ngồi lại chỗ cũ. Khi ấy tôn giả Xá Lợi Phất cùng các bí sô nghe đức Phật tuyên nói pháp giải hạ, tâm sanh hoan lạc, dũng bước, vui mừng tán thán, tín thọ phụng hành.


PHẬT NÓI KINH GIẢI HẠ

Kinh Giải Hạ

Việt dịch: Thích Tâm Châu

Chính tôi được nghe

một thời kia đức Phật ở Ca-Lan-Đà Trúc-Lâm (Kàranda- venùvana) tinh-xá thuộc thành Vương-xá, cùng với năm trăm chúng Bật-Sô (Tỳ Khưu).

Các vị Bật-Sô này đều là bậc A-La-Hán, mọi lậu-nghiệp đã hết[2] chỗ tạo-tác đã xong[3], trừ được mọi gánh nặng[4], việc lợi mình đã được, hết mọi sự ràng buộc trong các cõi[5], tâm thiện giải-thoát. Duy có một vị Bật-Sô hiện ở Học-vị[6], đã được đức Thế-Tôn thụ-ký[7], thấy pháp đắc pháp sẽ chứng quả-vị viên-mãn.


Bấy giờ, đức Thế-Tôn an-cư đã đủ, đương thời giải Hạ, ngày rằm (15) Ngài cùng chúng Bật-Sô trải tòa mà ngồi. Hội-chúng ngồi rồi, lúc ấy đức Thế-Tôn mới bảo chúng Bật-Sô rằng: “Ta nay đã được Phạm-hạnh[8] tịch-tĩnh, thân tối-hậu[9] này, dùng thuốc Vô-thượng, để dứt trừ mọi bệnh, những đệ-tử ta, hiểu biết mọi pháp đều thông-đạt rồi, cho nên ta nay nói pháp giải Hạ. Các chúng Bật-Sô! Ta ở trong Hạ, có chi về nghiệp thân, nghiệp khẩu, nghiệp ý, các vị khả-nhẫn[10].”


Khi ấy, Tôn-giả: Xá-Lỵ-Phất nghe đức Phật nói rồi từ tòa ngồi của mình đứng dậy, chễ áo vai hữu, gối hữu để xuống đất, chắp tay hướng lên Phật, mà bạch Phật rằng:

“Lạy đức Thế-Tôn, như Ngài vừa nói: Ta nay đã được Phạm-hạnh tịch-tĩnh, cho đến nghiệp thân, nghiệp khẩu, nghiệp ý…, khả nhẫn, riêng chúng con biết nghiệp thân, nghiệp khẩu, nghiệp ý của đức Phật không có những lỗi-lầm, hàng Bật-Sô chúng con nay không dám khả-nhẫn.

Với ý ấy là sao? Đối với đức Phật Thế-Tôn của chúng con: những người khó điều phục, Ngài điều-phục được, những người không ngăn cấm được, Ngài khéo ngăn cấm được, những người không được an-ổn, Ngài khéo an-ủi họ, những người chưa được tịch-tĩnh, Ngài làm cho họ được tịch-tĩnh. Đức Như-Lai tỏ rõ chính-đạo, nói rõ chính-đạo, khai-thị chính-đạo, cho đến chúng con những người ưa đạo Bồ-đề của Thanh-Văn, đức Phật cũng vì chúng con mà nói rõ, khiến những Thanh-Văn chúng con như lý tu-hành, chứng được Thánh-quả. Thế nên, chúng con đối với thân, khẩu, ý-pháp của đức Phật Thế-Tôn, chúng con không dám “khả-nhẫn”.


Bấy giờ Tôn-giả Xá-Lỵ-Phất bạch Phật rằng: “Lạy đức Thế-Tôn, con nay đối trước Phật, nghiệp thân, nghiệp khẩu, nghiệp ý của con, có gì bất-thiện, cầu Phật khả nhẫn cho”.


Đức Phật bảo ông Xá-Lỵ-Phất: Ông nay có gì về nghiệp thân, nghiệp khẩu, nghiệp ý, ta sẽ nhẫn-khả cho.

Với ý ấy là sao? – Ông Xá-Lỵ-Phất! Ông là người giữ giới đầy-đủ, nghe nhiều, ít muốn, biết đủ, dứt mọi phiền-não phát tâm tinh-tiến nhiều, an-trụ chính-niệm và đủ những trí-tuệ, trí-tuệ bình-đẳng tiếp-dẫn, trí-tuệ nghe hiểu, trí-tuệ mẫn-tiệp, trí-tuệ lợi-ích, trí-tuệ xuất-ly, trí-tuệ hiểu suốt, trí-tuệ thanh-tịnh rộng lớn, trí-tuệ sâu-xa, trí-tuệ không gì bằng cùng đầy-đủ trí-tuệ lớn-lao quý-báu; ai chưa thấy khiến họ thấy, ai chưa điều-phục khiến họ được điều-phục, ai chưa nghe pháp, ông liền vì họ thuyết pháp, ai đầy lòng giận tức, ông liền làm cho họ hoan-hỷ và ông nay vì bốn chúng thuyết pháp không chán.

