Kinh Trai Giới – Bộ A Hàm
Trai Kinh [齋經]
Nguyên bản Hán văn – Bản khắc Càn long – Vĩnh Lạc Đại Điển – CBETA

Bản chia sẻ của CBETa
Trai Kinh [齋經]
thuộc tập T01, kinh số 87, tổng cộng 1 quyển, – Ngô Chi Khiêm dịch»
Trai Kinh [齋經]
( Bản khắc gỗ Càn long và Vĩnh Lạc Đại Điển )
Trai Kinh [齋經]
thuộc tập T01, kinh số 87, tổng cộng 1 quyển, – Ngô Chi Khiêm dịch»

Kinh Trai Giới
Việt dịch: Thích Chánh Lạc
Nghe như vầy:
Một thời Phật ở tại cung điện nhà của Thừa tướng, phía đông thành Xá Vệ. Mẹ của Thừa tướng tên là Duy Da, sáng sớm thức dậy tắm rửa, mặc áo tơ năm sắc, cùng các con, vợ đi ra để lạy dưới chân đức Phật rồi ngồi qua một bên. Ðức Phật hỏi Duy Da:
–Tại sao tắm rửa sớm vậy?
Thưa rằng:
–Con muốn cùng các con, vợ đều thọ trai giới.
Ðức Phật nói:
–Trai giới có ba loại. Vậy thích loại trai giới nào?
Duy Da quỳ xuống thưa rằng:
–Con muốn được nghe sao gọi là ba loại trai giới?
Ðức Phật dạy:
1. Trai giới theo kiểu người chăn trâu.
2. Trai giới theo kiểu Ni Kiền.
3. Trai giới theo Phật pháp.
Trai giới theo kiểu người chăn trâu là giống như người chăn trâu mong cầu nước, cỏ, thức ăn tốt để nuôi trâu của họ. Buổi chiều suy nghĩ xem có đám cỏ nào phong phú, phì nhiêu để sáng mai dắt trâu đến đó. Nếu người nam hoặc nữ đã thọ trai giới mà tâm ý để ở gia đình, muốn sinh lợi cho sản nghiệp và nghĩ đến thức ăn nuôi dưỡng thân thể, đó là như ý của người chăn trâu, nên không được đại phước và đại quang minh.
Trai giới theo kiểu Ni Kiền là vào ngày mười lăm trong tháng, nằm dưới đất để thọ trì trai giới, vì các thần trong mười do diên lễ bái nói:
–Ngày hôm nay tôi ăn chay không dám làm ác, chúng tôi không có nhà cửa, không có thân thích, vợ con, tôi tớ đều chẳng phải là sở hữu của tôi, tôi không phải là chủ của họ.
Nhưng người học đạo ấy bản chất đê tiện, không có tâm chơn chánh, đến sáng mai thì cái danh vẫn có như cũ. Trai giới như vậy không được đại phước và đại quang minh.
Trai giới theo lối Phật pháp là đệ tử học đạo cứ mỗi tháng có sáu ngày ăn chay, thọ trì tám giới. Những gì là tám?
–Giới thứ nhất: suốt một ngày một đêm giữ tâm như chơn nhân, không có ý sát sanh, thương tưởng chúng sanh, không được giết hại cho đến loài côn trùng, không cầm dao gậy, nghĩ và muốn chúng sanh được bình an lợi lạc chẳng bị sát hại, như giới thanh tịnh, nên nhất tâm tu tập.
–Giới thứ hai: suốt một ngày một đêm giữ tâm như chơn nhân, không có ý tham lam trộm cắp, nhớ nghĩ việc bố thí, sẽ hoan hỷ cho, tự tay cho, cho với sự trong sạch, cho với tâm cung kỉnh, không mong trả ơn, trừ bỏ ý xan tham, như giới thanh tịnh, một lòng tu tập.
–Giới thứ ba: giữ một ngày một đêm tâm như chơn nhân, không có ý dâm, không nghĩ phòng thất, tu hành phạm hạnh, không làm tà dục, tâm không tham sắc, như giới thanh tịnh, một lòng tu tập.
–Giới thứ tư: thọ trì một ngày một đêm tâm như chơn nhân, không có ý nói dối, nhớ nghĩ chí thành, lời lẽ an định, từ không được dối trá, tâm miệng giống nhau, như giới thanh tịnh, một lòng tu tập.
–Giới thứ năm: thọ trì một ngày một đêm tâm như chơn nhân, không uống rượu, không say sưa, không mê loạn, không thất chí, từ bỏ ý phóng dật, như giới thanh tịnh, một lòng tu tập.
–Giới thứ sáu: thọ trì một ngày một đêm tâm như chơn nhân, không có ý cầu an, không đeo hoa thơm, không thoa son phấn, không ca múa, xướng hát, như giới thanh tịnh, một lòng tu tập.
–Giới thứ bảy: thọ trì một ngày một đêm tâm như chơn nhân, không có ý cầu an, không nằm giường đẹp, chỉ nằm giường thấp, ngồi ghế cỏ, trừ bỏ việc nằm ngủ, nhớ nghĩ kinh, đạo, như giới thanh tịnh, một lòng tu tập.
–Giới thứ tám: thọ trì một ngày một đêm tâm như chơn nhân, thờ pháp ăn đúng giờ, ăn ít, điều độ thân, quá giờ ngọ không được ăn lại, như giới thanh tịnh, một lòng tu tập.
Ðức Phật bảo Duy Da:
–Ngày trai giới nên tu tập năm điều nhớ nghĩ. Những gì là năm?
