Khổ Uẩn Kinh [苦陰經] – Bộ A Hàm
Khổ Ấm Kinh
[苦陰經]
Nguyên bản Hán văn – Bản khắc Càn long – Vĩnh Lạc Đại Điển – CBETA

Bản chia sẻ của CBETa
Khổ Ấm Kinh
[苦陰經]
thuộc tập T01, kinh số 53, tổng cộng 1 quyển, – Thất dịch
Khổ Ấm Kinh
[苦陰經]
( Bản khắc gỗ Càn long và Vĩnh Lạc Đại Điển )
Khổ Ấm Kinh [苦陰經]
thuộc tập T01, kinh số 53, tổng cộng 1 quyển, – Thất dịch
Kinh Khổ Ấm
Việt dịch: Khuyết danh
Tôi nghe như vầy:
Một thời Đức Phật du hóa tại nước Xá-vệ, trong rừng Thắng, vườn Cấp cô độc.
Bấy giờ các Tỳ-kheo sau bữa ăn trưa, chưa có chút công việc nên tập trung ngồi tại giảng đường. Lúc ấy, một số đông những người Dị học, sau bữa cơm trưa loanh quanh tìm đến chỗ các Tỳ-kheo, cùng nhau chào hỏi rồi ngồi một bên, nói với các Tỳ-kheo rằng:
“Này chư Hiền, Sa-môn Cù-đàm chủ trương biến tri dục[02], chủ trương biến tri sắc, chủ trương biến tri thọ[03]. Này chư Hiền, chúng tôi cũng chủ trương biến tri dục, chủ trương biến tri trừ sắc, chủ trương biến tri thọ. Giữa Sa-môn Cù-đàm và chúng tôi, giữa hai[04] chủ trương biến tri[05] ấy, có sự thù thắng nào, có những sai biệt nào?”
“Lúc bấy giờ các Tỳ-kheo khi nghe những điều mà số đông những người Dị học ấy nói, không biết thế nào là phải, thế nào là trái, im lặng đứng dậy mà đi, đồng thời suy nghĩ rằng: ‘Những điều như vậy, chúng ta phải do nơi Đức Thế Tôn mới biết’.
Rồi họ đi đến Đức Phật, cúi đầu đảnh lễ, ngồi một bên, đem những điều đã bàn luận với số đông những người Dị học ấy thuật lại với Đức Phật.
Bấy giờ Đức Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo rằng:
“Lúc đó các ông nên hỏi số đông những người Dị học như vầy, ‘Này chư Hiền, thế nào là vị ngọt của dục, thế nào là tai họa của dục, thế nào là sự xuất yếu của dục[06]? Thế nào là vị ngọt của sắc, thế nào là tai họa của sắc, thế nào là sự xuất yếu của sắc? Thế nào là vị ngọt của thọ, thế nào là tai họa của thọ, thế nào là sự xuất yếu của thọ?
“Này các Tỳ-kheo, nếu các ông hỏi như vậy, sau khi nghe, họ sẽ cật vấn lẫn nhau, nói quanh nói quẩn, nổi sân và cãi cọ rồi từ chỗ ngồi đứng dậy, im lặng và rút lui. Vì sao vậy? Vì Ta không thấy có những chư thiên, Ma, Phạm, Sa-môn, Phạm chí hay bất cứ ai khác ở trên đời này có thể biết được nghĩa ấy để tuyên bố lên. Chỉ có Như Lai và đệ tử của Như Lai, hoặc đệ tử nào đượïc nghe từ hai vị này”.
Đức Phật lại hỏi:
“Thế nào là vị ngọt của dục? Đó là, nhân bởi năm công đức của dục[07] mà phát sanh lạc và hỷ. Vị ngọt của dục chỉ tột cùng đến đó chứ không thể hơn nữa, nhưng tai họa của nó thì rất nhiều.
“Thế nào là tai họa của dục? Một thiện gia nam tử, tùy kỹ thuật[08] riêng mà tự mưu sinh; hoặc làm ruộng, hoặc buôn bán, hoặc học sách, hoặc giỏi toán thuật, biết công số, khéo in khắc, làm văn chương, tạo thủ bút, hoặc hiểu kinh thơ, hoặc làm võ tướng, hoặc phụng sự vua[09]. Người ấy khi gặp lạnh phải chịu lạnh, gặp nóng phải chịu nóng, bị đói khát nhọc mệt, bị muỗi mòng châm chích; nó phải làm nghề nghiệp như thế để mong kiếm được tiền của. Thiện nam tử bằng những phương tiện như thế, làm các công việc như vậy để mong cầu như vậy, nếu không kiếm được tiền của thì sinh khổ sở, lo buồn rầu rĩ, tâm thành si dại, nói rằng ‘Luống công làm lụng khổ nhọc vô ích mà những điều mong cầu không có kết quả’. Trái lại, thiện nam tử ấy bằng những phương tiện như vậy để mong cầu như vậy, nếu kiếm được tiền của nó sanh yêu quý, giữ gìn, chôn giấu. Vì sao vậy? Nó nghĩ: ‘Tài vật này của ta, đừng để cho vua đoạt, giặc cướp, lửa thiêu, hư hại, mất mát, hoặc xuất tài mà vô lợi, hoặc làm việc mà không thành tựu’. Kẻ đó giữ gìn, chôn giấu như vậy nhưng nếu rủi bị vua đoạt, hoặc giặc cướp, lửa thiêu hư hại mất thì sinh khổ sở, lo buồn rầu rĩ, tâm thành si ám, nói rằng: ‘Vật ta yêu quý, nhớ nghĩ suốt đêm ngày, nay đã không còn’. Đó là những nỗi thống khổ ở đời này[10], nhân nơi dục, duyên nơi dục, lấy dục làm gốc.
