Phật Thuyết Phóng Ngưu Kinh [佛說放牛經]
Phật Thuyết Phóng Ngưu Kinh
[佛說放牛經]
Nguyên bản Hán văn – Bản khắc gỗ Càn long – Vĩnh Lạc Đại Điển – CBETA

Bản chia sẻ của CBETa
Phật Thuyết Phóng Ngưu Kinh [佛說放牛經]
thuộc tập T02, kinh số 123, tổng cộng 1 quyển, – Hậu Tần Cưu Ma La Thập dịch
Phật Thuyết Phóng Ngưu Kinh [佛說放牛經]
( Bản khắc gỗ Càn long và Vĩnh Lạc Đại Điển )
Phật Thuyết Phóng Ngưu Kinh [佛說放牛經]
thuộc tập T02, kinh số 123, tổng cộng 1 quyển, – Hậu Tần Cưu Ma La Thập dịch
Kinh Về Người Chăn Bò
Việt dịch: Thích Đức Thắng
Tôi nghe như vầy:
Một thời, Phật trú tại nước Xá-vệ, trong vườn Cấp Cô Độc, rừng cây Kỳ-đà.
Bấy giờ Thế Tôn nói với các Tỳ kheo:
“Người chăn bò nếu thành tựu mười một pháp, đàn bò sẽ không bao giờ tăng trưởng; nó cũng không thể giữ gìn bò. Những gì là mười một? Người chăn bò không phân biệt sắc, không hiểu tướng, cần vuốt chải mà không vuốt chải,[147] không che đậy vết thương lở, không tùy lúc xông khói, không biết ruộng tốt chỗ có nhiều cỏ, không biết chỗ nào an ổn, không biết chỗ dẫn bò qua sông, không biết thời nghi,[148] khi vắt sữa mà vắt cạn không biết chừa lại, khi bò đã lớn có thể dùng mà lại không tùy thời chăm sóc.[149]
“Tỳ kheo, đó là nười một pháp mà nếu người chăn bò thành tựu, thì sẽ không thể phát triển đàn bò, không thể chăm sóc thân chúng. Ở đây, Tỳ kheo trong chúng cũng vậy, sẽ không thể thêm ích được gì. Những gì là mười? Không phân biệt sắc, không hiểu rõ tướng, cần vuốt chải mà không vuốt chải, không che đậy vết thương lở, không tùy lúc xông khói, không biết ruộng tốt chỗ có nhiều cỏ, không biết chỗ nào an ổn, không biết chỗ dẫn bò qua sông, không biết đúng lúc cho ăn, không biết chừa lại, không kính trọng biệt đãi các Tỳ kheo trưởng lão.
“Thế nào là Tỳ kheo không biết sắc? Ở đây, Tỳ kheo, có bốn đại và sắc do bốn đại tạo, mà hoàn toàn không biết. Tỳ kheo, như vậy là không biết sắc.
“Thế nào là Tỳ kheo không hiểu rõ tướng? Ở đây, Tỳ kheo không biết hành vi gì là ngu, hành vi gì là trí; thảy đều không như thật biết. Tỳ kheo, như vậy là không hiểu rõ tướng.
“Thế nào, Tỳ kheo cần vuốt chải mà không vuốt chải? Ở đây, Tỳ kheo thấy sắc liền khởi tưởng về sắc, có các loạn niệm, lại không thủ hộ nhãn căn; do không khéo nhiếp niệm [794a] nên gây ra các tai ương chồng chất,[150] không thủ hộ nhãn căn.[151] Cũng vậy, Tỳ kheo khi tai nghe tiếng, mũi ngửi hương, lưỡi nếm vị, thân xúc chạm trơn láng, ý biết pháp, mà khởi các tương tạp loạn, cũng không phòng hộ ý căn, không sửa đổi hành vi. Tỳ kheo, như vậy là cần vuốt chải mà không vuốt chải.