Ví như con vua Kim-Luân, chịu phép quán-đỉnh[11], nối dõi ngôi vua, y pháp mà trị. Ông Xá-Lỵ-Phất cũng lại như thế. Ông là đệ-tử ta, chịu pháp quản đỉnh, nối ngôi Pháp-Vương, và cũng như ta chuyển vô-thượng pháp-luân, cũng như ta lậu-nghiệp hết chứng được giải thoát.

Thế nên, ông Xá-Lỵ-Phất! ông có ba nghiệp, đã tự bày tỏ, nay ta nhẫn-khả cho.


Khi ấy, ông Xá-Lỵ-Phất, nghe Phật nhẫn-khả cho rồi, đầu thành lễ tạ, lại bạch Phật rằng:

Lạy đức Thế-Tôn, con cùng năm trăm chúng Bật-Sô, có gì về ba nghiệp đức Phật đã nhẫn-khả cho rồi, nhưng con nay còn có chút ngờ-vực, nên lại khải-thỉnh, kính mong đức Thế-Tôn vì con mà phân-biệt cho. Lạy đức Thế-Tôn, trong năm trăm vị Bật-Sô này, bao nhiêu vị Bật-Sô được ba phép minh[12] bao nhiêu vị Bật-Sô được Câu-giải-thoát[13], bao nhiêu vị Bật-Sô được Tuệ-giải-thoát[14]?


Đức Phật bảo ông Xá-Lỵ-Phất: Trong năm trăm vị Bật-Sô này, chín mươi vị Bật-Sô được ba phép minh, chín mươi vị Bật-Sô được Câu-giải-thoát và ngoài ra các vị Bật-Sô kia đều được Tuệ-giải-thoát. Ông Xá-Lỵ-Phất! Như thế các vị Bật-Sô, hết mọi phiền-não, đều trụ vào nơi chân-thực.


Khi ấy, trong hội có một vị Tôn-giả tên là Phạ-Nghi-Xá, khởi lên mối nghĩ thế này: “Ta nay đối trước đức Phật cùng chúng Bật-Sô nên làm bài kệ giải Hạ bày tỏ sự tán-thán của ta”. Tôn-giả Phạ-nghi-Xá, sau khi nghĩ thế rồi, liền từ tòa ngồi của mình đứng dậy, chễ áo vai hữu, gối hữu quỳ xuống đất, chắp tay cung-kính, nghiêm-chỉnh, nói bài kệ rằng:
Ngày rằm, ngày giải Hạ,


Thanh-tịnh hành luật-nghi;
Năm trăm chúng Bật-Sô,
Dứt sạch dây phiền-não.
Đều hết mọi lậu-pháp,
Mà chứng Thánh-quả-vị;
Trong lặng, ngoài khéo trị.
Giải-thoát mà ly “hữu”.
Hết bờ cõi sinh-tử,
Chỗ tạo-tác đã xong;
Vô-minh, ngã-mạn, kết…
Dứt sạch không còn nữa.
Ngã Phật: tối thượng-tôn,
Dứt mọi pháp tà-niệm;
Cùng dứt pháp hữu-lậu
Khéo trừ ái bệnh khổ.
Ái diệt không phục-sinh,
Lìa “thủ” (chấp): bậc (đại) Sư-tử;
Hết mọi sự sợ hãi,
Duy, Phật Thế-Tôn ta.
Ví như vua Kim-Luân,
Nghìn con thường vây-quanh;
Khéo trị bốn thiên-hạ,
Điều-phục khắp bốn bể.
Lại như đánh thắng trận,
Là tối thượng Điều-ngự;
Thanh-văn được Tam-minh
Pháp giải-thoát… cũng thế.
Phật-tử đều như thế.
Chứng, diệt không phục-sinh;
Ta nay lễ Pháp-vương,
Vô-thượng Đại-nhật-tôn.


Sau khi Bật-Sô: Phạ-Nghi-Xá nói bài kệ rồi, trở về bản-tọa.
Bấy giờ, Tôn-giả Xá-Lỵ-Phất cùng các vị Bật-Sô, nghe đức Phật tuyên-thuyết pháp giải Hạ, lòng sinh sung-sướng vui mừng hớn-hở, tín thụ phụng-hành.


