Skip to content
-
Nam Mô A Di Đà Phật
Tàng Kinh Các

Sưu Tầm và Chia Sẻ Kinh Sách

Tàng Kinh Các

Sưu Tầm và Chia Sẻ Kinh Sách

  • Home
  • Kinh
    • Kinh Tạng Nam Truyền
      • kinh trường bộ
      • kinh trường bộ html
      • Kinh Trung Bộ
      • Kinh Tương Ưng Bộ
      • Kinh Tăng Chi Bộ
      • KInh Tiểu Bộ
      • Tạng Vi Diệu Pháp
      • Luật Tạng ( Nam Truyền )
      • Kinh Tạng Nam Truyền
        • KINH TẠNG NAM TRUYỀN (PALI TẠNG / NIKAYA)
        • Sơ Đồ Kinh Điển Tam Tạng Pāli (Tipiṭaka)
    • Linh Sơn Pháp Bảo Đại Tạng Kinh – Tạng Kinh Bắc Truyền
    • Càn Long Đại Tạng Kinh
    • TAM TẠNG THÁNH ĐIỂN PHẬT GIÁO VIỆT NAM
    • Đại Tạng Kinh Bắc Truyền Hán Tạng Việt Tạng
      • Bộ A Hàm – Tạng Kinh Bắc Truyền
      • Bộ Bản Duyên – Tạng Kinh Bắc Truyền
      • Bộ Bát Nhã – Tạng Kinh Bắc Truyền
      • Bộ Pháp Hoa – Tạng Kinh Bắc Truyền
      • Bộ Hoa Nghiêm – Tạng Kinh Bắc Truyền
      • Bộ Bảo Tích – Tạng Kinh Bắc Truyền
      • Bộ Niết Bàn – Tạng Kinh Bắc Truyền
      • Bộ Đại Tập – Tạng Kinh Bắc Truyền
      • Bộ Kinh Tập – Kinh Tạng Bắc Truyền
      • Bộ Mật Giáo – Tạng Kinh Bắc Truyền
      • Bộ Luật – Tạng Kinh Bắc Truyền
      • Bộ Thích Kinh Luận – Tạng Kinh Bắc Truyền
      • Bộ Tỳ Đàm – Tạng Kinh Bắc Truyền
      • Bộ Trung Quán Luận – Tạng Kinh Bắc Truyền
      • Bộ Du Già – Tạng Kinh Bắc Truyền
      • Bộ Luận Tập – Tạng Kinh Bắc Truyền
      •  Bộ Kinh Sớ – Tịnh Độ Tông – Tạng Kinh Bắc Truyền
      •  Bộ Kinh Sớ – Thiền Tông – Tạng Kinh Bắc Truyền
      • Bộ Luật Sớ – Tạng Kinh Bắc Truyền
      • Bộ Chư Tông – Tạng Kinh Bắc Truyền
      • Bộ Sử Truyện – Tạng Kinh Bắc Truyền
      • Bộ Sự Vị – Tạng Kinh Bắc Truyền
      • Bộ Ngoại Giáo – Tạng Kinh Bắc Truyền
      • Bộ Cổ Dật – Tạng Kinh Bắc Truyền
      • Bộ Nghi Tự – Tạng Kinh Bắc Truyền
      • Bộ Mục Lục – Tạng Kinh Bắc Truyền
  • Luật
  • Luận
  • Ebook – Mp3
  • Privacy Policy
  • Home
  • Kinh
    • Kinh Tạng Nam Truyền
      • kinh trường bộ
      • kinh trường bộ html
      • Kinh Trung Bộ
      • Kinh Tương Ưng Bộ
      • Kinh Tăng Chi Bộ
      • KInh Tiểu Bộ
      • Tạng Vi Diệu Pháp
      • Luật Tạng ( Nam Truyền )
      • Kinh Tạng Nam Truyền
        • KINH TẠNG NAM TRUYỀN (PALI TẠNG / NIKAYA)
        • Sơ Đồ Kinh Điển Tam Tạng Pāli (Tipiṭaka)
    • Linh Sơn Pháp Bảo Đại Tạng Kinh – Tạng Kinh Bắc Truyền
    • Càn Long Đại Tạng Kinh
    • TAM TẠNG THÁNH ĐIỂN PHẬT GIÁO VIỆT NAM
    • Đại Tạng Kinh Bắc Truyền Hán Tạng Việt Tạng
      • Bộ A Hàm – Tạng Kinh Bắc Truyền
      • Bộ Bản Duyên – Tạng Kinh Bắc Truyền
      • Bộ Bát Nhã – Tạng Kinh Bắc Truyền
      • Bộ Pháp Hoa – Tạng Kinh Bắc Truyền
      • Bộ Hoa Nghiêm – Tạng Kinh Bắc Truyền
      • Bộ Bảo Tích – Tạng Kinh Bắc Truyền
      • Bộ Niết Bàn – Tạng Kinh Bắc Truyền
      • Bộ Đại Tập – Tạng Kinh Bắc Truyền
      • Bộ Kinh Tập – Kinh Tạng Bắc Truyền
      • Bộ Mật Giáo – Tạng Kinh Bắc Truyền
      • Bộ Luật – Tạng Kinh Bắc Truyền
      • Bộ Thích Kinh Luận – Tạng Kinh Bắc Truyền
      • Bộ Tỳ Đàm – Tạng Kinh Bắc Truyền
      • Bộ Trung Quán Luận – Tạng Kinh Bắc Truyền
      • Bộ Du Già – Tạng Kinh Bắc Truyền
      • Bộ Luận Tập – Tạng Kinh Bắc Truyền
      •  Bộ Kinh Sớ – Tịnh Độ Tông – Tạng Kinh Bắc Truyền
      •  Bộ Kinh Sớ – Thiền Tông – Tạng Kinh Bắc Truyền
      • Bộ Luật Sớ – Tạng Kinh Bắc Truyền
      • Bộ Chư Tông – Tạng Kinh Bắc Truyền
      • Bộ Sử Truyện – Tạng Kinh Bắc Truyền
      • Bộ Sự Vị – Tạng Kinh Bắc Truyền
      • Bộ Ngoại Giáo – Tạng Kinh Bắc Truyền
      • Bộ Cổ Dật – Tạng Kinh Bắc Truyền
      • Bộ Nghi Tự – Tạng Kinh Bắc Truyền
      • Bộ Mục Lục – Tạng Kinh Bắc Truyền
  • Luật
  • Luận
  • Ebook – Mp3
  • Privacy Policy
Close

Search

Home/Kinh Tạng Bắc Truyền/Bộ A Hàm/Thất Phật Kinh [七佛經] – Bộ A Hàm
Thất Phật Kinh
Bộ A Hàm

Thất Phật Kinh [七佛經] – Bộ A Hàm

By admin
21 Min Read
Comments Off on Thất Phật Kinh [七佛經] – Bộ A Hàm

Thất Phật Kinh
[七佛經]

Nguyên bản Hán văn – Bản khắc Càn long – Vĩnh Lạc Đại Điển – CBETA

Bản chia sẻ của CBETa

Thất Phật Kinh
[七佛經]

  thuộc tập T01, kinh số 2, tổng cộng 1 quyển, – Tống Pháp Thiên dịch

Thất Phật Kinh [七佛經]Download
Nguyên Bản Chữ Hán

Thất Phật Kinh
[七佛經]

( Bản khắc gỗ Càn long và Vĩnh Lạc Đại Điển )

Bản Khắc Càn Long

Thất Phật Kinh [七佛經] (1)Download

Vĩnh Lạc Đại Điển

Thất Phật Kinh [七佛經] (2)Download

Bản Dịch Tiếng Việt

Bộ A Hàm

Linh sơn pháp bảo đại tạng kinh

Thất Phật Kinh
[七佛經]

  thuộc tập T01, kinh số 2, tổng cộng 1 quyển, – Tống Pháp Thiên dịch

Thất Phật Kinh
Thất Phật Kinh [七佛經]