“Lại nữa, vì chúng sanh nhân nơi dục, duyên nơi dục, lấy dục làm gốc nên mẹ tranh cãi với con, con tranh cãi với mẹ, cha con, anh em, chị em, bà con dòng họ tranh cãi lẫn nhau. Vì tranh cãi lẫn nhau như vậy nên mẹ nói xấu con, con nói xấu mẹ. Cha con, anh em, chị em, bà con dòng họ nói xấu lẫn nhau. Thân thích còn vậy, huống nữa là người dưng. Đó là những nỗi thống khổ ở đời này nhân nơi dục, duyên nơi dục, lấy dục làm gốc.
“Lại nữa, vì chúng sanh nhân nơi dục, duyên nơi dục, lấy dục làm gốc nên vua tranh giành với vua, Phạm chí tranh giành với Phạm chí, Cư sĩ tranh giành với Cư sĩ, dân tranh giành với dân, nước này tranh giành với nước nọ. Bởi tranh giành nên thù nghịch nhau, rồi dùng đủ loại binh khí để giết hại lẫn nhau, hoặc nắm tay thoi, ném đá, hoặc dùng gậy đánh, dao chặt. Trong khi giao đấu, hoặc chết, hoặc sợ hãi, thọ cực trọng khổ. Đó là những nỗi thống khổ ở đời này nhân nơi dục, duyên nơi dục, lấy dục làm gốc.
“Lại nữa, vì chúng sanh nhân nơi dục, duyên nơi dục, lấy dục làm gốc nên mang khôi giáp, khoác trường bào, cầm giáo mác, cung tên, hoặc cầm dao thuẫn, đi vào quân trận. Hoặc đánh nhau bằng voi, hoặc ngựa, hoặc xe, hoặc dùng bộ binh đánh nhau, hoặc cho trai gái đánh nhau. Trong khi giao đấu, hoặc chết, hoặc sợ hãi, thọ cực trong khổ. Đó là những nỗi thống khổ ở đời này nhân nơi dục, duyên nơi dục, lấy dục làm gốc.
“Lại nữa, vì chúng sanh nhân nơi dục, duyên nơi dục, lấy dục làm gốc nên mang áo giáp, mặc trường bào, cầm giáo mác, cung tên, hoặc cầm dao thuẫn, đi tranh đoạt nước người, công thành phá lũy, chống cự lẫn nhau, thúc trống thổi kèn, lớn tiếng reo hò, hoặc dùng chày đập, hoặc dùng mâu kích, hoặc dùng bánh xe bén, hoặc dùng tên bắn, hoặc lăn đá kè, hoặc dùng nỏ lớn, hoặc rót nước đồng sôi vào mắt. Trong khi giao đấu, hoặc chết, hoặc sợ hãi, thọ cực trọng khổ. Đó là những nỗi thống khổ ở đời này nhân nơi dục, duyên nơi dục, lấy dục làm gốc.
“Lại nữa, vì chúng sanh nhân nơi dục, duyên nơi dục, lấy dục làm gốc nên mang áo giáp, mặc trường bào, cầm giáo mác, cung tên, hoặc cầm dao thuẫn vào xóm, vào ấp, vào quốc gia, vào thành thị, đục vách phá kho, cướp đoạt tài vật, chận đường giao thông, hoặc đến ngõ khác phá xóm phá làng, phá thành diệt nước.
Trong đó, hoặc người của vua bắt được, đem khảo đủ cách;
chặt tay, chặt chân, hoặc chặt hết cả tay chân; cắt tai, cắt mũi, hoặc cắt cả tai mũi;
hoặc lóc từng miếng thịt; bứt râu bứt tóc, hoặc bứt cả râu tóc;
hoặc nhốt vào trong cũi, quấn vải hỏa thiêu, hoặc lấp trong cát, lấy cỏ quấn lại rồi đốt;
hoặc bỏ vô bụng lừa sắt, hoặc bỏ vô miệng heo sắt, hoặc đặt vào miệng cọp sắt rồi đốt, hoặc bỏ vô vạc đồng, hoặc bỏ vô vạc sắt rồi nấu; hoặc chặt ra từng khúc, hoặc dùng xoa bén đâm, hoặc lấy móc sắt móc, hoặc bắt nằm trên giường sắt rồi lấy dầu sôi rót, hoặc bắt ngồi trong cối sắt rồi lấy chày sắt giã, hoặc cho rắn rít mổ cắn, hoặc dùng roi quất, hoặc dùng gậy thọt, hoặc dùng dùi đánh, hoặc buộc sống treo trên nêu cao, hoặc chém đầu rồi bêu.
