Phật Thuyết Bất Tự Thủ Ý Kinh – Bộ A Hàm
Phật Thuyết Bất Tự Thủ Ý Kinh [佛說不自守意經]
Nguyên bản Hán văn – Bản khắc gỗ Càn long – Vĩnh Lạc Đại Điển – CBETA

Bản chia sẻ của CBETa
Phật Thuyết Bất Tự Thủ Ý Kinh [佛說不自守意經]
thuộc tập T02, kinh số 107, tổng cộng 1 quyển, – Ngô Chi Khiêm dịch
Phật Thuyết Bất Tự Thủ Ý Kinh [佛說不自守意經]
( Bản khắc gỗ Càn long và Vĩnh Lạc Đại Điển )
Phật Thuyết Bất Tự Thủ Ý Kinh [佛說不自守意經]
Phật Thuyết Bất Tự Thủ Ý Kinh [佛說不自守意經]
thuộc tập T02, kinh số 107, tổng cộng 1 quyển, – Ngô Chi Khiêm dịch
佛說不自守意經
佛說不自守意經吳月支優婆塞支謙譯
聞如是:
一時,佛在舍衛國祇樹給孤獨園,佛告諸比丘,比丘應: 「唯然。」佛言: 「聽說自守亦不自守。」比丘便叉手從佛聽。
佛告比丘: 「幾因緣不自守?若眼根不閉守,若眼墮色識意便泆,已意泆便更苦,已不得定意便不知至誠,如有已不知便不見如有,已不知已不見如有,便不捨結亦不度疑,已不捨結不度疑,便屬他因緣,異知已異知,便苦不安隱。如是說,耳亦爾、鼻亦爾、口亦爾、身亦爾、意亦爾、如是行名為不自守。」
佛復告比丘: 「幾因緣自守?若眼根自守,止眼識不墮色意便不泆已意不泆便更樂,已更樂便得定意,已得定意便諦,如有知諦如有見,已諦如知諦如見,便捨結亦度疑,便不信不至誠,便慧智,便意樂安隱,六根亦如是說,如是名為自守。所說自守不自守如是。」
佛說如是。皆歡喜受。
佛說不自守意經
https://suttacentral.net/t107/lzh/taisho?lang=en&reference=none&highlight=false
Kinh Bất Tự Thủ Ý
Việt dịch: Trần Văn Nghĩa
Đức Phật giảng kinh Bất Tự Thủ Ý.
Tôi nghe như vậy, có một thời , Đức Phật ở tại nước Xá Vệ (2), trong tịnh xá Kì-Thọ Cấp-Cô-Độc viên.(3)
Đức Phật gọi các Tỳ -kheo, các Tỳ-Kheo thưa rằng : Dạ thầy.
Đức Phật bảo rằng: Hãy nghe đây tự thủ và bất tự thủ.
Các tỳ-kheo chắp tay nghe Đức Phật nói.
Đức Phật bảo các tỳ-kheo: Những nhân duyên gì làm bất tự thủ, như nhãn căn (4) không bế thủ, để nhãn quan rơi vào những sắc (5), thức , ý (6) dục xấu thì nó làm chúng ta phóng túng hoang đàng, những ý xấu của chúng ta sẽ làm chúng ta khổ não, khi chúng ta khổ não thì chúng ta không có thể có tâm hồn và ý niệm thanh tịnh, khi tâm hồn và ý niệm không thanh tịnh thì chúng ta không thể nào có chí thành được. Nên dù có chân đế ở đó, nhưng ta không biết được, nên ta không thấy được những chân đế như nó đã có.
Vì đã không biết được, đã không thấy được những chân đế như nó đã có, nên lòng ta không thể xả kết (7) và độ nghi(8) , vì không thể xả kết và độ nghi, chúng ta rơi vào những nhân duyên xấu khác, những hiểu biết khác. Đã hiểu biết khác đi nên sinh khổ não và bất an ẩn(9).
Cũng như thế xảy đến cho cái tai, cái mũi, cái miệng, cái thân, cái ý của chúng ta. Đó được gọi là bất tự thủ.
Đức Phật lại bảo các Tỳ-Kheo rằng: Những nhân duyên của tự thủ. Như nhãn căn tự thủ. Nó không để nhãn quan rơi vào những sắc, thức, ý dục xấu thì nó không làm chúng ta phóng túng hoang đàng, nếu những ý niệm của chúng ta không phóng túng hoang đàng, chúng ta được an lạc.
Vì chúng ta được an lạc nên chúng ta có tâm hồn và ý niệm thanh tịnh. Khi chúng ta có tâm hồn và ý niệm thanh tịnh thì chúng ta biết có đế như (10), biết được đế -như như đã thấy. Đã biết được đế như, đã thấy được đế như, chúng ta sẽ xả kiết và độ nghi, chúng ta sẽ không tin vào những điều bất chí thành, chúng ta sẽ được tuệ trí, chúng ta sẽ được an ẩn.
Lục căn cũng như vậy. Đó gọi là tự thủ. Ta muốn nói tự thủ và bất tự thủ là như vậy.
Đức Phật nói như thế. Tất cả đều hoan hỉ thọ trì.
Đức Phật giảng Kinh Bất Tự Thủ Ý.
Kinh Không Tự Giữ Ý
Việt dịch: Thích Nữ Tịnh Quang
Nghe như vầy, một thời đức Phật ở tại nước Xá Vệ, vườn Kỳ Thọ Cấp Cô Độc. Bấy giờ ngài bảo các Tỳ Kheo, Tỳ Kheo nên im lặng. Phật bảo, lắng nghe ta nói về việc tự giữ (ý)và không tự giữ (ý).
Các Tỳ Kheo chắp tay lắng nghe lời Phật. Phật bảo các Tỳ Kheo, lý do gì gọi là không tự giữ? nếu con mắt không khép lại, hoặc con mắt rơi vào sắc thức, tâm liền rong duỗi; tâm đã rong duỗi bèn không được định ý; đã không được định ý thì không biết được như thực; lý thực hữu (của vạn pháp) đã không hiểu thì cũng không thấy được thực hữu; đã không hiểu không thấy được thực hữu thì không xả được nghiệp hoặc, cũng không thoát khỏi vô minh rồi bị trói buộc bởi các nhân duyên khác. Từ nhận thức sai biệt này đến sai biệt khác dẫn đến đau khổ chẳng an ổn. Như thế mà nói, tai cũng vậy, mũi cũng vậy, miệng cũng vậy, thân cũng vậy, và ý cũng vậy; như vậy mà tác động gọi là không tự giữ.
Phật bảo các Tỳ Kheo, lý do gì gọi là tự giữ? Nếu tự giữ con mắt, ngăn nhãn thức không rơi vào sắc, tâm liền không dong ruỗi; tâm đã không dong ruỗi thì đạt được an lạc; đã có an lạc thì được định ý; đã được định ý liền rõ được thực hữu tri (cái biết thực hữu) và rõ được thực hữu kiến (cái thấy thực hữu); rõ thực tri và thực kiến rồi thì xả được hoặc nghiệp và thoát khỏi vô minh, và không có gì là không như thực, nhân đây đạt được trí huệ, tâm được an ổn. Sáu căn cũng như đây mà nói, như vậy gọi là tự giữ. Những gì nói về tự giữ và không tự giữ là như vậy.
Phật nói như vậy, tất cả đều vui vẻ tin nhận.