Kinh Thất Phật

Việt dịch: Thích Tâm Hạnh

Tôi nghe như vầy:
Một thời Phật ở nước Xá-vệ, rừng cây Kỳ-đà, vườn Cấp Cô Độc [2].
Bấy giờ, có chúng đại Bí-sô[3] khi ôm bát ăn[4], đến đạo tràng Ca-lý-lê, cùng nhau ngồi suy nghĩ[5]:
“Trong thời quá khứ có đức Phật nào xuất hiện? Giòng họ, danh hiệu, tuổi thọ ngắn dài của các vị ấy như thế nào?”
Sau khi suy nghĩ như vậy, họ hỏi nhau nhưng vẫn không thể biết được.
Bấy giờ, đức Thế Tôn biết các Bí-sô này suy nghĩ sự việc ấy. Ngài rời chỗ ngồi, đến đạo tràng Ca-lý-lê, ngồi kiết già.
Các Bí-sô cúi đầu lạy sát chân Phật, rồi đứng qua một bên, chắp tay cung kính, nhất tâm chiêm ngưỡng Phật.
Thế Tôn hỏi:
“Này các Bí-sô! Các Thầy đang nghĩ về chuyện gì?”
Bí-sô thưa:
“Chúng con suy nghĩ: Trong thời quá khứ có vị Phật nào ra đời, với dòng họ, danh hiệu, tuổi thọ ngắn dài như thế nào, nhưng không ai biết được.”
Phật hỏi các Bí sô:
“Các Thầy muốn biết không?”
Các Bí sô thưa:
“Nay đã đúng lúc, ngưỡng mong Thế Tôn dạy cho chúng con.”
Phật dạy:
“Các Thầy lắng nghe! Ta sẽ nói về việc đó.
“Thời quá khứ, cách đây chín mươi mốt kiếp có Phật Tỳ-bà-thi, là bậc Ứng cúng, Chánh đẳng chánh giác xuất hiện ở thế gian.
“Cách đây ba mươi mốt kiếp, có Phật Thi-khí, Phật Tỳ-xá-phù[6], là bậc Ứng cúng, Chánh đẳng giác xuất hiện ở thế gian.
“Vào kiếp thứ sáu trong hiền kiếp có Phật Câu-lưu-tôn, là bậc Ứng cúng, Chánh đẳng giác xuất hiện ở thế gian.
“Vào kiếp thứ bảy, có Phật Câu-na-hàm Mâu-ni, là bậc Ứng cúng, Chánh đẳng giác xuất hiện ở thế gian.
“Vào kiếp thứ tám, có Phật Ca-diếp-ba[7], là bậc Ứng cúng, Chánh đẳng giác xuất hiện trong thế gian.
“Vào kiếp thứ chín, Ta là Phật Thích-ca Mâu-ni, xuất hiện ở thế gian, là bậc Ứng cúng, Chánh đẳng giác.
“Trong kiếp quá khứ, Phật Tỳ-bà-thi, Phật Thi-khí, Phật Tỳ-xá-phù giảng dạy thi-la[8], là giới luật thanh tịnh, và công hạnh để thành tựu trí tuệ tối thượng.
“Trong hiền kiếp, Phật Câu-lưu-tôn, Phật Câu-na-hàm Mâu-ni, Phật Ca-diếp-ba, cũng giảng dạy luật nghi thanh tịnh và pháp thiền định giải thoát. Pháp của Ta giảng dạy cũng như vậy.
“Này các Bí-sô! Phật Tỳ-bà-thi, thời quá khứ, thuộc giòng Sát-đế-lị, phát tâm tịnh tín, mà xuất gia, thành đạo Chánh giác. Phật Thi-khí, Phật Tỳ-xá-phù cũng thuộc giòng Sát-đế-lị. Phật Câu-lưu-tôn, Phật Câu-na-hàm Mâu-ni, Phật Ca-diếp thuộc giòng Bà-la-môn. Ta sinh trong cung vua Tịnh Phạn, dòng Sát-đế-lợi.”
Bấy giờ, để trùng tuyên ý nghĩa này, Thế Tôn bèn nói bài kệ:


Ta nói đời quá khứ,
Vào kiếp chín mươi mốt;
Có Phật Tỳ-bà-thi,
Xuất hiện trong thế gian.
Trong kiếp ba mươi mốt,
Thi Khí, Tỳ-xá-phù;
Bậc Chánh đẳng giác ấy,
Thuộc giòng Sát-đế-lị.
Như Lai Câu-lưu-tôn,
Câu-na-hàm, Ca-diếp;
Cả ba Thế Tôn này,
Đều thuộc Bà-la-môn.
Ta ở cõi Diêm-phù,
Con đức vua Tịnh Phạn;
Tu giác ngộ thành Phật,
Thuộc giòng Sát đế lị.


Thế Tôn nói kệ xong, bảo các Bí-sô:
“Các Thầy hãy lắng nghe: Ta lại nói về tộc họ của bảy Phật, Như Lai, Ứng cúng, Chánh đẳng giác. Phật Tỳ-bà-thi, Phật Thi-khí, Phật Tỳ-xá-phù, thuộc họ Kiều-trần[9]. Phật Câu-lưu-tôn, Phật Câu-na-hàm Mâu-ni, Phật Ca-diếp-ba, thuộc họ Ca-diếp. Thích-ca Như Lai thuộc họ Cù-đàm.”
Thế Tôn lặp lại bằng kệ:


Như Lai Tỳ-bà-thi,
Thi-khí, Tỳ-xá-phù;
Cả ba vị Phật này,
Đều mang họ Kiều-trần.
Như Lai Câu-lưu-tôn,
Câu-na-hàm, Ca-diếp;
Cả ba vị Phật này,
Đều mang họ Ca-diếp.
Ta ở cõi Diêm-phù,
Sinh trong cung Tịnh Phạn;
Nên mang họ Cù-đàm,
Xuất gia chứng Bồ-đề.


Thế Tôn nói kệ xong, bảo chúng Bí-sô:


“Các Thầy lắng nghe! Ta nói về tuổi thọ dài ngắn của bảy Phật Như Lai, Ứng cúng, Chánh đẳng giác.
“Phật Tỳ-bà-thi, Ứng cúng, Chánh đẳng giác xuất hiện trong thế gian, sống tám vạn tuổi. Phật Thi-khí, Ứng cúng, Chánh đẳng giác, xuất hiện trong thế gian, sống bảy vạn tuổi. Phật Tỳ-xá-phù, Ứng cúng, Chánh đẳng giác xuất hiện trong thế gian, sống sáu vạn tuổi. Phật Câu-lưu-tôn, Ứng cúng, Chánh đẳng giác, xuất hiện trong thế gian, sống bốn vạn tuổi. Phật Câu-na-hàm Mâu-ni, Ứng cúng, Chánh đẳng giác, xuất hiện trong thế gian, sống ba vạn tuổi. Phật Ca-diếp-ba, Ứng cúng, Chánh đẳng giác xuất hiện trong thế gian, sống hai vạn tuổi. Ta hóa độ chúng sanh trong đời năm trược, sống một trăm tuổi.”


Thế Tôn lặp lại bằng kệ:


Như Lai Tỳ-bà-thi,
Thi-khí, Tỳ-xá-phù;
Đức Phật Câu-lưu-tôn,
Câu-na-hàm, Ca-diếp.
Chư Phật khi ra đời,
Đều theo tuổi thọ người;
Tám vạn rồi bảy vạn,
Sáu vạn xuống bốn vạn.
Ba vạn đến hai vạn,
Phật Thích-ca cũng vậy;
Xuất hiện, đời năm trược,
Loài người thọ trăm tuổi[10].


Thế Tôn nói kệ xong, bảo các Bí-sô:


“Các Thầy lắng nghe! Nay Ta nói về tên, danh hiệu cha mẹ, quốc gia, thành phố của bảy vị Phật Như Lai.”
“Phụ vương của Phật Ty-bà-thi tên là Mãn-độ-ma[11], mẹ tên Mãn-độ-ma, kinh thành cũng tên Mãn-độ-ma.
“Phụ vương Thi-khí Như Lai tên A-rô-noa[12], mẹ cũng tên A-rô-noa; kinh thành tên A-rô-phược-đế[13].
“Phụ vương Tỳ-xá-phù Như Lai tên Tô-bát-la-để-đô, mẹ tên Bát-la-bà-phược-để, kinh thành tên A-nỗ-bát-ma[14].
“Cha của Phật Câu-lưu-tôn tên Dã-nghê-dã-na-đa, hiệu Sát-mô-sát-ma, mẹ tên Vĩ-xá-khư, kinh thành tên Sát-ma[15].
“Cha của Phật Câu-na-hàm Mâu-ni tên Dã-nghê-dã-na-đỗ, mẹ tên Ô-đa-la; vua hiệu Thâu-bộ, kinh thành tên Thâu-bà-phược-đế[16].
“Cha của Ca-diếp Như Lai tên Tô-một-ra-hạ-ma, mẹ tên Một-ra-hạ-ma-ngu-bát-đa; vua hiệu Ngật-lý-kế, kinh thành tên Ba-la-nại[17].
“Nay, Ta bậc Ứng cúng, Chánh đẳng giác, phụ vương ta tên Tịnh Phạn, mẹ tên Ma-ha-ma-da; kinh thành tên Ca-tỳ-la.”


Thế Tôn lặp lại bằng kệ:


Bản sinh của chư Phật,
Tỳ-bà-thi Như Lai;
Cha tên Mãn-độ-ma,
Mẹ Mãn-độ-ma-đế.
Kinh đô thành quách lớn,
Cũng tên Mãn độ ma;
Lúc đó nước ấy giàu,
Nhân dân sống an lạc.
Phật Thi-khí Thế Tôn,
Phụ vương A-rô-noa;
A-rô-noa-phược-đế,
Là tên của mẹ Phật.
Thành ngài ở cùng tên,
A-lỗ-phược-đế;
Nhân dân sống phồn thịnh,
Giàu có thường an ổn.
Tỳ-xá-phù Như Lai,
Phụ vương và mẹ tên;
Tô-bát-ra-đế-đô,
Bát-ra-bà-phược-đế.
Kinh thành của nước ấy,
Tên A-nỗ-bà-ma.
Thời đó sống an ổn,
Không có các tai hại.
Thế Tôn Câu-lưu-tôn,
Tên thân phụ của ngài;
Dã-nghê-dã-na-đa,
Mẹ tên Vĩ-xá-khư.
Vua Sát-mô-sát-ma;
Kinh thành tên Sát-ma;
Nhân dân sống thời ấy,
Tôn trọng điều hiền thiện.
Câu-na-hàm-mâu-ni,
Dã-nghê-dã-na-đổ,
Là tên cha của ngài;
Mẹ tên Ô-đa-ra.
Quốc vương hiệu Thâu-bộ,
Thành Thâu-bà-phược-đế;
Cao rộng thật tráng lệ;
Chúng sanh không cực nhọc.
Cha Phật Ca-diếp-ba,
Tô-một-ra-hạ-ma;
Mẹ tên gọi Một-ra,
Hạ-ma-ngu-bát-đa.
Quốc vương Ngật-lý-kế,
Thành đô Ba-la-nại;
Chúng sanh trong thành ấy,
Ngày đêm sống an ổn.
Nay chỗ sinh của Ta,
Phụ vương hiệu Tịnh Phạn;
Mẹ Ma-ha Ma-da,
Thành tên Ca-tỳ-la.
Như trên phân biệt rõ,
Tên cha mẹ, nước, thành;
Của bảy Phật Như Lai,
Chánh đẳng giác như vậy.