“Thế nào, Tỳ kheo, là không che đậy vết thương? Ở đây Tỳ kheo khởi dục tưởng mà không xả ly, cũng không trừ khử niệm ấy. Hoặc khởi sân tưởng, sát hại tưởng, khởi các tưởng ác bất thiện mà không hề xả bỏ.[152] Tỳ kheo, như vậy là không che đậy vết thương.
“Thế nào, Tỳ kheo, là không tùy thời xông khói? Ở đây, pháp mà Tỳ kheo đọc tụng không tùy thời nói cho người khác nghe. Như vậy, Tỳ kheo, là không tùy thời xông khói.
“Thế nào, Tỳ kheo, không biết ruộng tốt, nhiều cỏ? Ở đây, Tỳ kheo không biết bốn ý chỉ; không như thật biết. Tỳ kheo, như vậy là không biết ruộng tốt, nhiều cỏ.
“Thế nào, Tỳ kheo, không biết chỗ qua sông? Ở đây Tỳ kheo không biệt tám phẩm đạo của Hiền Thánh. Tỳ kheo, như vậy là không biết chỗ qua sông.
“Thế nào, Tỳ kheo, không biết điều yêu quý[153]? Ở đây, Tỳ kheo, đối với 12 bộ: Khế kinh, Kỳ-dạ, Thọ quyết, Kệ, Nhân duyên, Bản mạt, Phương đẳng, Thí dụ, Sanh kinh, Thuyết, Quảng phổ, Vị tằng hữu pháp. Tỳ kheo, như vậy không biết điều được yêu quý.
“Thế nào, Tỳ kheo, không biết thời nghi? Ở đây, Tỳ kheo đi đến nhà hèn hạ, nhà cờ bạc. Tỳ kheo, như vậy là không biết thời nghi.
“Thế nào, Tỳ kheo, không biết chừa lại? Ở đây, Tỳ kheo có bà-la-môn, ưu-bà-tắc, là những người có tín tâm, đến thỉnh. Nhưng Tỳ kheo ấy tham ăn uống, không biết đủ mà dừng lại. Tỳ kheo, như vậy là không biết chừa lại.
“Thế nào, Tỳ kheo, không kính các Tỳ kheo trưởng lão, cao đức? Ở đây, Tỳ kheo không khởi tâm cung kính người có đức. Tỳ kheo như vậy có nhiều sai phạm. Đó gọi là Tỳ kheo không kính trưởng lão.
“Nếu Tỳ kheo nào thành tựu mười một pháp này, người ấy ở trong chánh pháp này trọn không được điều gì lợi ích.
“Lại nữa, nếu người chăn thành tựu mười một pháp, người ấy có thể chăm sóc đàn bò không hề thất thời, được nhiều lợi ích. Những gì là mười một? Ở đây người chăn bò biết sắc, biết phân biệt tướng, cần vuốt chải thì vuốt chải, che đậy vết thương lở, thùy thời xông khói, biết ruộng tốt chỗ có nhiều cỏ, biết chỗ qua sông, biết yêu mến bò, phân biệt [794c] thời nghi, biết tính hạnh, khi vắt sữa thì biết chừa lại, tùy thời chăm sóc con bò đang được dùng.Như vậy người chăn bò chăm sóc đàn bò.
“Cũng vậy, cũng như người chăn bò, Tỳ kheo thành tựu mười một pháp mà không mất thời tiết, trọn không bị trở ngăn. Tỳ kheo thành tựu mười một pháp như vậy, ngay trong hiện pháp, được nhiều điều lợi ích. Những gì là mười một? Ở đây, Tỳ kheo biết sắc, biết tướng, biết vuốt chải, biết che đậy vết thương, biết xông khói, biết ruộng tốt chỗ có nhiều cỏ, biết điều đáng yêu, biết chọn đường đi, biết chỗ qua sông, biết khính Tỳ kheo trưởng lão mà tùy thời lễ bái.
“Thế nào là Tỳ kheo biết sắc? Ở đây, Tỳ kheo biết sắc bốn đại, và cũng biết sắc do bốn đại tạo. Đó gọi là Tỳ kheo biết sắc.