Trong các trường hợp đó, kẻ ấy hoặc chết, hoặc sợ hãi, thọ cực trọng khổ.
Đó là những nỗi thống khổ ở đời này nhân nơi dục, duyên nơi dục, lấy dục làm gốc.
“Lại nữa, vì chúng sanh nhân nơi dục, duyên nơi dục, lấy dục làm gốc nên thân làm ác, khẩu làm ác, ý làm ác. Kẻ đó về sau bệnh tật liệt giường, hoặc ngồi hoặc nằm trên đất, vì khổ bức thân, toàn thân cảm giác khổ sở vô cùng, không còn đáng yêu thích. Kẻ đó vì lúc trước thân làm ác, khẩu làm ác, ý làm ác nên khi sắp chết chúng che ngay trước mắt giống như mặt trời lặn bóng sườn núi lớn, che lấp mặt đất[11]. Cũng vậy, kẻ ấy bị những ác hành của thân, ác hành của khẩu và của ý che lấp trước mắt, kẻ đó nghĩ rằng:
‘Ác hành ta làm trước kia, bây giờ chúng che trước mắt ta. Trước ta không tạo phước nghiệp mà tạo nhiều ác nghiệp. Giả tỷ có ai chỉ làm ác, hung bạo, chỉ làm tội chứ không làm phước, không hành thiện, khi sống không biết lo sợ, gần chết không chỗ nương cậy, không chỗ quay về. Người ấy thân sanh về cõi nào, ta cũng thác sinh về chỗ đó’. Do đó, sanh hối hận, rồi do hối hận mà chết không an, chết không được phước. Đó là những nỗi thống khổ ở đời này nhân nơi dục, duyên nơi dục, lấy dục làm gốc.
“Lại nữa, vì chúng sanh nhân nơi dục, duyên nơi dục, lấy dục làm gốc nên thân làm ác, khẩu và ý làm ác. Kẻ đó vì thân làm ác, khẩu và ý làm ác nên nhân nơi đó, duyên nơi đó mà khi thân hoại mạng chung phải đến chỗ ác, sanh vào địa ngục. Đó là những nỗi khổ ở đời sau nhân nơi dục, duyên nơi dục, lấy dục làm gốc. Như vậy là tai họa của dục.
“Thế nào là sự xuất yếu của dục? Nếu đoạn trừ dục, xả ly dục, diệt tận dục, vượt qua khỏi dục mà thoát ly. Như vậy gọi là sự xuất yếu của dục.
“Nếu Sa-môn, Phạm chí nào mà không biết đúng như thật vị ngọt của dục, tai họa của dục, sự xuất yếu của dục, thì không bao giờ có thể tự mình đoạn dục, huống nữa là đoạn dục cho kẻ khác.
“Nếu Sa-môn, Phạm chí nào biết đúng như thật vị ngọt của dục, tai họa của dục, sự xuất yếu của dục, thì không những có thể tự mình đoạn dục mà có thể đoạn dục cho kẻ khác.
“Thế nào là vị ngọt của sắc? Giả sử có các thiếu nữ Sát-lợi, Phạm chí, Cư sĩ hay Công sư đến tuổi mười bốn, mười lăm, là lúc có sắc đẹp mỹ miều. Nhân nơi sắc đẹp đó, duyên nơi sắc đẹp đó mà sanh lạc, sanh hỷ; vị ngọt của sắc chỉ tột cùng đến đó chứ không hơn nữa. Nhưng tai hại của sắc thì rất nhiều.
“Thế nào là tai hại của sắc? Nếu thấy nàng ấy về sau trở nên hết sức già yếu, đầu bạc, răng rụng, lưng còng, gối rũ, chống gậy mà đi, tuổi trẻ đã tàn, mạng sống sắp hết, thân thể run rẩy, các căn hư mòn. Ý các ngươi nghĩ sao? Có phải sắc đẹp trước kia đã biến mất và sanh ra tai họa chăng?
“Bạch Thế Tôn, đúng vậy”.
“Lại nữa, nếu thấy nàng ấy bệnh tật liệt giường, ngồi nằm trên đất, vì khổ bức thân, chịu khổ cùng cực, ý các ngươi nghĩ sao, có phải sắc đẹp trước kia biến mất, sanh ra tai họa chăng?”
