Phật Thuyết Nguyệt Dụ Kinh [佛說月喻經]
Phật Thuyết Nguyệt Dụ Kinh [佛說月喻經]
Nguyên bản Hán văn – Bản khắc gỗ Càn long – Vĩnh Lạc Đại Điển – CBETA

Bản chia sẻ của CBETa
Phật Thuyết Nguyệt Dụ Kinh [佛說月喻經]
thuộc tập T02, kinh số 121, tổng cộng 1 quyển, – Tống Thi Hộ dịch
Phật Thuyết Nguyệt Dụ Kinh [佛說月喻經]
( Bản khắc gỗ Càn long và Vĩnh Lạc Đại Điển )
Phật Thuyết Nguyệt Dụ Kinh [佛說月喻經]
thuộc tập T02, kinh số 121, tổng cộng 1 quyển, – Tống Thi Hộ dịch
Kinh Dụ Mặt Trăng
Việt dịch: Thích Đức Thắng
Tôi nghe như vầy:
Một thời Đức Phật ở trong vườn Trúc, khu Ca-lan-đà, thành Vương xá.
Bấy giờ, Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:
“Hãy sống như mặt trăng; khi đi vào nhà người khác với tàm quý, khiêm hạ, kiểm thúc tâm, thúc liễm thân hình như người mới học. Như người mắt sáng khi lội vực sâu, lên đỉnh núi, kiểm thúc tâm, thúc liễm thân hình và chậm rãi tiến tới trước.
“Tỳ-kheo cũng vậy, sống như mặt trăng; khi đi vào nhà người khác với tàm quý, khiêm hạ, kiểm thúc tâm, thúc liễm thân hình như người mới học.
“Tỳ-kheo Ca-diếp sống như mặt trăng; khi đi vào nhà người khác với tàm quý, khiêm hạ không cao mạn, kiểm thúc tâm, thúc liễm thân hình như người mới học. Như người mắt sáng lội vực sâu, lên đỉnh núi chế ngự tâm, thúc liễm thân, xem xét kỹ rồi mới tiến.”
Phật bảo các Tỳ-kheo:
“Ý các ông thế nào? Tỳ-kheo phải như thế nào mới vào nhà người?”
Các Tỳ-kheo bạch Phật:
“Bạch Thế Tôn, Thế Tôn là gốc pháp, là con mắt pháp, là chỗ nương tựa của pháp, xin Thế Tôn nói rộng, các Tỳ-kheo nghe xong sẽ nhận lãnh phụng hành.”
Phật bảo Tỳ-kheo:
“Hãy lắng nghe và suy nghĩ kỹ, Ta sẽ vì các ông giảng nói.
“Nếu Tỳ-kheo nào ở nhà người mà tâm không bị dính, không bị trói, không tham đắm dục lạc; đối với cái lợi mà người khác có, công đức mà người khác
làm, hoan hỷ như là của chính mình, không sanh ra tư tưởng ganh tị; cũng không tự đề cao mình, hạ thấp người. Tỳ-kheo như vậy mới nên vào nhà người.”
Bấy giờ, Thế Tôn đưa tay sờ vào hư không, rồi hỏi các Tỳ-kheo:
“Hiện tại tay này của Ta có bị dính, bị trói, bị nhiễm bởi hư không chăng?”
Tỳ-kheo bạch Phật:
“Bạch Thế Tôn, không,”
Phật bảo Tỳ-kheo:
“Pháp của Tỳ-kheo thường như vậy, với tâm không bị dính, không bị trói và không bị nhiễm khi vào nhà người. Chỉ có Tỳ-kheo Ca-diếp là với tâm không bị dính, không bị trói và không bị nhiễm khi vào nhà người. Đối với cái lợi mà người khác có, công đức mà người khác làm, hoan hỷ như là của chính mình, không sanh ra tư tưởng ganh tị; cũng không tự đề cao mình, hạ thấp người, chỉ có Tỳ-kheo Ca-diếp như vậy mới nên vào nhà người.”
Bấy giờ, Thế Tôn lại đưa tay sờ vào hư không, rồi hỏi các Tỳ-kheo:
“Ý các ông thế nào? Hiện tại tay này của Ta có bị dính, bị trói, bị nhiễm bởi hư không chăng?”