1. Niệm Phật, Phật là Như Lai, bậc Chí Chơn Ðẳng Chánh Giác, Minh Hạnh Túc, là Thiện Thệ, cha của thế gian, Vô Thượng Sĩ, Kinh Pháp Ngự, Thầy của trời, người, hiệu là Phật. Ðó là nhớ nghĩ đức Phật, những tập quán sân hận, ác ý ngu si đều trừ hết, thiện tâm tự sanh, nghĩ thích việc làm của Phật, giống như dùng dầu mè đậu tắm rửa, gội đầu, làm cho cấu uế trên đầu được sạch. Người trai giới niệm Phật cũng thanh tịnh như vậy, mọi người trông thấy đều ưa thích.
2. Phải niệm Pháp, Phật nói pháp ba mươi bảy phẩm, đầy đủ không hoại, nhớ nghĩ không quên, nên biết pháp này là ánh sáng của thế gian. Ðó là niệm Pháp, tập quán sân hận, ác ý ngu si đều trừ hết, thiện tâm tự sanh, do ưa thích Pháp nghiệp. Thí như dùng dầu mè tháo đậu tắm rửa làm bụi bặm trên thân được sạch. Người trai giới niệm Pháp, tâm thanh tịnh như vậy, mọi người trông thấy ai chẳng ưa thích.
3. Phải niệm chúng Tăng, cung kính thân cận, y chỉ, thọ trì sự dạy dỗ trí huệ. Chúng đệ tử của Phật, người được Cấu hạng thọ, được Cấu hạng chứng, có người được Tần lai thọ, Tần lai chứng, có người được Bất hoàn thọ, Bất hoàn chứng, có người được Ứng Chơn thọ, Ứng chơn chứng. Ðó là bốn đôi tám bậc, trượng phu đều thành tựu giới, định, huệ, giải và độ tri kiến, là bậc thánh đức, việc làm đã đầy đủ, nên phải chắp tay lạy bậc tôn giả phước điền của trên trời dưới trời. Ðó là niệm chúng nên tập khí sân hận, ác ý ngu si đều trừ, tâm hoan hỷ tự sanh, ưa thích việc làm của chúng. Thí như lấy nước tro để giặt áo, chất dơ sẽ tẩy sạch. Người trai giới niệm chúng, oai đức như vậy, mọi người trông thấy ai chẳng ưa thích.
4. Niệm giới: thân thọ giới của Phật phải một lòng phụng trì, không khuyết, không phạm, không động, không quên, khéo léo an lập, cẩn thận giữ gìn, nêu cao trí tuệ; tập quán sân hận, ác ý ngu si đều trừ sạch, tâm hoan hỷ tự sanh, thích giới trong các nghiệp, giống như lau gương, vật dơ đã hết, ánh sáng hiện ra. Người trai giới niệm giới, tâm thanh tịnh như vậy, mọi người trông thấy ai chẳng ưa thích?
5. Nên niệm Thiên: Tứ Thiên Vương, Ðao Lợi Thiên, Diêm Thiên, Ðâu Thuật Thiên, Bất Kiêu Lạc Thiên, Hóa Ứng Thanh Thiên. Cần phải tự niệm: “Ta đã có Tín, có Giới, có Văn, có Thí, có Trí, đến lúc thân chết, tinh thần lên trời, mong ta đừng mất tín, giới, văn, thí trí này. Ðó là nhờ niệm Thiên nên tập quán sân hận, ác ý ngu si đều trừ sạch, tâm hoan hỷ tự sanh, ưa thích các nghiệp của Thiên, giống như ngọc báu thường được trong sáng. Người trai giới niệm Thiên, tâm thanh tịnh như vậy, phụng trì tám giới cấm, thực tập năm điều nhớ nghĩ, là trai giới theo Phật pháp, cùng chư thiên tu đức, diệt ác tu thiện, về sau sanh lên trời, cuối cùng đắc quả Nê hoàn. Cho nên người trí tự nỗ lực tu hành, phát tâm làm phước.
Như vậy, này Duy Da, phước đức từ việc trai giới tiếng tăm xa rộng rõ ràng, thí như mười sáu nước lớn ở trong thiên hạ, trong mười sáu nước này dẫy đầy của báu không sao kể hết, cũng không bằng một ngày thọ trì trai giới của Phật pháp. Phước đức như vậy to lớn đến nỗi của báu của mười sáu nước dồn lại chỉ bằng một hạt đậu mà thôi. Sự rộng lớn ở trên trời không thể nói được, nay đây nhân gian năm mươi năm thì ở cõi trời thứ nhất mới một ngày một đêm. Tuổi thọ ở trên cõi Tứ Thiên thứ nhất là năm trăm tuổi, so với nhân gian là chín trăm vạn năm. Người trai giới của Phật pháp được sanh cõi trời ấy. Nhân gian một trăm năm thì cõi trời Ðao Lợi chỉ có một ngày một đêm, mà tuổi thọ ở trên cõi trời Ðao Lợi là một ngàn tuổi, so với nhân gian là ba ngàn sáu trăm vạn tuổi. Nhân gian hai trăm năm thì ở cõi trời Diêm Thiên chỉ có một ngày một đêm, mà tuổi thọ ở cõi Diêm Thiên là hai ngàn năm, so với nhân gian phải trải qua một ức năm ngàn hai trăm vạn năm. Ở nhân gian bốn trăm năm chỉ bằng một ngày một đêm trên cõi trời Ðâu Thuật Thiên. Tuổi thọ ở cõi Ðâu Thuật Thiên là bốn ngàn năm, vậy ở nhân gian phải trải qua sáu ức tám trăm vạn năm. Ở nhân gian tám trăm năm thì chỉ bằng một ngày một đêm ở trên cõi trời Bất Kiêu Lạc. Tuổi thọ ở cõi trời Bất Kiêu Lạc là tám ngàn tuổi, so với nhân gian phải trải qua hai mươi ba ức bốn ngàn vạn năm. Ở nhân gian một ngàn sáu trăm năm chỉ bằng một ngày một đêm ở cõi trời Hóa Ứng Thanh. Tuổi thọ ở cõi trời Hóa Ứng Thanh là một vạn sáu ngàn năm. Vậy nhân gian phải mất chín mươi hai ức một ngàn sáu trăm vạn năm.