Thế Tôn nói kệ xong, bảo các Bí-sô:


“Các Thầy lắng nghe! Ta nói về đệ tử Thanh văn của bảy vị Phật Như Lai. Đệ tử đại trí của Tỳ-bà-thi Như Lai, Ứng cúng, Chánh đẳng giác, tên Khiếm-noa-để-tả[18], là bậc đệ nhất trong chúng Thanh văn.
“Đệ tử đại trí của Thi-khí Như Lai, Ứng cúng, Chánh đẳng giác, tên Bộ-tam-bà-phược[19], là bậc đệ nhất trong chúng Thanh văn.
“Đệ tử đại trí của Tỳ-xá-phù Như Lai, Ứng cúng, Chánh đẳng giác, tên Dã-tâu-đa-la[20], là bậc đệ nhất trong chúng Thanh văn.
“Đệ tử đại trí của Câu-lưu-tôn Như Lai, Ứng cúng, Chánh đẳng giác, tên Tán-nhĩ-phược[21], là bậc đệ nhất trong chúng Thanh văn.
“Đệ tử đại trí của Câu-na-hàm Mâu-ni Như Lai, Ứng cúng, Chánh đẳng giác, tên Tô-rô-nỗ-đa-la[22], là bậc đệ nhất trong chúng Thanh văn.
“Đệ tử đại trí của Ca-diếp-ba Như Lai, Ứng cúng, Chánh đẳng giác, tên Bà-ra-đặc-phược-nhạ[23], là bậc đệ nhất trong chúng Thanh văn.
“Ta, bậc Ứng cúng, Chánh đẳng giác, có đệ tử đại trí tên Xá-lợi-phất[24] là bậc đệ nhất trong chúng Thanh văn.”


Thế Tôn lặp lại bằng kệ:


Tỳ-bà-thi Như Lai,
Có đệ tử đại trí,
Tên Khiếm-noa-để-tả.
Phật Thi-khí Thế Tôn,
Có đệ tử đại trí,
Tên Bộ-tam-bà-phược.
Tỳ-xá-phù Như Lai,
Có đệ tử đại trí,
Tên Dã-thâu-đa-ra.
Câu-lưu-tôn Như Lai,
Có đệ tử đại trí,
Tên là Tán-nhĩ-phược.
Câu-na-hàm Mâu-ni,
Có đệ tử đại trí,
Tô-rô-noa-đa-ra.
Phật Thế Tôn Ca-diếp,
Có đệ tử đại trí,
Bà-ra-đặc-phược-nhạ.
Nay Ta, Ứng Chánh giác,
Có đệ tử đại trí,
Tên là Xá-lợi-phất.
Bảy vị Phật tử ấy,
Đều đệ nhất đại trí,
Ở trong chúng Thanh văn.


Thế Tôn nói kệ xong, bảo các Bí-sô:


“Các Thầy lắng nghe! Ta nói về đệ tử thị giả của bảy vị Phật Như Lai.
“Thị giả của Tỳ-bà-thi Như Lai, Ứng cúng, Chánh đẳng giác tên A-thâu-ca[25].
“Thị giả của Thi-khí Như Lai, Ứng cúng, Chánh đẳng giác tên Sát-ma-ca-rô[26].
“Thị giả của Phật Tỳ-xá-phù, Ứng cúng, Chánh đẳng giác, tên Ô-ba-phiến-đổ[27].
“Thị giả của Phật Câu-lưu-tôn, Ứng cúng, Chánh đẳng giác, tên Một-đề-du[28].
“Thị giả của Phật Câu-na-hàm Mâu-ni, Ứng cúng, Chánh đẳng giác, tên To-rô-đế-lý-dã[29].
“Thị giả của Ca-diếp Như Lai, Ứng cúng, Chánh đẳng giác, tên Tát-lý-phược mật-đát-la[30].
“Nay Ta, bậc Ứng cúng, Chánh đẳng giác, có thị giả tên A-nan-đà[31].”


Thế Tôn lặp lại bằng kệ:


Phật tử A-du-ca,
Và Sát-ma-ca-rô;
Với Ô-ba-phiến-đổ,
Tôn giả Một-đề-du.
Tô-rô-đế-lý-dã,
Tát-phược-mật-đát-ra;
Bí-sô A-nan-đà,
Đều là thị giả Phật.
Thường hành tâm từ bi,
Thành tựu được chánh định;
Thông đạt các pháp tướng,
Đầy đủ đại trí tuệ.
Đa văn lại thông minh,
Là bậc Thầy đại pháp;
Đệ nhất ở trong chúng;
Danh tiếng khắp mười phương,
Trời người đều quy kính;
Sức tinh tấn kiên cố;
Đoạn sạch các phiền não.
Chứng quả không sinh diệt.
Thị giả Phật Thế Tôn,
Tự thân thường được lợi;
Thành tựu chơn Phật tử,
Của chư Phật là vậy.


Thế Tôn nói kệ xong, bảo chúng Bí sô:


“Các Thầy lắng nghe! Ta nói về chúng Thanh văn do bảy Phật Như Lai hóa độ.
“Hội thuyết pháp thứ nhất của Tỳ-bà-thi Như Lai có sáu vạn hai ngàn Bí-sô đắc quả A-la-hán; hội thuyết pháp thứ hai có mười vạn Bí-sô đắc quả A-la-hán; hội thuyết pháp thứ ba có bảy vạn Bí-sô đắc quả A-la-hán.
“Hội thuyết pháp thứ nhất của Thi-khí Như Lai có mười vạn Bí-sô đắc quả A-la-hán; hội thuyết pháp thứ hai có tám mươi ức Bí-sô đắc quả A-la-hán; hội thuyết pháp thứ ba có bảy vạn Bí-sô đắc quả A-la-hán.
“Hội thuyết pháp thứ nhất của Tỳ-xá-phù Như Lai có tám vạn Bí-sô đắc quả A-la-hán; hội thuyết pháp thứ hai có bảy vạn Bí-sô đắc quả A-la-hán; hội thuyết pháp thứ ba có sáu vạn Bí-sô đắc quả A-la-hán.
“Câu-lưu-tôn Như Lai thuyết pháp một hội có bốn vạn Bí-sô đắc quả A-la-hán.
“Phật Câu-na-hàm Mâu-ni thuyết pháp một hội có ba vạn Bí-sô đắc quả A-la-hán.
“Phật Ca-diếp thuyết pháp một hội có hai vạn Bí-sô đắc quả A-la-hán.
“Hiện nay, Ta thuyết pháp một hội có một ngàn hai trăm năm mươi Bí-sô đắc quả A-la-hán.”


Thế Tôn lập lại bằng kệ:


Tỳ-bà-thi Như Lai,
Thi-khí, Tỳ-xá-phù,
Thế Tôn Câu-lưu-tôn,
Câu-na-hàm, Ca-diếp,
Và Thích-ca Mâu-ni.
Khi chư Phật ra đời,
Chúng Thanh văn được độ,
Số có bảy mươi ức,
Chín vạn thêm ba ngàn,
Hai trăm năm mươi người,
Đều chứng A-la-hán,
Không tái sinh đời sau.


Thế Tôn nói kệ xong, bảo các Bí-sô:


“Các Thầy lắng nghe! Phật Tỳ-bà-thi, Phật Thi-khí, Phật Tỳ-xá-phù, cho đến, nay Ta xuất hiện ở thế gian, trụ trì giáo hóa, nêu giảng giáo pháp, giáo hóa, dẫn dắt các hữu tình, về giới hạnh luật nghi, thọ trì y bát, cầu chứng Bồ-đề, không có pháp nào sai khác nhau cả.”


Thế Tôn nói kệ:


Kiếp quá khứ đến nay,
Tỳ-bà-thi các Phật;
Chúng Bí-sô được độ,
Thành tựu đại trí tuệ.
Dốc tu nơi Chánh đạo,
Các phần pháp Bồ-đề;
Năm căn và năm lực,
Bốn niệm, bốn thần túc.
Bảy giác, tám thánh đạo,
Cùng với Tam-ma-địa;
Các căn được tịch tĩnh,
Thông đạt nơi pháp tạng.
Khai ngộ các quần sinh,
Tuệ mạng được tăng trưởng;
Trong hiền kiếp như vậy,
Thật là chưa từng có.
Phật dùng trí đại bi,
Tự giác và giác tha;
Đại thần thông uy đức,
Được nêu bày như vậy.


Thế Tôn nói kệ xong, cùng các Bí-sô rời chỗ ngồi, trở về vườn Cấp Cô Độc.


Qua đêm ấy, đến sáng sớm hôm sau, các chúng Bí-sô rời thất của mình, đi đến đạo tràng Ca-lý-lê. Họ hỏi nhau về việc các đức Như Lai trong thời gian quá khứ nhập đại Niết-bàn, xa lìa hý luận, đoạn trừ hẳn luân hồi, không còn lỗi lầm. Bậc đại trượng phu như vậy, có đại trí tuệ như vậy, trì giới như vậy, thiền định như vậy, giải thoát như vậy, uy đức như vậy, chủng tộc như vậy, giáng thế lợi sinh, thật ít có, không thể nghĩ bàn.