“Bạch Thế Tôn, đúng vậy”.
“Lại nữa, nếu thấy xác nàng ấy đã chết từ một, hai ngày đến sáu bảy ngày, đang bị quạ diều bươi mổ, sài lang cấu xé, hoặc đã được hỏa thiêu hay chôn lấp, đang bị mục nát hư hoại. Ý các ngươi nghĩ sao? Có phải sắc đẹp trước đã biến mất và tai họa sanh ra chăng?”
“Bạch Thế Tôn, đúng vậy?”
“Lại nữa, nếu thấy xác nàng ấy ở trong nghĩa địa, hài cốt xám xanh, mục nát quá nữa, xương vải trên đất. Ý các ngươi nghĩ sao? Có phải sắc đẹp trước kia đã biến mất và tai họa sanh ra chăng?”
“Bạch Thế Tôn, đúng vậy”.
“Lại nữa, nếu thấy xác nàng ấy ở trong nghĩa địa, xương rời từng đốt, tản mác khắp nơi, xương chân, xương đùi, xương đầu gối, xương bắp vế, xương sống, xương vai, xương cổ, xương sọ, mỗi thứ một nơi, ý các thầy nghĩ sao? Có phải sắc đẹp trước kia đã biến mất và tai họa sanh ra chăng?”
“Bạch Thế Tôn, đúng vậy”.
“Lại nữa, nếu thấy xác nàng ấy ở trong nghĩa địa, xương trắng như vỏ ốc, xanh như lông chim câu, đỏ như màu máu, hư hoại, mục nát. Ý các ngươi nghĩ sao? Có phải sắc đẹp trước kia đã biến mất và tai họa sanh ra chăng?”
“Bạch Thế Tôn, đúng vậy. Như vậy gọi là tai họa của sắc”.
“Thế nào là sự xuất yếu của sắc? Nếu đoạn trừ sắc, xả ly sắc, diệt tận sắc, vượt qua khỏi sắc mà thoát ly. Như vậy gọi là sự xuất yếu của sắc.
“Nếu Sa-môn, Phạm chí nào mà không biết đúng như thật vị ngọt của sắc, tai họa của sắc, sự xuất yếu của sắc, thì không bao giờ có thể tự mình đoạn sắc, huống nữa là đoạn sắc cho kẻ khác.
“Nếu Sa-môn, Phạm chí nào biết đúng như thật vị ngọt của sắc, tai họa của sắc, sự xuất yếu của sắc thì không những tự mình đoạn sắc, mà còn có thể đoạn sắc cho kẻ khác.
“Thế nào là vị ngọt của thọ? Tỳ-kheo ly dục, ly pháp ác bất thiện, cho đến, thành tựu và an trụ nơi đệ Tứ thiền. Bấy giờ, vị đó không nghĩ đến việc tự hại, cũng không nghĩ đến sự hại người. Nếu không nghĩ đến hại, đó là vị ngọt của cảm giác lạc. Vì sao vậy? Vì không nghĩ đến sự làm hại thì thành tựu được cảm giác lạc ấy. Như vậy gọi là vị ngọt của thọ.
“Thế nào là tai họa của thọ? Thọ là pháp vô thường, pháp diệt. Như vậy gọi là tai họa của thọ.
“Thế nào là sự xuất yếu của thọ? Nếu đoạn trừ thọ, xả ly thọ, diệt tận thọ, vượt qua thọ mà thoát ly. Như vậy gọi là sự xuất ly của thọ.
“Nếu Sa-môn, Phạm chí nào mà không biết đúng như thật vị ngọt của thọ, tai họa của thọ, xuất yếu của thọ thì không bao giờ có thể tự mình đoạn thọ, huống nữa là đoạn thọ cho kẻ khác.
“Nếu Sa-môn, Phạm chí nào biết đúng như thật vị ngọt của thọ, tai họa của thọ, xuất yếu của thọ thì không những tự mình có thể đoạn thọ, mà còn có thể đoạn thọ cho kẻ khác”.
Phật thuyết giảng như vậy. Các Tỳ-kheo ấy sau khi nghe thuyết, hoan hỷ phụng hành.
Chú thích:
[01] Bản Hán, quyển 25. Tương đương Pāli: M.13, Mahā-dukkhakkhandha. Hán, biệt dịch No.53, No.125 (21.9).
[02] Nguyên Hán: biến tri dục 遍 知 欲, biết thấu đáo về dục. Pāli: kāmānaṃ pariññaṃ.
[03] Giác.
[04] Bản Cao-li chép nhị 二; các bản khác chép tam 三.
[05] Các bản chép: nhị (tam) tri nhị (tam) đoạn, dư chữ nhị (tam) thứ hai.
[06] Dục vị, dục hoạn, dục xuất yếu 欲 味 欲 患 欲 出 要. Pāli: kāmānaṃ assādo, kāmānaṃ ādīnavo, kāmānṃ nissaraṇaṃ, vị ngọt, sự tai hại và thoát ly đối với các dục.