Tỳ-kheo bạch Phật:
“Bạch Thế Tôn, không,”
Phật bảo Tỳ-kheo:
“Chỉ Tỳ-kheo Ca-diếp thường như vậy, với tâm không bị dính, không bị trói và không bị nhiễm khi vào nhà người.
Bấy giờ, Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:
“Tỳ-kheo như thế nào mới đáng là thuyết pháp thanh tịnh?”
Các Tỳ-kheo bạch Phật:
“Bạch Thế Tôn, Thế Tôn là gốc pháp, là con mắt pháp, là nơi nương tựa của pháp, xin Ngài nói rộng, chúng con nghe xong sẽ nhận lãnh phụng hành.”
Phật bảo Tỳ-kheo:
“Hãy lắng nghe và suy nghĩ kỹ, Ta sẽ vì các ông mà giảng nói.
“Nếu có Tỳ-kheo nào thuyết pháp cho người mà khởi tâm như vầy: ‘Những ai khởi tín tâm thanh tịnh đối với ta? Làm như thế rồi, cúng dường y phục, ngọa cụ, mền nệm và thu c men.’ Thuyết như vậy, gọi là thuyết pháp không thanh tịnh.
“Nếu lại có Tỳ-kheo nào thuyết pháp cho người, khởi nghĩ như vầy: ‘Chánh pháp luật được Thế Tôn hiển hiện, lìa các nhiệt não, không đợi thời tiết, ngay nơi hiện thân này, duyên nơi tự tâm mà giác tri, hướng thẳng Niết-bàn. Nhưng chúng sanh thì đắm chìm vào già, bệnh, chết, ưu, bi, khổ, não. Những chúng sanh như vậy nếu nghe được Chánh pháp, nhờ nghĩa lợi thì mãi mãi sẽ được an lạc. Nhờ nhân duyên Chánh pháp này, bằng tâm từ, tâm bi, tâm thương xót và tâm muốn Chánh pháp được trụ thế lâu dài mà thuyết cho người’. Đó gọi là thuyết pháp thanh tịnh.
“Chỉ có Tỳ-kheo Ca-diếp mới có tâm thanh tịnh như vậy mà vì người thuyết pháp; bằng Chánh pháp luật của Như Lai,… cho đến vì tâm muốn làm Chánh pháp được trụ thế lâu dài mà vì người thuyết pháp.
“Cho nên, các Tỳ-kheo, phải học như vậy, thuyết pháp như vậy, đối với Chánh pháp luật của Như Lai,… cho đến tâm muốn khiến cho Chánh pháp được thường trụ lâu dài mà vì người thuyết pháp.”
Phật nói kinh này xong, các Tỳ-kheo nghe những gì Phật dạy, hoan hỷ phụng hành.
Kinh Phật Nói Nguyệt Dụ
Việt dịch: Thích Nữ Tịnh Quang
Tôi nghe như vầy, một thời đức Thế Tôn ở thành Vương Xá, tinh xá Ca Lan Đà Trúc Lâm, cùng các Tỳ Kheo câu hội. Bấy giờ đức Thế Tôn bảo các Tỳ Kheo rằng: như thế gian đã thấy, mặt trăng sáng tròn đầy, lướt trên hư không, thanh tịnh vô ngại, với các Tỳ kheo, không mất uy nghi, thường như kẻ sơ tâm, đầy đủ sự tàm quý đối với thân hoặc tâm, chưa từng tán loạn, phép tắc uy nghi như vậy, khi đi vào nhà thế tục thanh tịnh không nhiễm cũng như ánh trăng đó.
Này các Tỳ Kheo, lại như người có minh nhãn, vào trong nước lớn vực sâu hoặc đi vào nơi sông ngòi hiểm trở, hoặc đến chỗ núi non cao thấp chồng chềnh, dùng minh nhãn đó thì có thể thấy được, rời xa các nỗi sợ hãi nghi ngờ như trên. Tỳ Kheo cũng như thế. Này các Tỳ kheo, như ta đã nói, ví như mặt trăng lướt trên hư không, thanh tịnh vô ngại, giống như người mắt sáng bước vào chốn hiểm nguy, không có các nỗi lo sợ nghi ngờ. Như hiền giả Ca Diếp chẳng mất uy nghi, thường như kẻ sơ tâm, đầy đủ sự tàm quý, hoặc thân hay tâm chưa từng tán loạn. Phép nghi như vậy vào nhà thế tục, thanh tịnh không nhiễm, lìa các sợ hãi lại cũng giống như thế.