Nếu ai có Tín, có Giới, có Văn, có Thí, có Trí phụng trì trai pháp của Phật, ngay khi mạng chung, tinh thần đều được sanh lên sáu cõi trời này, được an ổn khoái lạc. Theo đó, thiện pháp rất nhiều, ta chỉ nói rất ít. Hễ ai làm thiện thì quỷ thần, thiên thượng thọ phước vô lượng.
Duy Da nghe lời đức Phật dạy, hoan hỷ nói:
–Lành thay! Lành thay! Thưa Thế Tôn, phước đức của trai pháp thật là sung sướng vô lượng. Mong cho con được thọ giới của Phật. Từ nay về sau, cứ mỗi tháng con thọ sáu ngày trai giới, nỗ lực làm phước cho đến chết.
Ðức Phật nói kinh này xong, tất cả đều hoan hỷ thọ giáo.
PHẬT NÓI KINH TRAI GIỚI
Kinh Trai Giới
Việt dịch: Thích Tâm Châu
Chính tôi được nghe: Một thời kia đức Phật ở trong điện quan Thừa Tướng, thuộc phía Đông thành Xá-Vệ.
Một hôm mẹ quan Thừa Tướng ấy tên là Duy-Da; sáng sớm dậy, bà tắm gội, mặc áo mầu, rồi cùng những người con dâu đi đến chốn Phật. Đến nơi, cùng nhau cúi đầu lễ sát chân Phật. Lễ xong, tất cả đều ngồi về một bên.
Đức Phật hỏi bà Duy-Da: Bà tắm gội làm gì sớm thế? – Bà thưa: Lạy đức Thế-Tôn, con muốn cùng những con dâu con cùng thụ trai-giới!
Đức Phật dạy: Trai có ba hạng, bà muốn trì hạng trai nào! – Bà Duy-Da liền quỳ xuống và thưa rằng: Lạy đức Thế-Tôn, chúng con chưa biết gì, nay chúng con muốn được Thế-Tôn chỉ giáo cho chúng con nghe biết những gì là ba hạng trì trai? – Đức Phật dạy: Một là trì trai như những người chăn trâu. Hai là trì trai như những người tu đạo Ni-Kiền (Nirgrantha: khỏa thân). Ba là, trì trai của Phật-pháp.
– Trì trai như những người chăn trâu: Nghĩa là, những người chăn trâu cầu sao được nước lành, cỏ ngon, trâu ăn uống no. Chiều về suy nghĩ xem cánh đồng nào được phong-nhiêu, để sớm mai lại lùa trâu đến chỗ ấy cho nó ăn. Cũng như những họ hàng, trai, gái, đã thụ trai giới, ý còn để vào lợi-dục sản nghiệp ở nhà và còn nghĩ đến những thức ăn uống ngon, để dưỡng dục thân thể. Thế là, sự trì trai ấy cũng như ý người chăn trâu kia, không được phúc lớn và không phải là sáng suốt lắm.
– Trì trai như những người tu đạo Ni-Kiền: Nghĩa là, đến thời trai giới, ngày rằm (15) trong tháng, những người tu đạo Ni-Kiền họ nằm ép mình xuống đất để thụ trai-giới, họ lại làm lễ, lạy các vị Thần trong khu vực mười do-tuần và tâu rằng: “Ngày nay tôi trì trai, không dám làm ác; không dám gọi rằng có nhà người kia, nhà của tôi và tôi không thân quen gì; vợ, con, tôi-tớ không phải là của tôi có, tôi cũng không phải là chủ của họ”. Song, cái học của họ chỉ là cái học văn sang mà chất hèn, không có gì là chính tâm cả. Đến sáng mai, khi mặt trời mọc rồi thời tất cả lại có những việc như việc cũ không khác chút nào. Thế là, trì trai như nhưng người tu đạo Ni-Kiền kia không được phúc lớn và không phải là sáng suốt lắm.
– Trì trai của Phật-Pháp: Nghĩa là, những đệ-tử trong đạo, theo lời đức Phật dạy, mỗi tháng sáu ngày trai, nên thụ-trì tám giới, Tám giới là những gì?
– Giới thứ nhất: Giữ trọn một ngày, một đêm, tâm như bậc Chân-nhân (2), không có ý giết, nghĩ thương chúng-sinh. Và, không được cướp hại những loài côn trùng nhung-nhúc; không dùng dao, gậy đánh, giết chúng-sinh. Nghĩ muốn được an lành, lợi-lạc, đừng nên làm việc sát sinh. Như Giới thanh-tịnh, đem nhất tâm tập.
– Giới thứ hai: Giữ trọn một ngày, một đêm, tâm như bậc Chân-nhân, không có ý tham lấy của ai, tự-niệm bố-thí và nên cho bằng cách hoan hỷ cùng tự tay mình cầm cho, cho bằng cách trong sạch và cung-kính; không có ý mong-cầu cùng lại tham-lam, keo-lận. Như giới thanh-tịnh, đem nhất tâm tập.
– Giới thứ Ba: Giữ trọn một ngày, một đêm, tâm như bậc Chân-nhân, không có dâm ý, không nghĩ phòng-thất; tu-trì Phạm-hạnh, không làm tà-dục và tâm không tham-sắc. Như giới thanh-tịnh, đem nhất tâm tập.