Thế Tôn biết ý nghĩ của các Bí-sô, bèn từ chỗ ngồi đứng dậy, đi đến đạo tràng Ca-lý-lê, ngồi kiết già, hỏi chúng Bí-sô:
“Các Thầy bàn luận về việc gì?”
Các Bí-sô bạch:


“Chúng con nghe nói Đức Như Lai trong quá khứ nhập đại Niết-bàn, xa lìa các hý luận, cắt đứt luân hồi, không còn lỗi lầm. Bậc đại trượng phu như vậy, có trí tuệ như vậy, trì giới như vậy, thiền định như vậy, giải thoát như vậy, uy đức như vậy, chủng tộc như vậy, giáng thế lợi sinh, rất là ít có, không thể nghĩ bàn.”


Phật hỏi:
“Này các Bí-sô! Tại sao các Thầy nói những điều như thế?”
Bí-sô bạch Phật:
“Phật có pháp giới thanh tịnh, chứng Chân giác trí, hiểu biết tất cả, ngưỡng mong giảng giải.”
Phật dạy:


“Này các Bí-sô! Các Thầy lắng nghe, Ta sẽ nói về việc ấy.
“Vào thời quá khứ, có quốc vương lớn hiệu Mãn-độ-ma; Vương phi của vua tên Mãn-độ-ma-đế. Khi ấy, Phật Tỳ-bà-thi từ cung trời Đâu-suất giáng sinh xuống cõi Diêm-phù, nhập vào bụng mẹ, an trú trong thai, phóng ra ánh sáng chiếu khắp các cõi trong thế gian, không còn chỗ tối tăm, đến cả các cảnh giới ác, địa ngục, nơi ánh sáng mặt trời mặt trăng không thể chiếu tới. Ánh sáng của Phật đến đâu, nơi ấy bỗng sáng rực lên. Hữu tình ở những nơi ấy được trông thấy nhau, liền lên tiếng: Tại sao ở đây lại có chúng sanh khác?”


Thế Tôn nói kệ:


Bồ-tát từ Đâu-suất,
Khi xuống cõi Diêm-phù;
Như mây bay gió thổi,
Nhanh chóng vào thai mẹ.
Thân phóng ánh sáng lớn,
Chiếu rực cõi trời người;
Địa ngục núi Thiết vi,
Đều không còn tối tăm.
Tất cả chúng đại tiên,
Các cảnh giới cõi Phật;
Đều tập hợp nhau lại,
Hộ vệ thân mẹ ngài.


Thế Tôn nói kệ xong, bảo chúng Bí-sô:
“Các thầy lắng nghe. Khi Đại Bồ-tát ấy từ trời Đâu-suất giáng sinh xuống Diêm-phù, vào thai mẹ, Dạ-xoa Bộ-ma lớn tiếng tuyên bố: Vị Đại Bồ-tát có uy đức lớn, bậc đại trượng phu này, bỏ thân Trời, thân A-tu-la, ở trong thai mẹ để thọ thân người. Lần lượt trời Tứ thiên vương, trời Đao-lợi, trời Dạ-ma cho đến các cõi trời Phạm phụ v.v… nghe lời này, đồng xướng lên: Bồ tát giáng thần ở trong thai mẹ, tất cả phải vân tập đến.”
Thế Tôn nói kệ:


Bồ-tát từ Đâu-suất,
Khi giáng thần thai mẹ;
Đại Dạ-xoa Bộ-ma,
Tuyên bố: đức Bồ-tát.
Từ bỏ thân cõi trời,
Và thân A-tu-la;
An trú trong thai mẹ,
Để thọ báo thân người.
Tứ thiên, Đao-lợi thiên,
Dạ-ma và Đâu-suất;
Cho đến cõi Phạm thiên,
Đều nghe rõ việc này.
Bồ-tát xuống nhân gian,
Thân sắc vàng vi diệu;
Chư Thiên đều tập hợp,
Tâm ý rất vui mừng.


Thế Tôn nói kệ xong, bảo các Bí-sô:


“Các Thầy lắng nghe: Khi Đại Bồ-tát ấy từ trời Đâu-suất giáng sinh xuống Diêm-phù, có bốn Đại thiên tử đầy đủ uy đức, thân mặc áo giáp, tay cầm cung đao, hộ vệ Bồ-tát, loài người và phi nhân đều không thể gây tổn hại.”
Thế Tôn lặp lại bằng kệ:


Khi Bồ-tát giáng sinh,
Đế Thích, trời Đao-lợi;
Sai Tứ đại thiên vương,
Đều đủ đại uy lực.
Thân mang áo giáp vàng,
Tay cầm cung đao thương,
Luôn luôn hộ vệ ngài;
Loài La-sát, phi nhân.
Không dám gây não hại,
Ngài an trú thai mẹ;
Như ở cung điện lớn,
Thường thọ các diệu lạc.


Thế Tôn nói kệ xong, bảo chúng Bí-sô:
“Các Thầy lắng nghe! Khi Đại Bồ-tát ấy từ cõi trời Đâu-suất giáng sinh xuống cõi Diêm-phù, ở trong thai mẹ; thân ngài thanh tịnh tỏa ánh sáng rực rỡ như ngọc Ma-ni; tâm ý mẹ ngài an vui không có phiền não.”
Thế Tôn nói kệ:


Bồ-tát ở trong thai,
Thanh tịnh không vết nhiễm;
Trong sáng như lưu-ly,
Quý báu như Ma-ni.
Ánh sáng chiếu thế gian,
Như mặt trời không mây;
Thành tựu đệ nhất nghĩa,
Xuất sinh trí tối thượng.
Khiến mẹ không ưu não,
Thường làm các việc thiện;
Hữu tình đều quy ngưỡng,
Ngự ngôi Sát-đế-lợi.


Thế Tôn nói kệ xong, bảo các Bí-sô:
“Các Thầy lắng nghe! Khi Đại Bồ-tát ấy từ trời Đâu-suất giáng sinh xuống cõi Diêm-phù, ở trong thai mẹ; chưa từng nghe người mẹ có dục nhiễm và tham đắm năm trần, sắc v.v…”
Thế Tôn nói kệ:


Bồ-tát ở trong thai,
Khiến tâm mẹ thanh tịnh;
Không nghe tên nhiễm ô,
Xa lìa tội năm dục.
Đoạn trừ gốc tham ái,
Không có các khổ não;
Thân tâm thường an ổn,
Luôn luôn được an lạc.


Thế Tôn nói kệ xong, bảo chúng Bí-sô:


“Các Thầy lắng nghe! Khi Đại Bồ-tát ấy từ trời Đâu-suất giáng sinh xuống cõi Diêm-phù ở trong thai mẹ; người mẹ tự thọ trì năm giới cận sự. Một, không sát sanh. Hai, không trộm cắp. Ba, không dâm dục. Bốn, không nói dối. Năm, không uống rượu. Mẹ Bồ tát sinh ngài nơi hông bên phải. Sau đó mệnh chung, sinh lên cõi trời.”
Thế Tôn nói kệ:


Bồ tát ở trong thai,
Mẹ ngài giữ năm giới;
Hông phải sinh đồng tử,
Khi sinh không khổ não.
Cũng như trời Đế Thích,
Thọ năm dục vi diệu;
Sau đó, khi mạng chung,
Liền sanh lên cõi trời.


Thế Tôn nói kệ xong, bảo chúng Bí-sô:


“Các Thầy lắng nghe! Khi Đại Bồ-tát ấy sinh ra nơi hông phải mẹ, quả đất chấn động. Thân ngài màu sắc như vàng ròng không có uế nhiễm, phóng ánh sáng lớn chiếu khắp tất cả cảnh giới trong thế gian. Những cảnh giới ác, nơi tối tăm như địa ngục bỗng nhiên sáng rực. Những chúng sanh nơi đó cũng trông thấy nhau. Tất cả đều như ngỡ ngàng nói: Tại sao nơi đây lại có chúng sanh khác?”
Thế Tôn nói kệ:


Khi Bồ tát giáng sinh,
Cả quả đất chuyển động;
Thân thể như vàng ròng,
Không nhiễm những trần cấu.
Đại thần thông, uy đức,
Chiếu sáng khắp nơi nơi;
Chúng sinh nơi tối tăm,
Đều được nhìn thấy nhau.


Thế Tôn nói kệ xong, bảo chúng Bí-sô:


“Các Thầy lắng nghe! Khi Đại Bồ-tát ấy sinh ra nơi hông bên phải, mẹ ngài không mệt nhọc, không ngồi không nằm. Bồ-tát với đại uy đức của bậc đại trượng phu, tâm không mờ tối, chân không đạp đất, có bốn Đại Thiên vương đỡ thân đồng tử.”


Thế Tôn nói kệ:


Khi Bồ-tát giáng sinh,
Tâm mẹ không tán loạn;
Không ngồi cũng không nằm,
Tự tại và vui thích.
Uy đức đại trượng phu,
Tâm lìa các ám muội;
Tứ thiên bồng chân ngài,
Chân ngài không đụng đất.


Thế Tôn nói kệ xong, bảo chúng Bí-sô:


“Các Thầy lắng nghe! Khi Đại Bồ-tát ấy sinh ra nơi hông bên phải, thân thể ngài thanh tịnh như ngọc lưu-ly quí báu không bị dính những vật bất tịnh như máu, mủ, nước dãi. Cũng như ngọc Ma-ni, như y phục của trời Kiều-thi-ca, tất cả bụi bặm không thể dính vào.”