Bấy giờ đức Thế Tôn lại hỏi các Tỳ Kheo, các Tỳ Kheo, nếu khi vào nhà thế tục nên khởi tâm gì? nên dùng tướng nào để vào nhà ấy? Các Tỳ Kheo bạch Phật rằng: Bạch Thế Tôn Phật là nơi quy hướng, Phật là chư pháp bổn, Phật là mắt thanh tịnh, chúng con không biết nghĩa này như thế nào, xin đức Thế Tôn vì thương chúng con chỉ bày, khiến các Tỳ Kheo nghe rồi thấu rõ.
Phật bảo, các Tỳ Kheo các ông lắng nghe và khéo suy nghĩ, ta nay vì các ông mà nói. Nếu các Tỳ Kheo khi muốn vào nhà thế tục nên khởi tâm không dính mắc, không ràng buộc, không chấp thủ, y luật nghi tướng mà vào nhà đó. Chỉ nhận lợi dưỡng vì muốn người kia làm các phước sự, theo chỗ phần lượng có được của mình mà thọ nhận. Lại khéo khởi tâm nghĩ mình không cao, người khác không thấp. Khởi tâm như thế, dùng tướng như thế, có thể vào nhà thế tục.
Bấy giờ đức Thế Tôn đưa nắm tay không bảo chúng Tỳ Kheo rằng: ý các ông nghĩ sao? Hư không có vướng mắc, ràng buộc, chấp thủ không? Các Tỳ Kheo trả lời: thưa Thế Tôn, không. Phật bảo, nếu Tỳ Kheo tâm không vướng mắc, không ràng buộc, không chấp thủ mà vào nhà thế tục cũng lại thanh tịnh như hư không vậy.
Bấy giờ đức Thế Tôn lại đưa nắm tay không lên một lần nữa và bảo các chúng Tỳ Kheo rằng, các Tỳ Kheo, ý các ông như thế nào? Hư không có dính mắc, rang buộc hay chấp thủ không? Các Tỳ kheo trả lời, thưa Thế Tôn không. Phật bảo: Ca Diếp, Tỳ Kheo cũng lại như thế, dùng tâm không vướng mắc, không ràng buộc, không chấp thủ mà vào nhà thế tục, tùy nhận lợi dưỡng, vì muốn người kia làm các phước sự, theo chỗ có được phần lượng của mình mà nhận, lại khởi tâm tốt, nghĩ mình không cao, người khác không thấp. Các Tỳ kheo, y theo nghĩa này như hiền giả Ca Diếp, nên vào nhà thế tục để tiếp nhận sự lợi dưỡng.
Bấy giờ các Tỳ Kheo lại bạch Phật rằng: Thế Tôn, nếu các Tỳ Kheo lúc vì người thế tục mà nói pháp, hoặc có thanh tịnh, hoặc không thanh tịnh, việc kia như thế nào? Xin Phật Thế Tôn khéo vì chúng con tuyên thuyết.
Phật bảo, các Tỳ Kheo, các ông lắng nghe, hãy khéo nhận hiểu, nay ta vì các ông mà nói. Nếu các Tỳ Kheo vì lòng tham muốn mà khiến người khác phát khởi tín tâm và làm các việc tín tâm, cấp thí các thứ y phục, ăn uống, giường chiếu, thuốc men bệnh hoạn…dùng việc lợi này vì người khác mà nói pháp, điều này không phải thanh tịnh. Nếu các Tỳ Kheo, y theo lời Phật đã dạy, an trụ chánh kiến, rời các nhiễm ô, như luyện vàng ròng, khử trừ chất uế, thấy pháp như thế, chứng pháp như thế, như ta vừa nói là pháp có thể lìa sanh già bịnh chết, sầu bi khổ não, dùng pháp như thế vì người khác nói khiến người kia đạt được sự Nghe pháp như thế, theo đó tu hành, ở trong đêm dài được lợi lạc lớn. Vì nhân duyên này phát sinh lòng từ tâm bi bình đẳng, do nhân duyên này khiến chánh pháp Phật tồn tại lâu dài. Các Tỳ Kheo nếu khởi tâm như thế vì người khác nói pháp, đó là thanh tịnh.