[07] Ngũ dục công đức 五 欲 功 德. Pāli: pañca kāmaguṇā.
[08] Hán: kỹ thuật 伎 (技) 述. Pāli: sippaṭṭhanena, bằng công xảo xứ.
[09] Các “kỹ thuật” theo bản. Hán: tác điền nghiệp, hành trị sanh, minh toán thuật, tri công số, xảo khắc ấn, tác văn chương, tạo thủ bút, hiểu kinh thư, tác dũng tướng, phụng vương sự. Danh sách theo bản Pāli: yadi muddāya yadi gaṇanāya yadi saṅkhānena yadi kasiyā yadi vaṇijjāya yadi gorakkhena yadi issatthena yadi rājaporisena, hoặc bằng ấn toán (hay thuật khắc ấn), bằng ám toán (tính trầm), mục toán (số học), canh nông, thương mãi, mục súc (chăn bò), làm tên (chế tạo vũ khí), và quan chức (phục vụ vua).
[10] Hiện pháp khổ ấm 現 法 苦 陰. Pāli: sandiṭṭhiko dukkhakhando, khổ uẩn được chứng kiến.
[11] No.53: “Lúc mặt trời sắp lặn, bóng mát đổ ngược xuống giữa hai ngọn núi lớn”.
Kinh Khổ Uẩn
Việt dịch: Thích Nữ Tịnh Quang
Nghe như vầy, một thời đức Phật ở thành Xá Vệ, vườn Kỳ Thọ Cấp Cô Độc. Bấy giờ các Tỳ Kheo sau khi thảo luận thảy đều hiểu rõ ít có thắc mắc. Lúc ấy có những người ngoại đạo dị học sau khi đi quanh quẩn bên ngoài bèn đến chỗ các Tỳ Kheo; rồi họ cùng các Tỳ Kheo hỏi thăm nhau khi đã gặp mặt. Sau khi chào hỏi họ ngồi qua một bên. Khi những người ngoại đạo dị học này ngồi sang một bên rồi, họ mới nói với các Tỳ kheo rằng: chư hiền, Sa môn Cù Đàm dùng trí tuệ mà nói về dục, dùng trí tuệ mà nói về sắc, thọ uẩn. Chư hiền, chúng tôi cũng dùng trí tuệ đó để nó về sắc, thọ uẩn. vậy có gì sai biệt? có gì thấp hơn? Có gì bằng nhau? Như thế Sa môn Cù Đàm và chúng tôi đều có trí tuệ.
Bấy giờ các Tỳ kheo nghe những người ngoại đạo dị học này nói như vậy thì không đồng ý và cũng chẳng coi thường; với sự không đồng ý và không coi thường này, các Tỳ Kheo bèn rời chỗ ngồi mà đi;( nghĩ rằng) hôm nay ta nghe được lời này, phải đến hỏi Thế Tôn mới thông suốt được nghĩa đó. Các vị này liền điến chỗ của Thế Tôn. Sau khi đảnh lễ Đức Thế Tôn rồi, chư Tỳ Kheo ngồi qua một bên; chư Tỳ Kheo hướng về Đức Thế Tôn và trình bày hết sở luận cùng với người ngoại đạo dị học như thế. Sau khi trình bày với Đức Thế Tôn như vậy rồi; Đức Thế Tôn mới bảo các Tỳ Kheo rằng: Này các Tỳ Kheo, lúc ấy các ông nên hỏi những người ngoại đạo dị học như thế này: Thế nào là mùi vị của dục? thế nào là tan rã? thế nào là xả ly? Thế nào là mùi vị của sắc? thế nào là tan rã? thế nào là xả ly? Thế nào là mùi vị của thọ? thế nào là tan rã? thế nào là xả ly? Tỳ Kheo các ông nên đáp bằng cách đó. Những người ngoại đạo dị học kia nghe hỏi như thế rồi, thảy đều nhìn nhau, tỏ vẻ như muốn tranh luận, tâm đã khởi sân nhuế, hận nhuế bèn tỏ ra im lặng không vui, chân tay mình mẩy lúc lắc, sắc mặt thay đổi không thể trả lời; lúc ấy họ âm thầm rời khỏi chỗ ngồi.
Vì sao vậy? Ta không thấy chư thiên, thế gian, ma phạm, sa môn, bà la môn, thiên chúng và loài người nào nghe điều ta nói và họ hiểu rõ nghĩa đó giống như ta. Ngoại trừ đệ tử của Như lai, nếu họ nghe được nghĩa này, nhân đây mà hiểu được rằng thế nào là mùi vị của dục.