Thế Tôn nói kệ:


Khi Bồ-tát giáng sinh,
Thân thể ngài thanh tịnh;
Xa lìa những bất tịnh,
Như máu mủ nước dãi.
Như y phục vua trời,
Như ngọc quí Ma-ni;
Tâm sạch thân sáng rực,
Bụi bặm không dính được.


Thế Tôn nói kệ xong, bảo chúng Bí-sô:


“Các Thầy lắng nghe! Khi Đại Bồ-tát ấy sinh ra nơi hông bên phải, có hai vị Thiên tử từ trên hư không, tuôn hai vòi nước một mát, một ấm để tắm rửa đồng tử.”


Thế Tôn nói kệ:


Khi Bồ-tát giáng sinh,
Hai vị trời trên không;
Tắm rửa thân đồng tử,
Bằng hai vòi nước sạch.
Ấm, mát cho thích nghi,
Biểu thị tròn phước tuệ;
Thành tựu đại vô uý,
Xem khắp cả chúng sinh.


Thế Tôn nói kệ xong, bảo chúng Bí sô:
“Các Thầy lắng nghe! Khi Đại Bồ-tát ấy sinh ra nơi hông bên phải; ngài đủ ba mươi hai tướng, hình dáng đoan nghiêm, mắt thanh tịnh thấy xa mười do-tuần.”
Thế Tôn nói kệ:


Khi Bồ-tát giáng sinh,
Các tướng đều đầy đủ;
Mắt trong lại đoan nghiêm,
Thấy xa mười do-tuần.


Thế Tôn nói kệ xong, bảo chúng Bí-sô:


“Các Thầy lắng nghe! Khi Đại Bồ-tát ấy sinh ra nơi hông bên phải, nhìn đến cõi trời Đao-lợi. Thiên đế Thích cũng thấy đồng tử này chính là thân Phật, liền cầm lọng trắng che thân đồng tử. Lạnh nóng gió bụi, tất cả các vật xấu không xâm phạm được.”


Thế Tôn nói kệ:


Khi Bồ-tát mới sinh,
Nhìn xa hơn Đao-lợi;
Đế Thích cũng thấy ngài,
Vội cầm lọng trắng lớn.
Đến che thân cho ngài,
Lạnh nóng gió bụi nắng;
Và các thứ độc hại,
Không thể xâm phạm được.


Thế Tôn nói kệ xong, bảo chúng Bí-sô:


“Các Thầy lắng nghe! Khi Đại Bồ-tát ấy sinh ra nơi hông bên phải, mẫu hậu, nhũ mẫu và dưỡng mẫu cùng các cung nhân vây quanh để giữ gìn, che chở, tắm rửa, xoa chất thơm, hầu hạ ngài chu toàn.”
Thế Tôn nói kệ:


Khi đồng tử mới sinh,
Ba người mẹ nuôi dưỡng;
Cùng với các cung nhân,
Thường vây quanh bên ngài.
Tắm rửa xoa hương thơm,
Khiến ngài luôn an ổn;
Hầu cận suốt ngày đêm,
Không lúc nào rời ngài


Thế Tôn nói kệ xong, bảo chúng Bí-sô:
“Các Thầy lắng nghe! Khi Đại Bồ-tát ấy sinh ra nơi hông bên phải, hình dáng ngài đoan nghiêm đủ ba mươi hai tướng. Vua Mãn-độ-ma liền triệu vị thầy xem tướng đến xem tướng cho đồng tử. Vị Bà-la-môn ấy tâu: Nếu Ngài sống tại gia thì thọ pháp Quán đỉnh, giữ ngôi vị Chuyển luân vương, làm chủ cả thiên hạ, đủ ngàn người con uy đức không sợ hãi. Hàng phục các quân đội khác mà không cần đến binh đao cung kiếm. Nếu Ngài xuất gia tu hành chắc chắn thành bậc Chánh đẳng giác.”


Thế Tôn nói kệ:


Tướng sư Bà-la-môn,
Xem tướng đồng tử này;
Tâu với vua cha rằng,
Bậc đủ ba hai tướng.
Như trăng giữa muôn sao,
Ít có trong thế gian;
Nếu ngài ở cung điện,
Tất làm vua Chuyển luân.
Thống lĩnh cả bốn châu,
Sinh một ngàn Thái tử;
Nếu xuất gia tu hành,
Liền chứng Vô thượng giác.


Thế Tôn nói kệ xong, bảo chúng Bí-sô:


“Các Thầy lắng nghe! Khi Đại Bồ-tát ấy sinh ra nơi hông bên phải, thân ngài màu vàng ròng, tướng mạo đoan nghiêm, như hoa sen mọc trong nước không dính bụi trần. Tất cả mọi loài chiêm ngưỡng ngài không chán. Âm thanh ngài nói ra dịu dàng nhỏ nhẹ thanh nhã lưu loát, như chim Ca-vĩ-la ở Tuyết sơn. Chim này rất thích ăn hoa, hót lên giọng thanh nhã dịu dàng. Chúng sinh nghe tiếng hót đều ưa thích. Âm thanh ngôn ngữ của đồng tử cũng vậy.”


Thế Tôn nói kệ:


Đồng tử lúc mới sinh,
Thân thể màu vàng ròng;
Cũng như hoa sen hồng,
Bụi trần không dính được.
Tiếng nói ngài thanh nhã,
Như tiếng chim ca-vĩ;
Mọi người khi được nghe,
Ưa thích không biết chán.


Thế Tôn nói kệ xong, bảo chúng Bí-sô:


“Các Thầy lắng nghe! Khi Đại Bồ-tát ấy còn là đồng tử đã xa lìa gian tà dối trá, tâm ý thuần chính, tự giác giác tha thường hành chánh pháp. Mọi người đều tôn trọng phục vụ như Thiên đế Thích tôn kính cha mẹ. Do đó, ngài tên là Tỳ-bà-thi.”


Thế Tôn nói kệ:


Tỳ-bà-thi Như Lai,
Khi còn là đồng tử;
Thông minh đại trí tuệ,
Xa lìa sự dối trá.
Tự giác và giác tha,
Tu tập theo chính pháp;
Mọi người thường ái kính,
Như vị trời Đế Thích.
Kính phụng dưỡng cha mẹ,
Danh tiếng khắp thế gian;
Nên hiệu Tỳ-bà-thi,
Lợi ích cho chúng sanh.