Lại nữa các Tỳ Kheo, các ông phải biết, hiền giả Ca diếp hay khởi tâm thanh tịnh vì người khác nói pháp, dùng tâm thanh tịnh này khiến Phật Pháp trụ thế lâu dài, cho nên các ông, các chúng Tỳ Kheo cũng nên như vậy, như lý mà tu học. Lại nữa các Tỳ Kheo, nếu hay khởi tâm như thế vì người khác nói pháp thì ta gọi đó là tối thượng của sự thanh tịnh chân thật, có thể khiến cho chánh pháp Như Lai tồn tại lâu dài.
Phật thuyết kinh rồi các chúng Tỳ Kheo vui vẻ tin nhận.
T 121 佛說月喻經
佛說月喻經
西天譯經三藏傳法大師賜紫臣施護奉 詔譯
如是我聞:
一時,世尊在王舍城,迦蘭陀竹林精舍,與苾芻眾俱。是時,世尊告諸苾芻言:「如世所見,皎月圓滿,行於虛空,清淨無礙。而諸苾芻,不破威儀,常如初臘者,具足慚愧,若身若心,曾無散亂,如其法儀,入白衣舍,清淨無染,亦復如是。諸苾芻!又如明眼人,或入大水深廣之中、或涉江河險惡之處、或履山巖高下之所,以明眼故,而悉能見,離諸疑懼。如前所說,苾芻亦然。諸苾芻!今我所說,猶月行空,清淨無礙。譬明眼人,涉履諸險,離諸疑懼。而迦葉苾芻,不破威儀,常如初臘者,具足慚愧,若身若心,曾無散亂,如其法儀。入白衣舍,清淨無染。離諸怯懼,亦復如是。」
爾時,世尊復告諸苾芻言:「汝等苾芻,若入白衣舍時,當起何心、當以何相而入其舍?」
諸苾芻白佛言:「世尊!佛是所歸向,佛為諸法本,佛為清淨眼,我等不知是義云何?願佛世尊,善為宣說,令諸苾芻,聞已了知。」
佛言:「諸苾芻!汝等諦聽,當善作意,今為汝說。若諸苾芻,欲入白衣舍時,應起無著無縛無執取心,依律儀相而入其舍,雖受利養,但欲為彼作諸福事,隨自所得分量而受。復善作意,於自不高,於他不下。起如是心,以如是相,應入白衣舍。」
爾時,世尊舉手捫空,告苾芻眾言:「於汝意云何?虛空有著不?有縛不?有執取不?」
諸苾芻言:「不也。世尊!」
佛言:「若苾芻,以無著無縛無執取心,入白衣舍,亦復如是。」
爾時,世尊又復舉手捫空,告苾芻眾言:「諸苾芻!於汝意云何?虛空有著不?有縛不?有執取不?」
諸苾芻言:「不也。世尊!」
佛言:「迦葉苾芻亦復如是,以無著無縛無執取心,入白衣舍,雖受利養,但欲為彼作諸福事,隨自所得分量而受。復善作意,於自不高,於他不下。諸苾芻!以是義故,如迦葉苾芻者,應入白衣舍,堪受利養。」
爾時,諸苾芻重白佛言:「世尊!若諸苾芻為白衣說法時,或有清淨、或不清淨,其事云何?願佛世尊,善為宣說。」
佛言:「諸苾芻!汝等諦聽,當善作意,今為汝說。若苾芻,為欲令他發起信心,及作信心事給施衣服、飲食、坐臥之具、病緣醫藥,以是利故,為他說法者,此不清淨。若苾芻,於佛所說法,安住正見,離諸染污,如鍊真金,去除鑛穢,見如是法,證如是法,如佛所發起,是法能離生、老、病、死、憂、悲、苦惱,以如是法,為他演說,令他得聞如是法已,隨順修行,於長夜中,得大利樂,以此緣故,發生慈心悲愍等心,由是因故,令佛正法得久住世。諸苾芻!若起如是心,為他說法者,斯則清淨。
「復次,諸苾芻!汝等當知,迦葉苾芻能起清淨心,為他說法,以清淨故,令佛正法得久住世。是故汝等諸苾芻眾,亦應如是,如理修學。
「又,諸苾芻!若有能起如是心,為他說法者,我說名為最上清淨真實,能令如來正法得久住世。」
佛說此經已。諸苾芻眾,歡喜信受。
佛說月喻經