– Giới thứ tư: Giữ trọn một ngày, một đêm, tâm như bậc Chân-nhân, không ý vọng-ngữ, tư-niệm chí-thành, an-định từ-ngôn, không nói dối-trá, tâm, miệng hợp nhau. Như giới thanh-tịnh, đem nhất tâm tập.
– Giới thứ năm: Giữ trọn một ngày, một đêm, tâm như bậc Chân-nhân, không uống rượu, không say, không mê-loạn, không thất ý và bỏ ý buông lung. Như giới thanh-tịnh, đem nhất tâm tập.
– Giới thứ sáu: Giữ trọn một ngày, một đêm, tâm như bậc Chân-nhân, không có ý cầu an, không ham hoa, hương, không soa phấn sáp, không làm việc ca-vũ, xướng-nhạc. Như giới thanh-tịnh, đem nhất tâm tập.
– Giới thứ bảy: Giữ trọn một ngày, một đêm, tâm như bậc Chân-nhân, không có ý cầu an, không nằm giường tốt. Nên nằm giường xấu, chiếu cỏ, bỏ sự nằm ngủ, tư-niệm kinh-đạo. Như giới thanh-tịnh, đem nhất tâm tập.
– Giới thứ tám: Giữ trọn một ngày, một đêm, tâm như bậc Chân-nhân, vâng theo như pháp ăn đúng thời; ăn ít và tiết-độ thân-thể, quá giữa ngày, sau không ăn. Như giới thanh-tịnh, đem nhất tâm tập.
Đức Phật lại bảo bà Duy-Da: Ngày thụ-trì trai, nên tập niệm năm niệm. Năm niệm là những gì?
– Một là, nên niệm Phật: Phật có hiệu là Như-Lai, là Chí-chân, là Đẳng-chính-giác, là Minh-Hạnh-Túc, là Thiện-Thệ thế-gian-phụ, Vô-thượng-Sĩ, Kinh-pháp-ngự, Thiên-nhân-sư… gọi là Phật (3), Thế là niệm Phật. Niệm Phật: ngu si, ác-ý, nộ-tập đều trừ, thiện-tâm tự-sinh, nghĩ vui Phật-nghiệp. Ví như, người ta đem thứ ma du, tảo-đậu gội đầu, trừ được cáu bẩn. Người trì trai niệm Phật, đức thanh-tịnh của họ như thế, mọi người thấy họ, ai chẳng tin, ưa.
– Hai là, nên niệm Pháp: Phật thuyết diệu-pháp ba mươi bảy phẩm, (4) đầy đủ không thiếu, tư niệm đừng quên. Và, nên biết Pháp ấy là ánh sáng của thế gian. Thế là niệm Pháp. Niệm Pháp: ngu-si, ác ý, nộ-tập đều trừ, thiện-tâm tự sinh, vui dùng Pháp-nghiệp. Ví như, người ta dùng thứ ma du, tảo-đậu tắm rửa thân thể, trừ được cáu bẩn. Người trì trai niệm Pháp, đức thanh-tịnh của họ như thế, mọi người thấy họ, ai chẳng tin, ưa.
– Ba là, nên niệm Chúng (Tăng): Là, những đệ-tử Phật, cung kính, thân cận Phật, nương theo và lĩnh-thụ những lời giáo hóa của Phật để ngộ-nhập Phật tuệ. Những đệ tử Phật có người đắc vị Tu Đà Hoàn, lĩnh-thụ sự chứng ngộ quả-vị Tu Đà Hoàn; có người đắc vị Tư Đà Hàm, lĩnh-thụ sự chứng ngộ quả vị Tư Đà Hàm; có người đắc vị A Na Hàm, lĩnh-thụ sự chứng ngộ quả vị A Na Hàm; có người đắc vị A La Hán, lĩnh-thụ sự chứng ngộ quả vị A La Hán. Ấy là tám hạng (Bát bối: tứ quả, tứ hướng) Trượng phu. Trong bốn đôi (tứ song) trên đây, đều là những vị thành Giới, thành Định, thành Tuệ, thành Giải (giải thoát), thành Độ-tri-kiến (giải thoát tri kiến); là những vị có Thánh-đức, là những vị đủ mọi hạnh, nên chắp tay cung-kính các bậc Tôn-giả phúc-điền trong thiên thượng, thiên hạ ấy. Thế là niệm Chúng. Niệm Chúng: ngu si, ác ý, nộ-tập đều trừ, hỷ-tâm tự sinh, ưa vui Chúng-nghiệp. Ví như, người ta lấy tro chính giặt áo, trừ được nhơ, cáu. Người trì trai niệm chúng, đức họ như thế, mọi người thấy họ ai chẳng tin, ưa.
– Bốn là, nên niệm Giới: Thân thụ giới của Phật, nên nhất tâm vâng giữ không thiếu, không phạm, không động không quên, khéo kiến lập, giữ cẩn thận, làm gì là đều làm trong đường trí-tuệ, sau không hối hận; không có hy-vọng và thường đem lòng bình đẳng dạy người. Thế là niệm Giới. Niệm Giới: ngu si, ác ý, nộ-tập đều trừ, hỷ tâm tự sinh, vui giới-thống-nghiệp (5). Ví như, mài gương, cáu sạch, sáng tỏ. Người trì trai niệm Giới, đức thanh-tịnh của họ như thế, mọi người thấy họ, ai chẳng tin, ưa.