Chú thích:
[1]. Bản Hán: Phật thuyết thất Phật kinh, Tống Pháp Thiên dịch (Đại I, No. 2 , trang 150a-154b). Tham chiếu: Phật thuyết Trường A-hàm kinh, Hậu Tần Hoằng Thỉ Phật-đà-da-xá cọng Trúc Phật Niệm dịch, ” Đệ nhất phẩm sơ đại bản kinh đệ nhất,” Đại I, No. 1(1), trang 1b-10c.
[2]. No. 2: Kỳ thọ Cấp cô độc viên 祇 樹 給 孤 獨 園 rừng cây Kỳ đà vườn Cấp Cô Độc; No. 1(1): Kỳ thọ hoa lâm khốt, dữ đại Tỳ-kheo chúng thiên nhị bách ngũ thập nhân câu 祇 樹 花 林 窟 與 大 比 丘 衆 千 二 百 五 十 人 俱 động Hoa lâm vườn cây Kỳ đà, cùng với chúng đại Tỳ-kheo một ngàn hai trăm năm mươi.
[3]. Bí-sô 苾 芻, No. 1 (1): Tỳ-Kheo hay Tỷ-khưu 比 丘.
[4]. Nguyên văn: trì bát thực thời 持 鉢 食 時, khi ôm bát ăn; chính xác: “sau khi ăn xong. Xem “Kinh Đại Bản Duyên”, cth. 3.
[5]. No. 2: nghệ Ca- lý-lê đạo tràng cọng tọa tư duy 詣 迦 里 梨 道 場, 共 坐 思 惟, “đến đạo tràng Ca-lý-lê, cùng nhau ngồi suy nghĩ.” No. 1(1): ư khất thực thời tập Hoa lâm đường các cọng nghị ngôn 於 乞 食 後 集 花 林 堂 各 共 議 言 “(Sau) khi khất thực, tụ tập ở Hoa lâm đường, cùng nhau bàn luận rằng:”
[6]. Tỳ-xá-phù 毘 舍 浮; No. 1(1): Tỳ-xá-bà 毘 舍 婆.
[7]. Ca-diếp ba 迦 葉 波; No. 1(1): Ca-diếp 迦 葉.
[8]. Thi-la 尸 羅, phiên âm Skt. śīla, hay Pāli: sīla .
[9] Kiều-trần 憍 陳, No. 1(1): Câu-lị-nhã 拘 利 若.
[10] Trong đoạn văn nói về tuổi thọ dài ngắn của bảy Phật Như Lai trong bản No 2 này so với bản No 1(1) có sự sai khác như sau: Bản No 2 viết: 爾 時 世 尊 說 此 偈 已, 告 苾 芻 眾 言, 汝 等 諦 聽, 我 今 復 說 七 佛 如 來, 應 等 正 覺 壽 量 長 短 Khi Thế tôn nói kệ xong, bảo chúng Bí sô: Các Thầy lắng nghe! Nay Ta nói về tuổi thọ dài ngắn của bảy Phật Như Lai, Ứng cúng, Chánh đẳng Chánh giác. Phật Tỳ-bà-thi, Ứng cúng, Chánh đẳng giác xuất hiện trong thế gian, sống tám vạn tuổi… cho đến Ta hóa độ chúng sanh trong đời năm trược, sống một trăm tuổi. Thế tôn nói laị bằng bài tụng: ‘Như Lai Tỳ-bà-thi, Thi-khí, Tỳ-xá-phù; Đức Phật Câu-lưu-tôn, Câu-na-hàm, Ca-diếp. Chư Phật khi ra đời, Đều theo tuổi thọ người; Tám vạn rồi bảy vạn, Sáu vạn xuống bốn vạn. Ba vạn đến hai vạn, Phật Thích-ca cũng vậy; Xuất hiện đời năm trược, Loài người thọ trăm tuổi.’ Còn đoạn văn trong bản No 1(1) nếu đem so sánh với No 2 thì những câu bắt đầu của nó không có những câu này, mà chỉ có một một câu: ‘Các ngươi nên biết.’ Kế đến nói đến tuồi thọ ngắn dài của bảy Như Lai, một đàng theo bản No 2 thì Phật Tỳ-bà-thi Ứng cúng, Đẳng chánh giác, xuất hiện trong thế gian, thọ tám vạn tuổi, trong khi bản No 1(1) thì Thời đức Phật Tỳ-bà-thi, nhân loại sống tám vạn tuổi, và tiếp cho đến sáu vị Phật kia cũng như vậy. Nhưng đến baì tụng thì trên ý giống nhau, còn lối hành văn diễn tả thì khác nhau xa.
[11] Tên cha, mẹ, thành phố cùng là tên Mãn-độ-ma 滿 度 摩; No. 1(1) Bàn-đầu 盤 頭.
[12] Tên cha A-lỗ-noa 阿 嚕 拏; No. 1(1) Minh tướng 明 相, hay 將 曉 (阿 盧 那 A-lô-na).
[13] Tên mẹ và kinh thành lúc đó là A-rô-phược-đế 阿 嚕 … 帝 hay A-rô-noa-phược-đế 阿 嚕 拏 縛 帝; No. 2: mẹ là Quang diệu 光 耀, thành Quang tướng 光 相.
[14] Tô-bát-la-để-đô 穌 鉢 囉 底 都, Bát-la-bà-phược-để 鉢 囉 婆 嚩 底, A-nỗ-bát-ma 阿 努 鉢 麼; No. 1(1): Thiện Đăng 善 燈; Xứng Giới 稱 戒; Vô dụ 無 喻.
[15] Cha tên Dã-nghê-dã-na-đa 野 倪 也 那多, mẹ tên Vĩ-xá-khư 尾 舍 佉 , vua vào lúc đó hiệu Sát-mô-sát-ma 殺 謨 殺 摩 , thành Sát-ma 殺 摩; No. 1(1): tên Tự đắc 祀 得; mẹ tên Thiện Chi 善 枝; hiệu An hòa 安 和; thành An hòa 安 和 城.
[16] Cha tên Dã-nghê-dã-na-đổ 野 倪 也 那 睹, tên mẹ Ô-đa-la 烏 多 囉, vua thời đó hiệu Thâu-bộ 輸 部, thành Thâu-bà-phược-đế 輸 婆 縛 帝; No. 1(1):Cha tên Đại Đức 大 德, mẹ Thiện Thắng 善 勝; vua thời đó hiệu Thanh Tịnh 清 淨, đô thành tên là Thanh Tịnh 清 淨 城.
[17] Cha tên Tô-một-ra-hạ-ma 穌 沒 囉 賀 摩, mẹ Một-ra-hạ-ma-ngu-bát-đa 沒 囉 賀 摩 虞 鉢 多, vua thời đó hiệu Ngật-lý-kế 訖 里 計, thành Ba-la-nại 波 羅 奈; No. 1(1): cha tên Phạm Đức 梵 德, mẹ Tài Chủ 財 主; vua thời đó là Cấp-tỳ 汲 毗; thành Ba-la-nại 波 羅 奈 như No. 2.
[18] Khiếm-noa-để-tả 欠 拏 底 寫; No. 1(1): có hai đệ tử Khiên-trà 騫 茶 (hay Khiên-đồ 騫 荼), và Đề-xá 提 舍 (hay Chất-sa 躓 沙).
[19] Bộ-tam-bà-phược 部 三 婆 縛; No. 1(1): A-tỳ-phù 阿 毗 浮, và Tam-bà-bà 三 婆 婆.
[20] Dã-thâu-đa-ra 野 輸 大多 囉 , No. 1(1): Phù-du 扶 遊, và Uất-đa-ma 鬱 多 摩.
[21] Tán-nhĩ-phược 散 爾 縛; No. 1(1): Tát-ni 隡 尼 , và Tỳ-lâu 毗 樓.
[22] Tô-lỗ-noa-đa-la 穌 嚕 拏 多 囉; No. 1(1): Thư-bàn-na 舒 盤 那, và Uất-đa-lâu 鬱 多 樓.
[23] Bà-la-đặc-phược-nhạ 婆 羅 特 縛 惹; No. 1(1): Đề-xá 提 舍, và Bà-la-bà 婆 羅 婆.
[24] Xá-lợi-phất 舍 利 弗; No. 1(1), ngoài Xá-lợi-phất 舍 利 弗 , kể thêm Mục-kiền-liên 目 揵 連.
[25] A-thâu-ca 阿 輸 迦 , No. 1(1): Vô ưu 無 優.
[26] Sát-ma-ca-lỗ 殺 摩 迦 嚕; No. 1(1): Nhẫn Hành 忍 行.
[27] Ô-ba-phiến-đổ 烏 波 扇 睹; No. 1( 1): Tịch Diệt 寂 滅.
[28]. Một-đề-du 沒 提 踰; No. 1(1): Thiện Giác 善 覺.
[29] Tô-rô-đế-lý-dã 穌 嚕 帝 里 野; No. 1(1): An Hòa 安 和.
[30] Tát-lý-phạ-mật-đát-ra-sa 薩 里 縛 蜜 怛 邋 囉; No. 1(1): Thiện Hữu 善 友.
[31] A-nan-đà 阿 難 陀; No. 1(1) , cùng tên.

T2. 佛說七佛經

佛說七佛經
西天譯經三藏朝散大夫試鴻臚卿傳教大師臣法天奉 詔譯

如是我聞:

一時,佛在舍衛國祇樹給孤獨園。爾時有大苾芻眾,持鉢食時詣迦里梨道場,共坐思惟:「過去世時有何佛出現,族姓壽量其義云何?」如是思已,互相推問而不能知。

爾時,世尊知此苾芻思惟是事,即從座起,詣迦里梨道場,結跏趺坐。時諸苾芻,頭面禮足住立一面,合掌恭敬一心瞻仰。

世尊問曰:「汝諸苾芻,於意云何?」苾芻答言:「我等思惟,過去世中有何佛出世?族姓壽量皆不能知。」佛告諸苾芻:「汝等樂聞。」苾芻答言:「今正是時,願為宣說。」

佛言:「汝等諦聽,我今說之。過去九十一劫,有毘婆尸佛、應、正等覺,出現世間。三十一劫,有尸棄佛,毘舍浮佛、應、正等覺,出現世間。於賢劫中第六劫,有俱留孫佛、應、正等覺,出現世間。第七劫,有俱那含牟尼佛、應、正等覺,出現世間。第八劫,有迦葉波佛、應、正等覺,出現世間。第九劫,我釋迦牟尼佛,出世間,應、正等覺。復次過去劫中,毘婆尸佛、尸棄佛、毘舍浮佛,宣說尸羅清淨戒律,成就智慧最上之行。

「復次賢劫中,俱留孫佛、俱那含牟尼佛、迦葉波佛,亦說清淨律儀及禪定解脫之法;我所說法,亦復如是。汝諸苾芻!過去毘婆尸佛,剎帝利姓,發淨信心,而求出家,成正覺道。尸棄佛、毘舍浮佛,亦剎帝利姓。俱留孫佛、俱那含牟尼佛、迦葉佛,婆羅門姓。我生淨飯王宮,剎帝利姓。」

爾時,世尊欲重宣此義,而說頌曰:

「我說過去世,  九十一劫中,
時有毘婆尸,  出現於世間。
三十一劫中,  尸棄、毘舍浮,
如是正等覺,  皆姓剎帝利。
俱留孫如來,  婆羅門之姓,
俱那含、迦葉,  其姓亦復然。
我處閻浮提,  而為淨飯子,
雖證佛菩提,  亦姓剎帝利。」

爾時,世尊說此偈已,告苾芻眾言:「汝等諦聽!我今復說七佛如來、應、正等覺所有族號,毘婆尸佛、尸棄佛、毘舍浮佛,憍陳族。俱留孫佛、俱那含牟尼佛、迦葉波佛,迦葉族。釋迦如來,瞿曇族。」

爾時,世尊重說頌曰:

「毘婆尸如來、  尸棄、毘舍浮,
如是彼三佛,  悉是憍陳族。
俱留孫如來、  俱那含、迦葉,
如是彼三佛,  悉是迦葉族。
我處閻浮界,  生於淨飯宮,
出家證菩提,  是彼瞿曇族。」

爾時,世尊說此偈已,告苾芻眾言:「汝等諦聽!我今復說七佛如來、應、正等覺壽量長短。毘婆尸佛、應、正等覺出現世間,壽八萬歲。尸棄佛、應、正等覺,出現世間,壽七萬歲。毘舍浮佛、應、正等覺,出現世間,壽六萬歲。俱留孫佛、應、正等覺,出現世間,壽四萬歲。俱那含牟尼佛、應、正等覺,出現世間,壽三萬歲。迦葉波佛、應、正等覺,出現世間,壽二萬歲。我化五濁眾生,壽百歲故。」