“Thế nào là Tỳ kheo biết tướng? Ở đây, Tỳ kheo biết tướng ngu, biết tướng trí; biết như thật. Như vậy, Tỳ kheo biết tướng.
“Thế nào là Tỳ kheo biết vuốt chải? Ở đây, Tỳ kheo khi khởi tâm niệm dục tưởng, liền biết xả ly, không thân cận, vĩnh viễn không có dục tưởng. Khi sân tưởng, hại tưởng, các tưởng ác bất thiện khởi lên, liền biết xả ly, không thân cân, vĩnh viễn không có sân tưởng các thứ. Như vậy, Tỳ kheo biết vuốt chải.
“Thế nào là Tỳ kheo biết che đậy vết thương? Ở đây, Tỳ kheo khi mắt thấy sắc mà không khởi sắc tưởng, cũng không nhiễm trước, mà làm thanh tịnh nhãn căn; trừ khử các pháp ác bất thiện, sầu ưu, tâm không tham đắm, ở trong đó mà thủ hộ nhãn căn. Cũng vậy, Tỳ kheo khi tai nghe tiếng, mũi ngửi hương, lưỡi nếm vị, thân biết trơn láng, ý biết pháp mà không khởi thức tưởng, cũng không nhiễm trước, mà thanh tịnh ý căn. Như vậy, Tỳ kheo biết che đậy vết thương.
“Thế nào, Tỳ kheo biết xông khói? Ở đây, Tỳ kheo nói lại cho người khác pháp mà mình đã từng nghe. Như vậy, Tỳ kheo biết xông khói.
Thế nào, Tỳ kheo biết ruộng tốt chỗ có nhiều cỏ? Ở đây, Tỳ kheo như thật biết tám phẩm đạo Hiền Thánh. Như vậy, Tỳ kheo biết ruộng tốt chỗ có nhiều cỏ.
“Thế nào, Tỳ kheo biết điều đáng yêu qúy? Ở đây, Tỳ kheo nghe pháp bảo mà Như Lai đã nói, trong tâm liên yêu quý. Như vậy, Tỳ kheo biết điều đáng yêu quý.
“Thế nào, Tỳ kheo biết chọn đường đi? Ở đây, Tỳ kheo đối với 12 bộ kinh[154] biết lựa chọn mà hành. Đó là, Khế kinh, Kỳ-dạ, Thọ quyết, Kệ, Nhân duyên, Bản mạt, Phương đẳng, Thí dụ, [795a] Sanh kinh, Thuyết, Quảng phổ, Vị tằng hữu pháp. Như vậy, Tỳ kheo biết chọn đường đi.
“Thế nào, Tỳ kheo biết chỗ qua sông? Ở đây, Tỳ kheo biết bốn niệm xứ.[155] Đó là Tỳ kheo biết chỗ qua sông.
“Thế nào, Tỳ kheo biết ăn vừa đủ no?[156] Ở đây, Tỳ kheo có bà-la-môn, ưu-bà-tắc, là những người có tín tâm, đến thỉnh. Tỳ kheo không tham ăn uống, có thể biết đủ mà dừng lại. Tỳ kheo, như vậy là vừa đủ.
“Thế nào, Tỳ kheo tùy thời cung kính Tỳ kheo trưởng lão? Ở đây, Tỳ kheo hằng với thiện hành bởi thân, miệng, ý đối với các Tỳ kheo trưởng lão. Như vậy Tỳ kheo tùy thời cung phụng các Tỳ kheo trưởng lão.
“Tỳ kheo thành tựu mười một pháp như vậy, ở ngay trong hiện pháp, được nhiều điều lợi ích.”
Bấy giờ Thế Tôn bèn nói kệ:
Chăn bò không buông lung,
Người chủ được nhiều phước.
Sáu bò trong sáu năm,
Lần lượt thành sáu chục.
Tỳ kheo giới thành tựu,
Tự tại trong thiền định,
Sáu căn được vắng lặng,
Sáu năm thành sáu thông.