Chú thích:
[1] Kinh này là cuốn kinh số 63 trong Đại-Tạng-kinh. Giải Hạ có nghĩa là trong 3 tháng an-cư thuộc mùa Hạ đã được viên-mãn làm lễ tự-tứ rồi giải-tán.
[2] Lậu-nghiệp đã hết: Nghĩa là đã hết những hành-động mê-vọng làm lọt mất những công-đức lành.
[3] Đã được ba nghiệp thanh-tịnh, không còn tạo-tác gì nữa.
[4] Giũ sạch phiền-não.
[5] Không còn bị sinh-tử luân-hồi trong cõi Dục, cõi Sắc và cõi Vô-sắc nữa.
[6] Học-vị: Học có hai: Hữu-học và vô-học. Người mà chân-lý cứu-cánh, vọng-hoặc diệt hết, không phải tu học gì nữa gọi là “vô học”. Người còn đang ở địa-vị nghiên-cứu chân-lý để dứt hẳn vọng-hoặc, gọi là “hữu-học”. Tiểu-thừa: từ quả thứ nhất đến quả thứ ba là “hữu-học”: A-La-Hán là “Vô học”. Đại-thừa: Thập-địa Bồ-Tát là “Hữu-học”, Phật là “vô-học”.
[7] Thụ-ký: Đức Phật đối với chúng-sinh phát tâm. Ngài trao cho sự ghi nhớ riêng biệt về việc thành Phật trong đời mai sau của chúng-sinh ấy.
[8] Phạm-hạnh: Hạnh thanh-tịnh.
[9] Tối hậu-thân: Sinh trong Dục-giới, do thân này thành đạo. Thân này là thân sau cùng của Bồ-Tát trụ nơi sinh-tử.
[10] Khả nhẫn: có nghĩa là nhận xét, sửa chữa và vui lòng xóa-bỏ.
[11] Quán-đỉnh (Abhisecani) Theo phong-tục Ấn-độ, mỗi khi ngôi Quốc-Vương tức vị lấy nước bốn bể lớn về rưới lên đầu, biểu ý chúc tụng.
[12] Ba phép minh: 1- Túc-mệnh. 2- Thiên-Nhãn. 3- Lậu-tận.
[13] Câu-giải-thoát: Đây là một pháp vô học trong 9 pháp vô học của bậc La-Hán. Vị La-Hán lìa phiền-não-chướng cùng lìa các chướng của Thiền-định đến chỗ chí cực: Diệt-tận-định gọi là Câu-giải-thoát.
[14] Tuệ-giải-thoát: Vị La-Hán có tính-phận ham-ngộ đạo-lý, không ham sự-dụng, chỉ giải-thoát được chướng-ngại của trí-tuệ mà thôi, nên gọi là Tuệ-giải-thoát.

Tags:

bộ a hàmkinh chữ hánKinh Tạng Bắc TruyềnThích Chánh LạcThích Tâm Châu
Author

admin

Follow Me
Other Articles
Tân Tuế Kinh [新歲經]
Previous

Tân Tuế Kinh [新歲經] – Bộ A Hàm

Chiêm Bà Tì Kheo Kinh [瞻婆比丘經]
Next

Chiêm Bà Tì Kheo Kinh [瞻婆比丘經]

bộ a hàm Bộ A hàm - Tam Tạng Thánh Điển Bộ Bát Nhã Bộ Bản Duyên Bộ Bản Duyên - Tam Tạng Thánh Điển Phật Giáo Việt Nam Bộ Kinh Sớ Bộ Trung Quán Luận Bộ Tỳ Đàm chưa dịch Huyền Thanh kinh chữ hán Kinh trung bộ kinh trường bộ kinh trường bộ html Kinh Tạng Bắc Truyền Kinh Tạng Chữ Hán Linh Sơn Pháp Bảo Đại Tạng Kinh luận Nguyên Huệ Nguyên Thuận Nguyễn Minh Tiến pdf TAM TẠNG PHẬT GIÁO BỘ PHÁI tam tạng thánh điển phật giáo Việt Nam Tam Tạng Thượng Toạ Bộ THÍCH THIỆN SIÊU Thích Bảo Lạc Thích Chánh Lạc thích minh châu Thích Thanh Từ Thích Trí Tịnh Thích Tuệ Sỹ Thích Tâm Châu Thích Tâm Hạnh Thất dịch Trường A Hàm Tùy Kiết Tạng Tùy Đạt Ma Cấp Đa Tăng Nhất A Hàm Tạp A Hàm Tạp Tạng Vô Trước Bồ Tát Đoàn Trung Còn Đường Khuy Cơ Đại Tạng Kinh Tiếng Việt

Copyright 2026 — Tàng Kinh Các. All rights reserved.