– Năm là nên niệm Thiên: Thiên là cõi trời, có: thứ nhất là Tứ-thiên-vương, thứ hai là Đao-lỵ-thiên, Diêm-thiên, Đâu-thuật-thiên, Bất-kiêu-lạc-thiên, Hóa-ứng-thanh-thiên (6)… Nên tự niệm rằng: “Ta vì có đức tin, có giới-pháp, có nghe biết, có bố thí, có trí tuệ… đến khi thân ta chết đi, tinh thần ta sẽ sinh lên cõi Thiên. Ta nguyện không mất được đức tin, giới-pháp, nghe biết, bố thí, trí tuệ”. Thế là niệm Thiên. Niệm Thiên: ngu si, ác ý, nộ-tập đều trừ, hỷ-tâm tự-sinh, vui Thiên-thống-nghiệp (7). Ví như bảo-châu, thường sửa chữa tối tăm, đem lại trong sáng. Người trì trai niệm Thiên, đức thanh-tịnh của họ như thế.
Vâng giữ tám giới, tập năm điều tư-niệm là trì trai của Phật-Pháp. Và, cùng với cõi Thiên, tham đức, diệt ác, hưng thiện, sau sinh lên cõi Thiên, tới khi mệnh chung được lên cõi Niết-bàn. Thế nên bậc Trí-giả, tự lực thực-hành, ra tâm tác phúc.
Như thế, bà Duy-Da! Phúc lành của việc trì trai, thực rõ ràng, đáng khen và xa rộng như mười sáu đại quốc trong thiên-hạ này vậy. Mười sáu đại quốc trong thiên-hạ, dù trong ấy đầy đủ các của báu đến nổi không thể sao tính kể được, cũng không bằng một ngày thụ trì trai-pháp của Phật-Pháp. Xét thấy phúc ấy như thế, thời mười sáu đại quốc (8) kia cũng chỉ như là một hạt đậu.
Thọ số trên cõi Thiên thực là xa rộng không nói xiết được, như đương kim nhân-gian năm mươi năm, thời là một ngày một đêm cửa cõi Trời thứ nhất; cõi Tứ-thiên thứ nhất thọ năm trăm tuổi, thời cõi nhân-gian này chín trăm vạn năm, người trì trai của Phật-Pháp, được sinh lên cõi Trời ấy. Cõi nhân-gian một trăm năm, thời là một ngày một đêm của cõi trời Đao-Lỵ. Cõi trời Đao-Lỵ thọ một nghìn tuổi, thời cõi nhân-gian này là ba nghìn sáu trăm vạn năm. Cõi nhân-gian hai trăm năm, thời là một ngày một đêm của cõi Diêm-Thiên. Cõi Diêm-Thiên thọ hai nghìn tuổi, thời cõi nhân-gian này là một ức năm nghìn hai trăm vạn năm. Cõi nhân-gian bốn trăm năm, thời là một ngày một đêm của cõi Đâu-thuật-thiên. Cõi Đâu-thuật-thiên thọ bốn nghìn tuổi, thời cõi nhân-gian này là sáu ức tám trăm vạn năm. Cõi nhân-gian tám trăm năm, thời là một ngày một đêm của cõi Bất-Kiêu-Lạc thiên. Cõi Bất- Kiêu-Lạc thiên thọ tám nghìn tuổi, thời cõi nhân-gian này là hai mươi ba ức bốn nghìn vạn năm. Cõi nhân-gian một nghìn sáu trăm năm, thời là một ngày một đêm của cõi Hóa-Ứng-Thanh-Thiên. Cõi Hóa-Ứng-Thanh-Thiên thọ một vạn sáu nghìn tuổi, thời cõi nhân-gian là chín mươi hai ức một nghìn sáu trăm vạn năm. Nếu người nào có đức tin, có giới-pháp, có nghe biết, có bố thí, có trí-tuệ, phụng-trì trai-pháp của Phật-Pháp, khi mệnh mất đi, tinh thần người ấy, đều sinh lên sáu cõi Trời ấy, hưởng sự an-ổn khoái lạc. Ôi việc thiện rất nhiều, đây ta chỉ nói ít vậy thôi! Phàm người làm việc thiện, hồn-thần sẽ sinh lên cõi Trời, thụ phúc vô-lượng.
Bà Duy-Da nghe đức Phật dạy như thế, hoan hỷ bạch: Quý hóa thay! Quý hóa thay! Lạy đức Thế-Tôn, phúc đức của việc trì trai khoái lạc vô-lượng, chúng con xin vâng thụ Phật giới và từ nay về sau mỗi tháng sáu ngày trai, chúng con xin hết sức làm việc phúc cho đến khi chết.
Đức Phật nói kinh này rồi, tất cả đều hoan-hỷ thụ-giới.
Chú thích:
[2] Chân-nhân là chỉ vào bậc A-La-Hán, cũng có chỗ chỉ vào Phật, nhưng đều có nghĩa là: người đã chứng được chân-lý.
[3] Đây là nói về 10 hiệu Phật, nhưng vẫn còn thiếu và có phần hơi khác với 10 tên hiệu mà các kinh có ghi: Như-Lai, Ứng-Cúng, Chính-Biến-Tri, Minh-Hạnh-Túc, Thiện-Thệ thế-gian giải, Vô-thượng-sĩ, Điều-ngự trượng-phu, Thiên-Nhân-sư, Phật, Thế-Tôn.
[4] Tức 4 niệm-xứ, 4 chính-cần, 4 như ý túc, 5 căn, 5 lực, 7 Bồ-đề phận và 8 chính-đạo (37 phẩm).
[5] Ý nói vui làm những việc trong hệ-thống của giới-luật.
[6] Tên các cõi trời này so-sánh với những kinh khác, thời sự phiên âm có hơi khác.
[7] Ý nói vui làm những việc thống-thuộc nơi cõi Thiên.
Kinh Trai Giới
Việt dịch: Huyền Thanh
Nghe như vầy. Một thời Đức Phật ngự tại cung điện trong nhà vị Thừa Tướng ở phía Đông thành Xá-Vệ (Śrāvastī). Bà mẹ của vị Thừa Tướng tên là Duy-Da (Vaiśa). Sáng sớm thức dậy, bà tắm gội, mặc áo lụa màu, cùng với các con dâu đi ra ngoài. (Đến nơi Đức Phật ngự) cúi đầu lễ bàn chân của Đức Phật rồi ngồi một bên.