“Như vậy, Tỳ kheo, nếu ai có thể xa lìa pháp ác này, thành tựu mười một pháp kể sau cùng này, người ấy ở trong hiện pháp được nhiều điều lợi ích. Tỳ kheo, hãy học điều này như vậy.”
Các Tỳ kheo nghe những điều Phật dạy, hoan hỷ phụng hành.
PHÓNG NGƯU KINH
Kinh Phật Nói Chăn Trâu
Việt dịch: Thích Nữ Tịnh Quang
Nghe như vầy, một thời đức Phật ở nước Xá Vệ, vườn Kỳ Thọ Cấp Cô Độc, bấy giờ đức phật bảo các Tỳ Kheo, có mười một pháp chăn trâu nhưng không biết cách thức chăn trâu và không biết nuôi trâu. Mười một pháp đó là những gì? một là chăn trâu mà không biết sắc; hai là không biết tướng; ba là không biết chà tắm; bốn là không biết phòng bịnh; năm là không biết xông khói; sáu là không biết chọn đường đi; bảy là không biết quí mến trâu; tám là không biết đường nào để vượt qua sông; chín là không biết tìm cỏ nước tốt cho trâu; mười là trâu không để lại thức ăn, mười một là không biết phân biệt trâu nuôi xử dụng được hay là không. Mười một việc như thế, chăn trâu mà không biết cách dưỡng hộ trâu đó, rốt cuộc trâu không mạnh khỏe, giảm sút dần dần. Tỳ kheo cũng vậy, không biết mười một việc chăn trâu đó, trọn đời không thành sa môn; ở trong pháp này hẳn không vun bồi căn bổn luật nghi, không có cành lá (giới điều) che chở. Nếu chẳng hành mười một việc lại làm sa môn, mạng chung rơi vào ba đường ác. Thế nào là mười một việc không biết của Tỳ Kheo? Tỳ Kheo không biết sắc, không biết tướng, nên gột rửa mà không biết gột rửa, nên phòng bịnh mà không biết phòng bịnh, nên xông khói mà không biết xông khói, không biết chọn đường đi, không biết quí mến trâu, không biết đường nào để vượt qua sông, không biết thực xử, không biết thực bất tận, không biết kính các bậc trưởng lão.
Tỳ Kheo, thế nào là không biết sắc? Tỳ Kheo không biết bốn đại, không biết bốn đại đã tạo ra sắc, Tỳ Kheo không biết như thế.
Tỳ Kheo, thế nào là không biết tướng? Tỳ Kheo không biết tướng nhân duyên của si (tối), không rõ tướng nhân duyên của hiệt (sáng). Thế nào gọi là không biết tướng nhân duyên của si? Tỳ kheo không biết việc tối, không biết việc sáng, không biết việc tối sáng. Thế nào gọi là không biết hiệt tướng? Không biết việc tối, không biết việc sáng, không biết việc sáng tối. Tỳ kheo, như thế gọi là không biết tướng.
Tỳ Kheo, thế nào là nên gột rửa mà không biết gột rửa? Tỳ Kheo, khi dục tâm khởi lên liền say đắm, không buông không bỏ không đoạn dứt; khởi ngu si tham xan và các ác tâm, ôm mãi không buông bỏ. Như thế Tỳ Kheo, nên gột rửa mà không gột rửa vậy.
Tỳ Kheo, thế nào là nên phòng bịnh mà không phòng bịnh? Tỳ kheo khi thấy sắc khởi tưởng tham luyến, nghe thanh suy nghĩ hình thể mà chẳng biết đó là bất thiện. Không hộ trì mắt, tai, mũi, lưỡi, thân và tâm; mãi đắm ngoại trần nên không thể phòng hộ. Như thế Tỳ Kheo, nên phòng hộ mà không phòng hộ.
Tỳ Kheo, thế nào là nên xông khói mà không xông khói? Tỳ Kheo chỗ học hiểu chưa thông mà nói cho người khác. Tỳ Kheo, như thế gọi là nên xông khói mà không biết xông khói.