Nghĩa là nhân nơi năm dục, hoặc phát sinh tham muốn, hoặc phát sinh vui vẻ; như thế gọi là mùi vị của dục. Trong mùi vị của dục có nhiều sự tan rã. Thế nào là sự tan rã của dục? Như người thế gian, hoặc dùng nghề nghiệp để tự nuôi thân mạng, hoặc làm ruộng nương, mua bán, hoặc đọc sách, học toán, học số, hoặc học làm thơ, hoặc học làm nhà lãnh đạo cao cấp, hoặc làm thầy giáo, hoặc được tuyển mộ đi thi làm quan mà bị khổ vì rét buốt nóng bức, ráng chịu đói khát, bị muỗi nhặng, ruồi rệp cắn đốt…người đó chịu đựng điều này vì cầu tiền tài; vì những người thế gian đó mong muốn như thế, nên làm như thế và tuân hành như thế.
Khi người kia đã làm như thế rồi mà không được tài vật, bèn đau khổ bất an, khóc lóc tự đấm tự đánh, rồi ngu si nói như thế này: ta vì ngu si nên làm mà không có kết quả, người khác chẳng cần mong cầu, siêng năng mà làm họ liền đạt được kết quả.
Những người đạt được tiền của bèn gìn giữ, cất dấu kỹ tài vật đó. (họ nghĩ) Tài sản này là của ta, nay ta chẳng để vua đoạt, chẳng để bị trộm cắp, chẳng để bị thiêu cháy, chẳng để bị hư hoại, chẳng đem ra làm lợi để mất lời. Người kia gìn giữ tiền tài như thế, nhưng nếu bị vua cướp đoạt, bị trộm cướp lấy, lửa thiêu hoặc hư hoại, đem ra làm lợi mà lại mất lợi; họ buồn rầu không yên, khóc lóc tự đấm tự đánh; chỉ tăng thêm ngu si. Lại nữa, người thế gian kia có thể đã mãi miết thỏa thích, rồi đau xót vì sự mất mát tan rã này, nay hiện thân là khổ uẩn. Bởi vì nhân dục, vì duyên dục, vì sự tăng trưởng của dục vậy. Đây chính là dục làm nhân duyên.
Tất cả chúng sinh đều ở nơi nhân dục, duyên dục và sự tăng trưởng của dục. Vì nhân dục cho nên mẹ xích mích với con, con xích mích với mẹ, cha xích mích với con, con xích mích với cha, anh xích mích với em, em xích mích với anh; họ đấu tranh nhau. Mẹ nói con sai, con nói mẹ sai, con nói cha sai, cha nói con sai, anh nói em sai, em nói anh sai; huống gì người khác. Đây là hiện tình của khổ uẩn; vì nhân dục, vì duyên dục, vì tăng trưởng dục vậy.
Chúng sinh cõi nầy vì nhân dục, vì duyên dục, vì tăng trưởng dục mà vua xích mích cùng vua, Bà la môn xích mích cùng Bà la môn, cư sĩ xích mích cùng cư sĩ, kẻ tớ xích mích cùng thầy…thảy đều tranh đấu nhau. Mỗi người làm mỗi loại dụng cụ để đấu tranh nhau; hoặc dùng tay, hoặc dùng đá, hoặc dùng dao, hoặc dùng binh khí; rồi ở trong khổ nạn của sự chết. Đây là hiện tình của khổ uẩn. Vì nhân dục, vì duyên dục, vì tăng trưởng dục vậy.
Chúng sinh cõi nầy vì nhân dục, duyên dục, tăng trưởng dục nên mặc áo giáp cầm nắm cung tên, hoặc mặc da đồng cầm dao sắc bén, xúm lại đấu chiến nhau. Những kẻ khác thì ở trong quân trận, hoặc dùng voi đấu chiến, hoặc dùng ngựa đấu chiến, hoặc dùng xe, hoặc dùng bộ binh, hoặc dùng nữ nhân, hoặc dùng sĩ phu…ở trong trận chiến có các khổ nạn về các sự chết. Đây là hiện tình khổ uẩn. Vì nhân dục, vì duyên dục, vì tăng trưởng dục vậy.