Đức Phật hỏi Duy Gia: “Vì sao sáng sớm đã tắm gội ?”
Bà thưa rằng: “Muốn cùng với các con dâu, đều thọ nhận Trai Giới”
Đức Phật nói: “Trai (Upoṣadha, hay Upavāsa: Ý thanh tịnh, hoặc nói là sám hối tội chướng) có ba hạng, bà ưa thích Trai của nhóm nào ?”
Duy Gia quỳ thẳng lưng nói: “Nguyện nghe thế nào là ba Trai ?”
Đức Phật nói: “Một là Mục Ngưu Trai (Phép trì Trai như người chăn bò), hai là Ni Kiền Trai [Phép trì Trai của Ni Kiền (Nirgrantha: tên gọi chung của hàng ngoại đạo xuất gia)], ba là Phật Pháp Trai (trì Trai theo Phật Pháp)
_ Mục Ngưu Trai. Như người chăn bò mong cầu được nước, cỏ, thức ăn uống tốt lành để nuôi con bò ấy. Chiều tối trở về, suy nghĩ xem cánh đồng nào được phong nhiêu đợi lúc rạng sáng, lại đến chỗ ấy. Nếu Tộc Tính nam nữ đã thọ nhận Trai Giớimà Ý còn để tại nhà ở, lợi dục (tính tham lam), sản nghiệp với nghĩ nhớ đến thức ănuống ngon để nuôi dưỡng thân, thời điều này như là Ý của người chăn bò kia, chẳng được Phước lớn, chẳng phải là sáng suốt lắm.
_ Ni Kiền Trai. Ngay ngày 15 của tháng là lúc Trai Giới. (những người ngoại đạo) nằm ép mình xuống đất thọ nhận Trai Giới, vì các vị Thần bên trong mười do diên (Yojana: do tuần) vái lạy rằng: “Ngày nay tôi trì Trai, chẳng dám làm ác; chẳng gọi là có nhà, người kia với tôi không có thân quen; vợ, con, tôi tớ chẳng phải là cái có của tôi, tôi chẳng phải là chủ của họ”. Song, cái học ấy chỉ là văn sang, chất hèn, không có Tâm chính đúng. Đến ngày mai, đối đãi nhau gọi là có như việc cũ. Trì Trai như kẻ kia, chẳng được Phước lớn, chẳng phải là sáng suốt lắm.
_ Phật Pháp Trai. Đệ Tử trong Đạo, vào sáu ngày Trai của tháng, thọ nhận tám Giới. Nhóm nào là tám?
Giới thứ nhất: Giữ trọn hết một ngày một đêm, Tâm như bậc Chân Nhân (người đã chứng được Chân Lý). Không có ý giết chóc, nghĩ thương yêu giúp đỡ (từ niệm) chúng-sinh, chẳng được cướp hại loài có thân mềm ngọ ngoạy; chẳng dùng thêm dao, gậy. Nghĩ muốn điều an lành lợi ích, đừng trở lại làm việc giết chóc. Như Giới trong sạch, dùng nhất Tâm (Eka-citta: chỉ Chân Như, Tâm của Như Lai Tạng, nguyên lý căn bản của vạn hữu trong vũ trụ. Hoặc chỉ sự vắng lặng) luyện tập.
Giới thứ hai: Giữ trọn hết một ngày một đêm, Tâm như bậc Chân Nhân. Khôngcó Ý tham lam chiếm lấy, nghĩ nhớ bố thí, nên vui vẻ đem cho cùng với tự tay mình đem cho, trong sạch đem cho, cung kính đem cho. Chẳng vì mong cầu mà đem cho, trừ bỏ ý tham lam keo kiệt. Như Giới trong sạch, dùng nhất Tâm luyện tập.
Giới thứ ba: Giữ trọn hết một ngày một đêm, Tâm như bậc Chân Nhân. Khôngcó Ý dâm dục, chẳng nghĩ nhớ phòng-thất; tu trì Phạm Hạnh (Brahma-caryā), không làm điều Tà Dục và Tâm chẳng tham hình sắc. Như Giới trong sạch, dùng nhất Tâm luyện tập.
Giới thứ tư: Giữ trọn hết một ngày một đêm, Tâm như bậc Chân Nhân. Khôngcó nói dối, Ý nghĩ nhớ chí thành an định, nói năng nhỏ nhẹ (từ ngôn), chẳng làm điều dối trá, Tâm miệng hợp với nhau. Như Giới trong sạch, dùng nhất Tâm luyện tập.
Giới thứ năm: Giữ trọn hết một ngày một đêm, Tâm như bậc Chân Nhân.
Chẳng uống rượu, chẳng say sưa, chẳng mê loạn, chẳng đánh mất ý chí, trừ bỏ Ý phóng dật. Như Giới trong sạch, dùng nhất Tâm luyện tập.
Giới thứ sáu: Giữ trọn hết một ngày một đêm, Tâm như bậc Chân Nhân. Không có Ý cầu an, chẳng dính mắc với hoa hương, chẳng bôi phấn sáp, chẳng làm việc ca múa, xướng nhạc. Như Giới trong sạch, dùng nhất Tâm luyện tập.
Giới thứ bảy: Giữ trọn hết một ngày một đêm, Tâm như bậc Chân Nhân. Không có Ý cầu an, chẳng nằm giường tốt, nên nằm giường thấp, chiếu cỏ, trừ bỏ sự nằm ngủ, nghĩ nhớ đến đường lối mà Kinh Điển đã nói (Kinh Đạo). Như Giới trong sạch, dùng nhất Tâm luyện tập.