Tỳ Kheo, thế nào là không biết chọn đường đi? Tỳ Kheo không đi vào con đường đúng mà đi vào con đường sai. Thế nào là con đường sai? Tỳ Kheo đi vào chỗ dâm nữ hoặc chỗ tụ tập rượu chè bàn luận chuyện phiếm. Tỳ Kheo như vậy là không biết hành đạo.
Tỳ Kheo, thế nào là không biết quí mến? Khi Tỳ Kheo khác giảng thuyết pháp mầu, không để tâm ham muốn nghe. Tỳ Kheo như vậy là không biết quí mến.
Tỳ Kheo, thế nào là không biết vượt qua sông? Tỳ Kheo không biết Tứ đế. Tứ đế là gì? Tỳ Kheo không biết chân lý về khổ, chân lý về nguyên nhân khổ, chân lý về diệt khổ và chân lý về con đường diệt khổ. Tỳ Kheo, như thế gọi là không biết vượt qua sông.
Tỳ Kheo, thế nào là không biết thực xứ? Tỳ kheo không biết bốn ý chỉ. Bốn ý chỉ là những gì? Tỳ kheo không biết pháp nội quán thân, ngoại quán thân, nội ngoại quán thân; không biết nội quán thống, ngoại quán thống, nội ngoại quán thống; không biết nội quán ý, ngoại quán ý, nội ngoại quán ý; không biết nội quán pháp, ngoại quán pháp, nội ngoại quán pháp. Tỳ Kheo như thế gọi là không biết thực xử.
Tỳ Kheo, thế nào là thực bất tận? Nếu khi vua chúa, trưởng giả, thiện tín nam nữ mời thọ thực, sắp đặt các thứ mỹ vị, hết lòng cúng dường; Tỳ kheo không biết giới hạn, ăn xong còn dư lại muốn đem về. Tỳ Kheo như thế là người không biết đủ.
Tỳ Kheo, thế nào là không biết kính trưởng lão? Thế nào là Tỳ Kheo không biết cung kính cúng dường? Giả sử có vị Tỳ Kheo trưởng lão, tuổi ở cửu tuần, đạo đức học vấn cao rộng; nhưng Tỳ Kheo trẻ không chí tâm lễ kính. Khi thấy vị ấy lại không đứng dậy, không rời chỗ ngồi, khinh mạn chê cười, chẳng dung tâm tốt cư xử. Tỳ Kheo như thế là không biết kính trưởng lão.
Bất cứ Tỳ Kheo nào không biết thực hành mười một pháp này tuy ở trong pháp ta nhưng không phải sa môn, không trồng căn bản luật nghi, không có cành lá (giới điều) che phủ thảy tự hư hoại chẳng khác gì hàng bạch y, dù có làm sa môn thì cũng đi vào ba đường ác. Tỳ Kheo nếu như biết chăn trâu và thực hành mười một việc phòng hộ, khiến con trâu kia sẽ được mạnh khỏe. Mười một việc này là những gì? Người chăn trâu biết sắc, biết tướng, biết chà tắm, phòng bịnh, xông khói, chọn đường vượt sông, quí mến trâu, tìm cỏ nước, biết để lại ít nhiều ( thức ăn) chừng mực, biết phân biệt trâu tốt hay xấu, và nuôi thấy xử dụng được nó. Như thế người chăn trâu đó mới có thể thêm phần lợi ích dưỡng hộ trâu kia. Nhân đây đức Phật nói kệ:
Chăn trâu mà tường tận
Chủ trâu có phước đức
Sáu năm, sáu con trâu
Thành sáu mươi năm đúng
Chăn trâu mà thông minh
Biết phân biệt các tướng
Pháp chăn trâu như thế
Chư Phật trước từng khen.
Tỳ Kheo nên hành mười một pháp như thế thì có thể ở trong pháp này trồng các căn bản luật nghi, nhánh lá sum sê bao trùm đại địa lại không bị hư hoại. Mười một pháp đó là gì? Tỳ Kheo biết sắc, biết tướng, biết gột rửa, biết phòng bịnh, biết xông khói, biết đường đi, biết quí mến, biết qua sông, biết thực xử, biết vừa đủ, biết kính trưởng lão học rộng sâu sắc rồi cung kính cúng dường.