爾時,世尊重說頌曰:

「毘婆尸如來、  尸棄、毘舍浮、
俱留孫世尊、  俱那含、迦葉,
如是出世時,  各自人壽量,
八萬、次七萬、  六萬及四萬、
三萬至二萬,  如是釋迦佛,
而出於五濁,  人壽一百歲。」

爾時,世尊說此偈已,告苾芻眾言:「汝等諦聽!我今復說七佛如來父母、國城種種名字。毘婆尸佛,父名滿度摩王,母名滿度摩,帝城亦名滿度摩。尸棄如來,父名阿嚕拏王,母同名阿嚕拏,城名阿嚕嚩帝。毘舍浮如來,父名穌鉢囉底都王,母名鉢囉婆嚩底,城名阿努鉢麼。俱留孫佛,父名野倪也那多,母名尾舍佉,王名剎謨剎摩,城名剎摩。俱那含牟尼佛,父名野倪也那覩,母名烏多囉,王名輸部,城名輸婆嚩帝。迦葉如來,父名穌沒囉賀摩,母名沒囉賀摩虞鉢多,王名訖里計,城名波羅奈。我今應、正等覺,父名淨飯王,母名謨訶摩耶,城名迦毘羅。」

爾時,世尊重說頌曰:

「毘婆尸如來,  彼佛本生處,
滿度摩為父,  滿度摩帝母,
所都大城郭,  亦名滿度摩,
時豐國富盛,  人民恒快樂。
尸棄佛世尊,  阿嚕拏王父,
阿嚕拏嚩帝,  是佛母之名,
所居城同號,  阿嚕拏嚩帝,
人民甚熾盛,  大富常安隱。
毘舍浮如來,  父王及母名,
穌鉢囉帝都,  鉢囉婆嚩帝,
所都之國城,  名阿努波摩,
其世亦安隱,  一切無災害。
俱留孫世尊,  彼父所立名,
野倪也那多,  尾舍佉為母,
剎謨剎摩王,  都彼剎摩城,
時彼諸眾生,  崇重於賢善。
俱那含牟尼,  野倪也那覩,
而是父之名,  母號烏多囉,
國王名輸部,  輸婆嚩帝城,
縱廣多嚴飾,  有情無諸惱。
迦葉波佛父,  穌沒囉賀摩,
母立沒囉賀,  摩虞鉢多名,
訖里計國王,  都波羅奈城,
其中諸眾生,  晝夜常安隱。
我今所生處,  淨飯王為父,
摩訶摩耶母,  城名迦毘羅。
如是正等覺,  七佛諸如來,
父母及國城,  分別名如是。」

爾時,世尊說此偈已,告苾芻眾言:「汝等諦聽!我今復說七佛如來聲聞弟子。毘婆尸如來、應、正等覺大智弟子,名欠拏底寫,聲聞中第一。尸棄如來、應、正等覺大智弟子,名部三婆嚩,聲聞中第一。毘舍浮如來、應、正等覺大智弟子,名野輸多囉,聲聞中第一。俱留孫如來、應、正等覺大智弟子,名散[口*爾]嚩,聲聞中第一。俱那含牟尼如來、應、正等覺大智弟子,名穌嚕努多囉,聲聞中第一。迦葉波如來、應、正等覺大智弟子,名婆囉特嚩惹,聲聞中第一。我今應、正等覺大智弟子,名舍利弗,聲聞中第一。」

爾時,世尊重說頌曰:

「毘婆尸如來,  有大智慧子,
名欠拏底寫。  尸棄佛世尊,
有大智慧子,  名部三婆嚩。
毘舍浮如來,  有大智慧子,
名野輸多囉。  俱留孫如來,
有大智慧子,  名曰散[口*爾]嚩。
俱那含牟尼,  有大智慧子,
穌嚕努多囉。  迦葉佛世尊,
有大智慧子,  婆囉特嚩惹。
我今應、正覺,  有大智慧子,
名曰舍利弗。  如是七佛子,
於諸聲聞中,  各各為第一。」

爾時,世尊說此偈已,告苾芻眾言:「汝等諦聽!我今復說七佛如來侍者弟子。毘婆尸如來、應、正等覺侍者,名阿輸迦。尸棄如來、應、正等覺侍者,名剎摩迦嚕。毘舍浮佛、應、正等覺侍者,名烏波扇覩。俱留孫佛、應、正等覺侍者,名沒提踰。俱那含牟尼佛、應、正等覺侍者,名穌嚕帝里野。迦葉如來、應、正等覺侍者,名薩里嚩蜜怛囉。我今應、正等覺侍者,名阿難陀。」爾時,世尊重說頌曰:

「佛子阿輸迦,  剎摩迦嚕等,
并烏波扇覩,  沒提踰之者,
穌嚕帝里野,  薩嚩蜜怛囉,
及彼阿難陀,  皆為佛侍者。
常行慈悲心,  成就三摩地,
通達諸法相,  具足大智慧,
多聞而聰敏,  為大法之師,
眾中居第一,  名聞於十方。
人天皆歸敬,  精進力堅固,
斷盡諸煩惱,  而證無生滅。
承侍佛世尊,  恒獲於己利,
如是諸如來,  成就真佛子。」

爾時,世尊說此偈已,告苾芻眾言:「汝等諦聽!我今復說七佛如來所度聲聞之眾。毘婆尸如來第一會說法,有六萬二千苾芻得阿羅漢果,第二會說法,有十萬苾芻得阿羅漢果,第三會說法,有八萬苾芻得阿羅漢果。尸棄如來第一會說法,十萬苾芻得阿羅漢果,第二會說法,八十億苾芻得阿羅漢果,第三會說法,七萬苾芻得阿羅漢果。毘舍浮如來,第一會說法,八萬苾芻得阿羅漢果,第二會說法,七萬苾芻得阿羅漢果,第三會說法,六萬苾芻得阿羅漢果。

「俱留孫如來一會說法,四萬苾芻得阿羅漢。俱那含牟尼佛一會說法,三萬苾芻得阿羅漢果。迦葉如來一會說法,二萬苾芻得阿羅漢果。我今一會說法,一千二百五十苾芻得阿羅漢果。」

爾時,世尊重說頌曰:

「毘婆尸如來、  尸棄、毘舍浮、
俱留孫世尊、  俱那含、迦葉,
并釋迦牟尼,  各各出世時,
所度聲聞眾,  數有七十億,
九萬餘三千,  二百五十人,
皆得阿羅漢,  不受於後有。」

爾時,世尊說此偈已,告苾芻眾言:「汝等諦聽!毗婆尸佛、尸棄佛、毘舍浮佛,乃至我今出現世間,住持教化,宣說法教,調伏有情,戒行儀範,受持衣鉢,求證菩提,無有少法而各別異。」

爾時,世尊而說頌曰:

「如是過現劫,  毗婆尸等佛,
所度眾苾芻,  成就大智慧,
勤修於正道,  菩提之分法,
五根與五力,  四念、四神足,
七覺、八聖支,  及彼三摩地,
寂靜眼等根,  通達於法藏,
開悟諸群生,  增長於慧命,
如是賢劫中,  皆嘆未曾有。
佛以大悲智,  自覺覺於他,
威德大神通,  所說皆如是。」

爾時,世尊說此偈已,與諸苾芻即從座起,還給孤獨園,過是夜已,至平旦時。

諸苾芻眾,從其本舍,往迦里梨道場,互相推問:「過去如來入大涅槃,離諸戲論,永斷輪迴,而無過失。如是大丈夫,有如是智慧,如是持戒,如是三摩地,如是解脫,如是威德,如是種族,降世利生,甚為希有不可思議。」

爾時,世尊知諸苾芻心之所念,從座而起,詣迦里梨道場,結跏趺坐,告苾芻眾言:「於意云何?」時諸苾芻白世尊言:「我等聞說,過去如來,入大涅槃,離諸戲論,永斷輪迴,而無過失,如是大丈夫,有如是智慧,如是持戒,如是三摩地,如是解脫,如是威德,如是種族,降世利生,甚為希有不可思議。」佛言:「苾芻,汝今所說,何以故?」苾芻白言:「佛有清淨法界,證真覺智,無不了知,願為解說。」

佛言:「苾芻,汝等諦聽,我今說之。於過去世,有大國王名滿度摩,彼王妃后名滿度摩帝。爾時,毗婆尸佛從兜率天降下閻浮,入於母腹住胎藏中,放大光明照諸世間無有幽暗,而諸惡趣一切地獄,日月威光亦不能照,佛光所及忽得大明,而彼有情互得相見,即發聲言:『何故此間有別眾生?』」

爾時,世尊而說頌曰:

「菩薩從兜率,  下降閻浮時,
如雲亦如風,  須臾至母腹,
身放大光明,  照耀人天界,
地獄鐵圍山,  皆悉無幽暗。
佛剎眾境界,  隨住於母身,
如是大仙眾,  亦來俱集會。」

爾時,世尊說此偈已,告苾芻眾言:「汝今諦聽!彼菩薩摩訶薩從兜率天下降閻浮,入母胎時,部摩夜叉高聲唱言:『此大菩薩大威德大丈夫,捨天人身及阿修羅身,處彼母胎而受人身。』如是四天王天,忉利天,夜摩天乃至梵輔等天聞此唱言:『菩薩降神處母胎中。』皆悉來集。」