Chúng sinh trong cõi nầy vì nhân dục cho đến tăng trưởng dục mà mặc áo giáp cho đến cầm dao sắc bén nhắm đến thành cao vì muốn chinh phạt nó. Kẻ ở trong thành đó hoặc thổi tù vò, hoặc đánh trống, hoặc cất tiếng la hét, hoặc dùng vồ, hoặc dùng kích, hoặc dùng búa, hoặc dùng bánh xe răng cưa, hoặc dùng cung tên bắn nhau, hoặc ném đá loạn xạ, hoặc dùng nỏ bắn, hoặc dùng nước đồng sôi đổ vào kẻ khác…Chúng sinh ở cõi nầy vì nhân dục, vì duyên dục, vì tăng trưởng dục mà đến chỗ vương thành làng xóm, hoặc đào tường phá vách, hoặc trộm đồ vật người khác, hoặc cắt đứt đường đi của người khác, hoặc phá thành phá thôn giết mọi người. Hoặc kẻ đó có chức vụ quyền hành, tạo ra hành vi gây đau khổ: hoặc cắt đầu, hoặc chặt chân tay người khác, hoặc cắt lỗ tai người, hoặc cắt mũi người, hoặc cắt tai mũi người, hoặc cắt búi tóc, hoặc cắt tóc, hoặc cắt búi tóc và tóc, hoặc bắt vào khám, hoặc giết phanh thây, hoặc lấy cát đá đè lên, hoặc lấy cỏ đè lên, hoặc bỏ người vào trong miệng con lừa sắt, hoặc trong miệng con sư tử bằng sắt, hoặc để trong chão đồng, hoặc trong chão sắt, hoặc cắt thân người ra từng mảnh, hoặc dùng vật sắt đâm chết người, hoặc bỏ người nằm trên giường sắt nóng dùng dầu nóng rưới lên, hoặc bỏ vào trong cối dùng chày sắt đâm người, hoặc để cho trùng cắn, hoặc đánh đập người, hoặc dùng mọi cách, cho đến thủ đoạn dùng dao bêu đầu. Đây là hiện tình khổ uẩn của thân; vì nhân dục cho đến tăng trưởng dục vậy.
Chúng sinh ở cõi nầy vì nhân dục cho đến tăng trưởng dục nên tạo ra sự khổ của thân, sự khổ của miệng và ý; lúc khác thì gặp phải nạn khổ về bịnh: nằm ở trên giường, nằm ở trên ghế hoặc nằm trong bóng tối; thân vốn chịu sự đau khổ cùng cực nào vui, sinh mạng muốn dứt lìa; đó là khổ hành của thân , khổ hành của khẩu ý. Người kia khi hết đời, hành nghiệp vẫn còn; giống như trời đã hoàng hôn, mặt trời vừa ra khỏi núi, nhưng trong chỗ núi đó bóng núi kia chạy ngược xuống phía dưới; như thế là khổ hành của thân, khổ hành của khẩu, khổ hành của ý. Người ta khi mạng chung mà còn hành nghiệp lôi kéo, thì khởi nghĩ như vầy: vì khổ hành của thân, khổ hành của khẩu ý nầy mà ta bị đẩy xuống chỗ thấp; vì không làm đúng vì không tạo phước và ta làm quá nhiều điều ác; nghĩa là chỉ chuyên làm việc ác, việc tham lam và việc hung bạo, không làm các việc phước, không làm các việc thiện, cũng không tạo nên việc qui hướng; ta ắt rơi vào nẻo đó. Như vậy liền có sự lo âu; đã có sự lo âu rốt cuộc là bất thiện, và chỗ thọ sanh cũng bất thiện. Đây là hiện tình của khổ uẩn. Vì nhân dục cho đến tăng trưởng dục vậy.
Chúng sinh vì nhân dục cho đến tăng trưởng dục tạo ra khổ hành của than, khổ hành của khẩu ý. Người kia đã tạo ra khổ hành của thân cho đến khổ hành của ý; ở nơi nhân đó duyên đó khi thân hoại mạng chung sanh vào cõi địa ngục, cõi ác. Nay hiện thân khổ uẩn, vì nhân dục cho đến vì tăng trưởng dục vậy. đó cũng là sự tan rã của dục.
Thế nào là sự xả ly dục? Hoặc có người đối với dục có sự mong cầu, nên dứt sự mong cầu, nên vượt qua lòng mong cầu đó; xả ly lòng ham muốn đó gọi là xả ly dục. Này các Sa môn Bà la môn, như thế là mùi vị của dục. Ở trong tính dục có sự tan rã; không biết như thật xả ly, người kia đâu có thể tự dứt dục và lại có thể khiến người khác dứt dục được; như họ cùng sống và cùng câu hữu với chúng làm sao có thể dứt nó? Việc này không như thế, này Sa môn, Bà la môn, mùi vị của dục là như thế; nhưng hiểu được nó là tan rã, có thể xả ly và nhận ra được sự như thật; sau đó tự mình có thể dứt dục cũng khiến người khác dứt nó. Như họ cùng sống và cùng câu hữu với dục mà có thể dứt nó; việc này đúng như thế.
Sao gọi là mùi vị của sắc pháp? Hoặc nữ Sát đế lợi, nữ Bà la môn, nữ công sư, nữ thứ dân, hoặc nữ mười bốn mười lăm tuổi; ở tuổi nầy nhan sắc đầy đủ; những người nầy đối với nhan sắc hài lòng và ưa thích; ở đây gọi là mùi vị của sắc. Nhưng trong sắc đây có nhiều sự tan rã. Thế nào là sắc tan rã? Phải thấy rằng cô gái kia đến tuổi già rụm, tóc bạc răng rụng, chống gậy mà đi; ý nầy như thế nào? Bạch Thế Tôn: Dung sắc xinh đẹp trước kia đâu không tan rã.