Tỳ Kheo, thế nào là biết sắc? Tỳ Kheo biết tứ đại tạo ra sắc; như thế là Tỳ Kheo biết sắc.
Tỳ Kheo, thế nào là biết tướng? Tỳ Kheo phân biệt được si và hiệt. Thế nào gọi là si? Chẳng phải điều suy nghĩ mà suy nghĩ, chằng phải việc làm mà làm, chẳng phải điều nói mà nói; như thế gọi là si. Thế nào gọi là hiệt? Suy nghĩ điều đáng suy nghĩ, làm điều đáng làm, nói những điều nên nói; như thế gọi là hiệt. Có thể phân biệt được si và hiệt ( tối và sáng) thì gọi là biết tướng.
Tỳ Kheo, thế nào là nên gột rửa mà biết gột rửa? Tỳ Kheo khi khởi dục tâm thì liền kềm chế tránh xa nó như vứt bỏ điều ác; như vậy Tỳ Kheo, giả sử khởi tâm sân, hận, xan, tham và các ác khác thì hay kềm chế xa lìa như vứt bỏ điều ác; như thế Tỳ Kheo nên gột rửa mà biết gột rửa.
Tỳ Kheo, thế nào là nên phòng bịnh mà phòng bịnh? Tỳ Kheo mắt thấy sắc không phân biệt tốt xấu, giữ con mắt không đắm sắc bên ngoài, lìa hẳn các ác, phòng hộ đối với nhãn căn: tai nghe tiếng, mũi ngửi mùi, lưỡi nếm vị, thân tham đồ trơn lán, ý nhiều vọng niệm; ngăn ngừa không cho vướng mắc, hộ trì các căn nầy không để nhiễm ngoại trần như bỏ các điều ác; Tỳ Kheo như thế gọi là biết phòng bịnh.
Tỳ Kheo, thế nào là luôn luôn xông khói? Tỳ Kheo như những gì đã học, đã nghe và đã hiểu, nhân đây mà nói ra; như thế là Tỳ Kheo biết xông khói.
Tỳ Kheo, thế nào là biết hành đạo? Tỳ Kheo thực hành thông suốt Bát chánh đạo; biết rằng không thể đến chốn dâm đãng rượu chè bàn luận chuyện phiếm, trọn đời không bước vào chỗ đó; Tỳ Kheo như thế là biết hành đạo.
Tỳ Kheo, thế nào là biết quí mến? Tỳ Kheo khi thấy người khác nói pháp, chí tâm nghe nhận, cảm kích tha thiết; Tỳ Kheo như thế là biết quí mến.
Tỳ Kheo, thế nào là biết vượt qua sông? Tỳ Kheo biết rõ Tứ đế. Tứ đế là những gì? Chân lý về khổ, chân lý về nguyên nhân của khổ, chân lý về diệt khổ và chân lý về con đường diệt khổ. Tỳ kheo như thế là biết vượt qua sông.
Tỳ Kheo, thế nào gọi là biết thực xứ? Tỳ Kheo biết bốn ý chỉ. Thế nào là bốn ý chỉ? Tỳ Kheo quán nội thân, quán ngoại thân, quán nội ngoại thân; quán nội thống, quán ngoại thống, quán nội ngoại thống; quán nội ý, quán ngoại ý, quán nội ngoại ý; quán nội pháp, quán ngoại pháp, quán nội ngoại pháp. Tỳ Kheo như thế là biết thực xứ.
Tỳ Kheo, thế nào là biết thực bất tận? Tỳ Kheo, nếu quốc vương, trưởng giả, thiện tín nam nữ vì lòng kính tin thỉnh các Tỳ Kheo cúng dường ẩm thực đủ thứ mỹ vị, hết lòng kính trọng thỉnh mời; Tỳ Kheo biết tự dùng vừa đủ rồi ngưng, tư duy Phật ngữ, thức ăn tuy nhiều nên tự biết hạn lượng chớ có dùng hết. Tỳ Kheo như thế là biết thực bất tận.