爾時,世尊而說頌曰:

「菩薩從兜率,  降神母胎時,
部摩大夜叉,  唱言彼菩薩,
棄捨天中身,  及於修羅質,
處此母胎中,  即受人世報。
四王、忉利天、  夜摩及兜率,
乃至於梵世,  皆悉聞斯事,
菩薩降人間,  微妙真金色,
諸天悉來集,  心懷大喜慶。」

爾時,世尊說此偈已,告苾芻眾言:「汝今諦聽!彼菩薩摩訶薩從兜率天降閻浮時,有四大天子威德具足,身被甲冑,手執弓刀,擁護菩薩,人非人等皆不侵害。」

爾時,世尊而說頌曰:

「菩薩降生時,  忉利天帝釋,
遣彼四天王,  各具大威力,
身被金甲冑,  手執弓刀槍,
恒時常衛護。  羅剎非人等,
不敢作惱害。  安住母腹中,
如處大宮殿,  恒受諸快樂。」

爾時,世尊說此偈已,告苾芻言:「汝今諦聽!彼菩薩摩訶薩從兜率天下降閻浮處母胎時,其身清淨光明照耀,如摩尼珠,母心安隱無諸熱惱。」

爾時,世尊而說頌曰:

「菩薩處胎時,  清淨無瑕穢,
猶如琉璃珠,  亦如摩尼寶,
光明照世間,  如日出雲翳,
成就第一義,  出生最上智。
令母無憂惱,  恒行眾善業,
有情皆歸仰,  安處剎帝利。」

爾時,世尊說此偈已,告苾芻眾言:「汝今諦聽!彼菩薩摩訶薩從兜率天下降閻浮處母胎時,未曾得聞母有染欲色等五塵而無所著。」爾時,世尊而說頌曰:

「菩薩處胎時,  令母心清淨,
不聞染污名,  遠離五欲過,
斷除貪愛根,  不受諸苦惱,
身心恒安隱,  常得於快樂。」

爾時,世尊說此偈已,告苾芻眾言:「汝今諦聽!彼菩薩摩訶薩從兜率天下降閻浮處母胎時,母自受持近事五戒:一不殺生,二不偷盜,三不婬欲,四不妄語,五不飲酒,於其右脇誕生菩薩,母後命終生天界中。」

爾時,世尊而說頌曰:

「菩薩處胎中,  母自持五戒,
右脇生童子,  無彼諸苦惱,
譬如天帝釋,  受妙五欲樂,
於後命終時,  速得生天上。」

爾時,世尊說此偈已,告苾芻眾言:「汝今諦聽!彼菩薩摩訶薩右脇生時,大地震動,身真金色離諸垢染,放大光明普照世間一切境界,所有惡趣黑暗地獄忽然大明,彼中眾生互得相見,各各疑云:『何故此間有別眾生?』」

爾時,世尊而說頌曰:

「菩薩降生時,  大地皆震動,
身相如真金,  不染諸塵垢。
威德大神通,  光明照一切,
幽暗業眾生,  而互得相見。」

爾時,世尊說此偈已,告苾芻眾言:「汝今諦聽!彼菩薩摩訶薩右脇生時,母無疲困,不坐不臥。爾時菩薩大威德大丈夫,心不昏昧,足不履地,有四大天子捧童子身。」

爾時,世尊而說頌曰:

「菩薩降生時,  母意無散亂,
不坐亦不臥,  自在而適悅。
威德大丈夫,  心離諸暗昧,
四天捧其身,  足不履於地。」

爾時,世尊說此偈已,告苾芻眾言:「汝今諦聽!彼菩薩摩訶薩右脇生時,身體清淨如瑠璃寶,遠離一切膿血洟唾不淨之物,亦如摩尼珠憍尸迦衣,諸塵垢等而不能著。」

爾時,世尊而說頌曰:

「菩薩降生時,  身器悉清淨,
遠離諸穢惡,  膿血洟唾等,
譬如憍尸衣,  及彼摩尼寶,
瑩淨體光明,  塵垢皆不住。」

爾時,世尊說此偈已,告苾芻眾言:「汝今諦聽!彼菩薩摩訶薩右脇生時,有二天子,於虛空中降二種水,一冷二溫,沐浴童子。」

爾時,世尊而說頌曰:

「菩薩降生時,  空中有二天,
沐浴童子身,  降彼二種水,
溫冷各相宜,  表圓於福慧,
成就大無畏,  普徧視眾生。」

爾時,世尊說此偈已,告苾芻眾言:「汝今諦聽!彼菩薩摩訶薩右脇生時,具三十二相,身色端嚴,眼根清淨見十由旬。」

爾時,世尊而說頌曰:

「菩薩降生時,  諸相悉具足,
目淨復端嚴,  遠視十由旬。」

爾時,世尊說此偈已,告苾芻眾言:「彼菩薩摩訶薩右脇生時,見忉利天,彼天帝釋見此童子是真佛身,執白傘蓋覆童子身,寒熱風塵一切諸惡而不能侵。」

爾時,世尊而說頌曰:

「童子初生時,  遠視於忉利,
帝釋復覩之,  手執白傘蓋,
即來覆其身,  寒熱風日等,
及彼諸毒惡,  一切不能侵。」

爾時,世尊說此偈已,告苾芻眾言:「汝今諦聽!彼菩薩摩訶薩右脇生時,本母乳母養母,及諸宮人圍繞保護,澡浴塗香種種承奉。」

爾時,世尊而說頌曰:

「童子初生時,  乳養有三母,
及彼諸宮人,  四面常圍繞,
澡浴復塗香,  令彼常安隱,
如是晝夜中,  無暫而捨離。」

爾時,世尊說此偈已,告苾芻眾言:「汝今諦聽!彼菩薩摩訶薩右脇生時,身色端嚴,具三十二相。滿度摩王,即召相師占其童子,婆羅門言:『若令在家受灌頂輪王之位,主四天下,具足千子威德無畏,不以兵杖弓劒能降他軍;若復出家堅固修行,成正等覺。』」

爾時,世尊而說頌曰:

「相師婆羅門,  占此天童子,
告彼父王言,  具相三十二,
如月出眾星,  世間甚希有。
若常在宮殿,  必紹轉輪位,
主領四大洲,  復生千太子;
如是出家時,  速成無上覺。」

爾時,世尊說此偈已,告苾芻眾言:「汝今諦聽!彼菩薩摩訶薩右脇生時,身真金色諸相端嚴,如水生蓮塵垢不著,一切有情瞻仰不足。所出言音微妙細密清雅流美,譬如雪山迦尾囉鳥,食花而醉,所出音聲雅妙清響,眾生聞者無不愛樂,童子言音亦復如是。」

爾時,世尊而說頌曰:

「童子初生時,  身相真金色,
亦如紅蓮華,  塵垢不能染。
言音甚微妙,  如迦尾羅聲,
眾人得聞之,  愛樂無厭足。」

爾時,世尊說此偈已,告苾芻眾言:「汝今諦聽!彼菩薩摩訶薩為童子時,遠離邪妄,心意純直,自覺覺他恒行正法,眾人侍奉,如帝釋天主宗敬父母,由此名為毘婆尸。」

爾時,世尊而說頌曰:

「毘婆尸如來,  為彼童子時,
通達大智慧,  遠離於邪妄。
自覺及覺他,  修習正法行,
眾人常愛敬,  如彼帝釋天。
侍養於父母,  名聞滿世間,
是名毘婆尸,  利益諸含識。」

佛說七佛經

Tags:

bộ a hàmkinh chữ hánKinh Tạng Bắc TruyềnThích Tâm Hạnh
Author

admin

Follow Me
Other Articles
Đại Tam Ma Nhạ Kinh [大三摩惹經]
Previous

Đại Tam Ma Nhạ Kinh [大三摩惹經]

Phật Khai Giải Phạm Chí A Bạt Kinh [佛開解梵志阿颰經]
Next

Kinh Phật Giáo Hóa Phạm Chí A Bạt

bộ a hàm Bộ A hàm - Tam Tạng Thánh Điển Bộ Bát Nhã Bộ Bản Duyên Bộ Bản Duyên - Tam Tạng Thánh Điển Phật Giáo Việt Nam Bộ Kinh Sớ Bộ Luận Tập chưa dịch Huyền Thanh Kim Cang Bát Nhã Ba La Mật Kinh Luận kinh chữ hán Kinh trung bộ kinh trường bộ kinh trường bộ html Kinh Tạng Bắc Truyền Kinh Tạng Chữ Hán Linh Sơn Pháp Bảo Đại Tạng Kinh luận Nguyên Huệ Nguyên Thuận Nguyễn Minh Tiến pdf TAM TẠNG PHẬT GIÁO BỘ PHÁI tam tạng thánh điển phật giáo Việt Nam Tam Tạng Thượng Toạ Bộ THÍCH THIỆN SIÊU Thích Bảo Lạc Thích Chánh Lạc thích minh châu Thích Thanh Từ Thích Trí Tịnh Thích Tuệ Sỹ Thích Tâm Châu Thích Tâm Hạnh Thất dịch Trường A Hàm Tùy Kiết Tạng Tùy Đạt Ma Cấp Đa Tăng Nhất A Hàm Tạp A Hàm Tạp Tạng Vô Trước Bồ Tát Đoàn Trung Còn Đường Khuy Cơ Đại Tạng Kinh Tiếng Việt

Copyright 2026 — Tàng Kinh Các. All rights reserved.