Giới thứ tám: Giữ trọn hết một ngày một đêm, Tâm như bậc Chân Nhân. Vâng theo Pháp ăn đúng Thời; ăn ít để kềm chế Thân, qua giờ Ngọ thì sau đó chẳng được ăn. Như Giới trong sạch, dùng nhất Tâm luyện tập.
_ Đức Phật bảo Duy Na: “Ngày thọ Trai, nên luyện tập năm Niệm. Thế nào gọi là năm ?
1_ Nên niệm Phật (Buddhānusmṛti). Đức Phật là Như Lai (Tathāgata: Bậc đã đến như thế, tức là bậc nương theo sự thật mà đến mà thành tựu Chính Giác), là Chí Chân [Bậc lìa hẳn tất cả điều hư ngụy, tức A La Hán (Arhat)], là Đẳng Chính Giác (Samyak-saṃbuddha:Bậc chân chính hiểu biết đúng tất cả các Pháp), là Minh Hạnh Túc (Vidyā-caraṇa-saṃpanna: Bậc có đầy đủ Trí Tuệ và Đức Hạnh), là Thiện Thệ (Sugata: Bậc khéo đi đến nẻo lành), người cha của Thế Gian [hay Thế Gian Giải (Loka-vid) tức là bậc đã thấu hiểu Thế Gian], Vô Thượng Sĩ (Anuttara: Bậc tối cao không có ai vượt qua), Kinh Pháp Ngự [hay Điều Ngự Trượng Phu (Puruṣadamyasārathi) tức là bậc đã điều chỉnh được mình và nhân loại], Thiên Nhân Sư (Śāstra-deva-manuṣyānāṃ: Bậc thầy của cõi Trời và cõi Người)… Hiệu là Phật (Buddha: Bậc Giác Ngộ). Người niệm Phật này thì sự ngu si, Ý ác, thói quen giận dữ (nộ tập) đều trừ. Tâm lành tự sinh, nghĩ ưa thích Phật Nghiệp. Ví như dùng dầu mè (ma du), táo đậu… gội đầu thì trừ khử được sự dơ bẩn. Người trì Trai niệm Phật thời sự trong sạch của người ấy như thế, mọi người nhìn thấy đều tin tưởng ưa thích.
2_Nên niệm Pháp (Dharmānusmṛti). Đức Phật đã nói Pháp 37 Phẩm (Saptatriṃśad bodhipāk-ṣikā dharmāḥ: Tam Thập Thất Bồ Đề Phần Pháp) đầy đủ chẳng hủy nát, nghĩ nhớ đừng quên. Nên biết Pháp này là ánh sáng của Thế Gian.Người niệm Pháp này thì sự ngu si, Ý ác, thói quen giận dữ (nộ tập) đều trừ. Tâm lành tự sinh, ưa thích dùng Pháp Nghiệp. Ví như dùng dầu mè (ma du), táo đậu… tắm rửa thân thì trừ khử được sự dơ bẩn. Người trì Trai niệm Phật thời sự trong sạch của người ấy như thế, mọi người nhìn thấy đều tin tưởng ưa thích.
3_ Nên niệm Chúng (Saṃghānusmṛti: Niệm Tăng). Cung kính, gần gũi, nương cậy, y theo thọ nhận lời dạy bảo sáng suốt (Tuệ Giáo). Chúng Đệ Tử của Phật, có người được Câu Cảng (Srotāpatti-pratipannak: Nhập Lưu Hướng, Tu Đà Hoàn Hướng) thọ nhận Câu Cảng Chứng (Srotāpanna-phala: Nhập Lưu Quả, Tu Đà Hoàn
Quả), có người được Tần Lai (Sakṛdāgāmi-pratipannaka:Nhất Lai Hướng, Tư Đà Hàm Hướng) thọ nhận Tần Lai Chứng (sakṛdāgāmi-phala:Nhất Lai Quả, Tư Đà Hàm Quả), có người được Bất Hoàn (Anāgāmi-pratipannaka: Bất Hoàn Hướng, A Na Hàm Hướng) thọ nhận Bất Hoàn Chứng (Anāgāmi-phala: Bất Hoàn Quả, A Na Hàm Quả), có người được Ứng Chân (Arhat-pratipannaka: A La Hán Hướng) thọ nhận Ứng Chân Chứng (arhat-phala: A La Hán Quả). Đây là Trượng Phu thuộc tám bậc (Bát bối: bốn Hướng với bốn Quả) của bốn cặp (nhị song: Hướng với Quả)…đều là những vị thành Giới (Śīla), thành Định (Samādhi), thành Tuệ (Prajña), thành Giải (Vimukti: Giải Thoát), thành Độ Tri kiến (Vimukti-jñāna-darśana: Giải Thoát Tri Kiến). Là bậc Thánh Đức, là bậc có đầy đủ Hạnh… Nên chắp tay (cung-kính) ruộng phước của cácbậc Tôn Giả trên Trời dưới Trời ấy. Người niệm Chúng thì sự ngu si, Ý ác, thói quen giận dữ (nộ tập) đều trừ. Tâm vui tự sinh, ưa thích nghiệp của Chúng (Saṃgha:Tăng). Ví như dùng tro sạch giặt áo thì trừ bỏ được sự dơ bẩn. Người trì Trai niệm Chúng, thời Đức của người ấy như thế, mọi người nhìn thấy đều tin tưởng ưa thích.