Tỳ Kheo, thế nào là biết kính các bậc trưởng lão thâm niên uyên bác và cung kính cúng dường? Tỳ Kheo nên gần gũi các bậc Tôn đức lễ kính cúng dường, ra vào đón tiếp, gặp mặt kính chào, hết sức cung kính chớ có kiêu mạn. Tỳ Kheo như thế là biết kính trưởng lão.
Tỳ Kheo, nếu có thể thực hành mười một việc thì ở trong pháp này trồng các căn bổn luật nghi, cành lá sum sê nhiều chỗ được che phủ, thanh tịnh vô cấu. Bấy giờ đức Thế Tôn bèn nói kệ rằng:
Tỳ Kheo tinh tấn học
Thọ thực biết tiết hạn
Cung kính các trưởng lão
Là hạnh Phật ngợi khen
Như mười một pháp này
Tỳ Kheo học nơi đây
Ngày đêm định tâm ý
Sáu năm đắc La Hán
Chư Tỳ Kheo nghe đức Phật nói xong, hoan hỷ tiếp nhận hành trì.
T 123 佛說放牛經
佛說放牛經
後秦龜茲國三藏鳩摩羅什譯
聞如是:
一時,婆伽婆在舍衛國祇樹給孤獨園。是時,佛告諸比丘:「有十一法,放牛兒不知放牛便宜,不曉養牛。何等十一?一者放牛兒不知色,二者不知相,三者不知摩刷,四者不知護瘡,五者不知作烟,六者不知擇道行,七者不知愛牛,八者不知何道渡水,九者不知逐好水草,十者[(殼-一)/牛]牛不遺殘,十一者不知分別養可用不可用。如是十一事,放牛兒不曉養護其牛者,牛終不滋息,日日有減。比丘!不知行十一事,如放牛兒者,終不成沙門,此法中終不種法律根栽,無有葉枝覆蔭;不行十一事強為沙門者,死墮三惡道。何等比丘十一行?比丘不知色,不知相應摩刷,不知摩刷應護瘡,不知護瘡應作烟,不知作烟,不知擇道行,不知愛牛,不知何道渡水,不知食處,不知敬長老。
「比丘!云何不知色?比丘!不知四大,不知四大所造色,比丘!如是不知。比丘!云何不知相?比丘!不知癡因緣相、不知黠因緣相。云何不知癡因緣相?比丘!不知黑緣,不知白緣,不知黑白緣。云何不知黠相?不知黑緣,不知白緣,不知白黑緣。比丘!如是不知相。比丘!云何應摩刷而不摩刷?比丘!設欲心發便樂著,不捨、不忘、不斷絕,起愚癡貪慳及餘惡心,盡懷不吐捨。如是,比丘!應摩刷而不摩刷也。比丘!云何應護瘡而不護瘡?比丘!見色起想、聞聲愛著,思想形體不知為惡,不護眼根、耳、鼻、舌、身、心,盡馳外塵而不能護。如是,比丘!應護瘡而不護瘡。云何,比丘!應作烟而不作烟?比丘!所學聞不知為人說。如是,比丘!應起烟而不起烟。云何,比丘!不知擇道行?比丘!不入直道行,行於非道。云何行非道?比丘!入婬女里及酒會博戲處。如是,比丘!為不知行道。云何比丘不知愛?比丘!講說法寶時,不至心愛樂聽。