Lại nữa, cần phải thấy rõ khổ nạn về bịnh của cô gái đó: Hoặc nằm trên giường, hoặc nằm trên ghế, hoặc nằm trong chỗ khuất, đau khắp cả thân, khổ nạn bức bách không vui, sinh mạng gần như muốn dứt; ý nầy thế nào? Bạch Thế Tôn: Dung sắc xinh đẹp trước kia đâu không tan rã.
Lại nữa, nên biết rõ ràng các sự khổ về chết của cô gái kia: một ngày cho đến bảy ngày, hoặc thiêu, hoặc chôn hoặc vứt cho sâu bọ ăn; ý này như thế nào? Bạch thế Tôn: dung sắc xinh đẹp trước kia đâu không tan rã.
Lại nữa, phải thấy rõ rằng tử thi của cô gái kia hoặc lòi xương, hoặc sình lên, hoặc bị dòi bọ, hoặc bị thú ăn, hoặc lòi xương trắng; ý này thế nào? Bạch Thế Tôn: Dung sắc xinh đẹp trước kia đâu không tan rã.
Lại nữa, hoặc thấy rằng tử thi của cô gái kia không có da thịt, chỉ các dây gân chằng chịt; ý này như thế nào? Bạch Thế Tôn: Dung sắc xinh đẹp trước kia đâu không tan rã.
Lại nữa, nếu thấy rằng các đốt xương của tử thi cô gái kia rã ra từng phần, rãi rác ở nhiều chỗ khác nhau: xương chân ở một chỗ, xương bắp tay, xương đùi, xương lưng, xương sống, xương vai, xương cổ, xương đầu…mỗi thứ một nơi; ý này thế nào? Bạch thế Tôn: Dung sắc xinh đẹp trước kia đâu không tan rã.
Lại nữa, hoặc thấy rằng tử thi cô gái kia, xương trắng như vỏ sò, hoặc xanh màu chim câu, hoặc đỏ ửng, hoặc thối nát; ý này như thế nào? Bạch Thế Tôn: Dung sắc xinh đẹp trước kia đâu không tan rã. Như thế là sự tan rã của sắc.
Thế nào gọi là sự xả ly sắc? Nghĩa là ở nơi sắc pháp có sự ham muốn, nên dứt sự tham muốn đó, vượt qua tất cả sự tham muốn đó để từ bỏ sắc pháp đó. Này các Sa môn, Bà la môn, như thế là mùi vị của sắc pháp chứa đựng sự tan rã; nếu không xả ly thì sẽ không biết được lý như thật. Lẽ nào không tự mình dứt bỏ sắc, lại có thể khiến người khác dứt bỏ sắc ư? Hơn nữa người ta trụ cư ở trong sắc làm sao có thể dứt nó được? Sự tình này không phải như thế; này các sa môn, bà la môn, đối với mùi vị sắc như thế mà biết được sự tan rã, sự xả ly, biết được như thật; người kia có thể tự mình dứt bỏ sắc, cũng khiến người khác dứt bỏ nó; đây chính là chỗ như sở trụ, có thể dứt bỏ sắc dục
Thế nào là mùi vị của thọ uẩn? Tỳ Kheo ở nơi dục giải thoát này, cho đến trụ ở tứ thiền chánh thọ; khi trụ ở điểm này rổi thì không tự mình hoại mất cũng không hoại mất (trụ tâm) của người khác. Đã vô hoại rồi trong đây liền được an lạc. Vì sao vậy? Ta nói không có tâm sân giận thì đạt được lạc thọ. Đây là mùi vị của thọ uẩn.
Thế nào gọi là sự tan rã của thọ? Nghĩa là cảm thọ vốn vô thường, khổ và vô ngã. Đây là tính tan rã của cảm thọ.
Thế nào gọi là sự xả ly thọ uẩn? Nghĩa là cảm giác tham muốn, dứt sự tham muốn đó, vượt qua sự tham muốn đó. Đây là sự xả ly thọ uẩn.
Nếu Sa môn, Bà la môn đối với mùi vị thọ uẩn như thế mà không biết tính tan rã, không biết xả ly thì không biết được lý như thật. Người kia không có thể tự mình dứt bỏ làm sao có thể dứt bỏ cảm thọ cho người khác ư? Hơn nữa họ cùng trụ cư trong tính hoại của thọ? Sự việc này không phải như thế. Này các Sa môn, Bà la môn, đối với mùi vị thọ uẩn như thế, biết được sự tan rã, sự xả ly nầy thì biết được lý như thật. Người kia có thể tự mình dứt trừ dục thọ, cũng khiến người khác dứt trừ nó. Dù trụ cư với thọ uẩn mà vẫn có thể dứt trừ nó; việc này đúng như vậy.
Phật nói như thế, chư Tỳ Kheo nghe Đức Thế Tôn dạy rồi, hoan hỷ tiếp nhận.