4_ Nên niệm Giới (Śīlānusmṛti). Thân thọ nhận Giới (Śīla) của Phật, một lòng phụng trì, chẳng thiếu xót, chẳng vi phạm, chẳng lay động, chẳng lãng quên, khéo dựng lập, cẩn thận giữ gìn, làm những việc mà bậc có Tuệ đã nêu ra, sau này không có hối hận; chẳng đem phó thác cho hy vọng, hay bình đẳng dạy bảo người. Người niệmGiới này thì sự ngu si, Ý ác, thói quen giận dữ (nộ tập) đều trừ. Tâm vui tự sinh, ưa thích Nghiệp nối tiếp của Giới (Nghiệp thống Giới). Ví như lau gương trừ bỏ vết dơ ắt gương sáng tỏ. Người trì Trai niệm Giới thời sự trong sạch của người ấy như thế, mọi người nhìn thấy đều tin tưởng ưa thích.
5_ Nên niệm Thiên (Devānusmṛti). Thứ nhất là Tứ Thiên Vương (Catvāsraḥ mahā-rājikāḥ), thứ hai là Đao Lợi Thiên (Trāyastriṃśa: tức Tam Thập Tam Thiên), Diêm Thiên (Yama: Dạ Ma Thiên), Đâu Thuật Thiên (Tuṣita: Đâu Suất Thiên), Bất Kiêu Lạc Thiên (Nirmita-vaśa-vartinī: Hóa Tự Tại Thiên), Hóa-Ứng Thanh Thiên (Paranirmita-vaśa-vartinī: Tha Hóa Tự Tại Thiên)… Nên tự nghĩ rằng: “Ta vì có niềm tin (Śraddhā), có Giới (Śīla), có lắng nghe, có bố thí (Dāna), có Trí (Jñāna)… đến khi thân chết đi thời Tinh Thần sinh lên cõi Trời. Nguyện chẳng đánh niếm tin, Giới, sự lắng nghe, bố thí, Trí”. Người niệm Thiên này thì sự ngu si, Ý ác, thói quen giận dữ (nộ tập) đều trừ. Tâm vui tự sinh, ưa thích Nghiệp nối tiếp của cõi Trời (Thiên Thống Nghiệp). Ví như viên ngọc báu thường sửa trị cho trong sáng. Người trì Trai niệm Thiên, thời sự trong sạch của người ấy như thế. Phụng trì tám Giới, luyện tập năm Niệm là Phật Pháp Trai cùng với chư Thiên, tham Đức (Guṇa), diệt điều ác, hưng vượng điều lành, sau này sinh lên cõi Trời, cuối cùng đắc được Niết Bàn (Nirvāṇa). Thế nên bậc Trí, tự lực thực-hành, ra Tâm làm Phước
Như thế, này Duy-Da ! Phước của việc trì Trai có sự rõ ràng, đáng khen ngợi xa rộng. ví như mười sáu nước lớn trong thiên-hạ này. Mọi vật báu trong 16 nước lớn đấy nhiều đến nỗi chẳng thể xưng số lượng được, cũng chẳng bằng một ngày thọ nhận Phật Pháp Trai. Nếu so Phước đây kia, thời 16 nước lớn chỉ là một hạt đậu vậy.
_ Trên Trời xa rộng, chẳng thể xưng nói. 50 tuổi ở ngay nhân gian này là một ngày một đêm trên cõi Trời thứ nhất.
Sống 500 tuổi trên cõi Trời Tứ Thiên thứ nhất ngang bằng 900 vạn tuổi ở nhân gian. Người thọ nhận Phật Pháp Trai được sinh lên cõi Trời này.
100 tuổi ở nhân gian là một ngày một đêm trên cõi Trời Đao Lợi. Sống một ngàn tuổi ở cõi Trời Đao Lợi ngang bằng với ba ngàn sáu trăm vạn tuổi ở nhân gian.
200 tuổi ở nhân gian là một ngày một đêm trên cõi Diêm Thiên. Sống 2000 tuổi trên cõi Diêm Thiên ngang bằng với một ức năm ngàn hai trăm vạn tuổi ở nhân gian.
400 tuổi ở nhân gian là một ngày một đêm trên cõi Trời Đâu Thuật. Sống 4000 tuổi trên cõi Trời Đâu Thuật ngang bằng với sáu ức tám trăm vạn tuổi ở nhân gian.
800 tuổi ở nhân gian là một ngày một đêm trên cõi Trời Bất Kiêu Lạc. Sống 8000 tuổi trên cõi Trời Bất Kiêu Lạc ngang bằng với hai mươi ba ức bốn ngàn vạn tuổi ở nhân gian
1600 năm là một ngày một đêm trên cõi Trời Hóa Ứng Thanh. Sống một vạn sáu ngàn tuổi trên cõi Trời Hóa Ứng Thanh ngang bằng với chín mươi hai ức một ngàn sáu trăm vạn tuổi ở nhân gian.
Nếu người có niềm tin (Śraddhā), có Giới (Śīla), có lắng nghe, có bố thí (Dāna), có Trí (Jñāna)…vâng theo Phật Pháp Trai thời ngay lúc hết mạng, Tinh Thần của người ấy đều sinh lên sáu cõi Trời này. Được an ổn khoái lạc. Tốt đẹp thay ! Việc thiện rất nhiều, nhưng Ta chỉ nói chút ít vậy. Phàm người làm việc thiện thì Hồn Thần lên trên Trời, thọ nhận Phước vô lượng”.
Duy Da nghe Đức Phật nói thuyết, thời vui vẻ bạch rằng: “Lành thay ! Lành thay Thế Tôn ! Phước Đức của việc trì Trai rất vui thích vô lượng. (Chúng con) nguyện thọ nhận Giới của Phật. Từ nay về sau mỗi tháng sáu ngày Trai, (chúng con) sẽ dốc hết sức làm Phước cho đến khi chết.
Đức Phật nói Kinh xong, (thời Đại Chúng) đều vui vẻ, thọ nhận lời dạy bảo.
PHẬT NÓI TRAI KINH _Hết_