如是,比丘!為不知愛。云何,比丘!不知渡水?比丘!不知四諦。何等四諦?比丘!不知苦諦、苦習諦、苦盡諦、苦盡道諦。如是,比丘!為不知渡水。云何,比丘!不知食處?比丘!不知四意止。何等四意止?比丘!不知內觀身、外觀身、內外觀身,不知內觀痛、外觀痛、內外觀痛,不知內觀意、外觀意、內外觀意,不知內觀法、外觀法、內外觀法。如是,比丘!為不知食處。云何,比丘!不知食不盡?比丘!設為國王長者清信士女請食,設種種餚饌至心進上,比丘不知齊限,食已有餘復欲持歸。如是,比丘!為不知食不盡。云何,比丘!不知敬長老?比丘!恭敬供養之云何不知?設有長老比丘,久習道德學問廣博,小比丘不至心禮敬,見之不起不為避坐,輕慢調戲不以善心待。如是,比丘!不知敬長老。其有比丘,不知行十一法,於吾法中不應為沙門,不種法律根栽,無枝葉覆蔭皆自朽壞,不如還為白衣。若強為沙門者必入三惡道。
「比丘!知放牛兒十一行養護,其能使滋息。云何十一?此放牛兒為:知色,知相,摩刷,護瘡,起烟,擇道,渡水,愛牛,逐水草,[(殼-一)/牛]知遺殘齊限多少,分別牛好惡,養視可用者。如是放牛者,便能養護增益其牛。」
佛於是頌曰:
「放牛兒審諦, 牛主有福德,
六頭牛六年, 成六十不減。
放牛兒聰明, 知分別諸相,
如此放牛兒, 先世佛所譽。
「如是十一法,比丘當行,便能於是法中種法律根栽,枝葉茂盛覆蔭大地,不復朽壞。何等十一?比丘知色、知相、知摩刷、知覆瘡、知時作烟、知行道、知愛、知渡水、知食處、知不盡、知敬長老舊學耆艾恭敬供養。云何比丘知色?比丘!知四大造起色,如是,比丘!為知色。云何比丘知相?比丘!別癡別黠。云何癡?非所思而思、非所行而行、非所說而說,是為癡。云何為黠?思可思、行可行、說可說,是為黠。能別癡黠,是為知相。云何比丘應摩刷知摩刷?比丘!設生欲心能制遠避如吐惡見,設起瞋恚慳貪及餘諸惡,能制遠避如吐惡見。如是,比丘!應刷知刷。云何比丘應護瘡而護?比丘!眼見色不分別好惡、守護眼根不著外色、遠捨諸惡護於眼根,耳聽聲、鼻嗅香、舌嗜味、身貪細滑意多念,制不令著,護此諸根不染、外塵如吐惡見。如是,比丘!為知護瘡。云何比丘時時放烟?比丘!如所學所聞所知,以是廣說,如是比丘為知放烟。云何比丘知行道?比丘行審諦八道,知不可行處,婬里、酒家、博戲處,終不妄入,如是比丘為知行道。云何比丘知愛?比丘!見說法寶時,至心聽受踊躍愛樂,如是比丘名為知愛。云何比丘知渡水處?比丘!知四諦。云何四諦?苦諦、苦習諦、苦盡諦、苦盡道諦。如是比丘為知渡水。云何比丘知食處?比丘!知四意止。云何四意止?比丘!觀內身、觀外身、觀內外身,觀內痛、觀外痛、觀內外痛,觀內意觀、外意觀、內外意,觀內法、觀外法、觀內外法,如是比丘為知食處。云何比丘知食不盡?比丘!若國王長者清信士女,以信樂心請於比丘,供養飲食種種餚饌,加敬進勸,比丘知節供身則止,思惟佛語:『施者雖豐,當自知限,不為盡受。』如是比丘知食不盡。云何比丘知敬長老舊學耆艾恭敬供養?比丘!當親近是輩禮敬供養,出入迎逆見來避坐,任力進上,勿以懈慢。如是比丘知,敬長老。比丘!能行是十一事者,於此法中種法律根栽枝葉滋茂,多所覆蔭清淨無垢。」
爾時,世尊以偈頌曰:
「有信精進學, 受食知節限,
恭敬於長老, 是行佛稱譽。
如此十一法, 比丘學是者,
晝夜定心意, 六年得羅漢。」
諸比丘聞佛所說,歡喜受行。
佛說放牛經


