Thi Ca La Việt Lục Phương Lễ Kinh [尸迦羅越六方禮經]
Thi Ca La Việt Lục Phương Lễ Kinh
[尸迦羅越六方禮經]
Nguyên bản Hán văn – Bản khắc Càn long – Vĩnh Lạc Đại Điển – CBETA

Bản chia sẻ của CBETa
Thi Ca La Việt Lục Phương Lễ Kinh
[尸迦羅越六方禮經]
thuộc tập T01, kinh số 16, tổng cộng 1 quyển, – Hậu Hán An Thế Cao dịch
Thi Ca La Việt Lục Phương Lễ Kinh
[尸迦羅越六方禮經]
( Bản khắc gỗ Càn long và Vĩnh Lạc Đại Điển )
Thi Ca La Việt Lục Phương Lễ Kinh
[尸迦羅越六方禮經]
thuộc tập T01, kinh số 16, tổng cộng 1 quyển, – Hậu Hán An Thế Cao dịch
Kinh Thi Ca La Việt Lạy Sáu Phương
Việt dịch: Thích Chánh Lạc
Phật ở trong núi Kê thuộc thành Vương xá.
Bấy giờ, có con của ông trưởng giả tên là Thi Ca La Việt, sáng sớm dậy, chải đầu tắm rửa, mặc áo đẹp, hướng về phương Ðông lạy bốn lạy, phương Nam lạy bốn lạy, phương Tây lạy bốn lạy, phương Bắc lạy bốn lạy, ngẩng lên trời lạy bốn lạy, cúi xuống đất lạy bốn lạy. Phật đi vào thành khất thực, từ xa trông thấy như vậy, Ngài liền đi đến nhà con ông trưởng giả để hỏi lý do:
– Tại sao lạy sáu phương? Việc này tương ứng với pháp gì?
Thi Ca La Việt thưa:
– Khi cha con còn sống dạy con lạy sáu phương. Con chẳng biết tương ứng với pháp gì. Nay cha con đã mất, con không dám trái lệnh.
Phật dạy:
– Cha ngươi dạy ngươi lạy sáu phương không phải dùng thân lễ bái.
Thi Ca La Việt liền quỳ xuống bạch Phật:
– Cúi mong Phật giải thích ý nghĩa của sự lạy sáu phương này cho con.
Phật dạy:
– Hãy lắng nghe và ghi nhớ. Trưởng giả là người thông minh trí tuệ hay trì bốn giới không có vi phạm. Cho nên đời này được mọi người kính nể, đời sau được sanh lên trời:
Một là không giết hại các quần sanh;
Hai là không trộm cắp;
Ba là không lấy vợ người;
Bốn là không nói dối, nói hai lưỡi, tâm dục, tham dâm, sân hận, ngu si, phải tự kiềm chế đừng có nghe theo.
Nếu không tự kiềm chế bốn sự việc này thì tiếng xấu ngày một tăng, như mặt trăng đã lặn, ánh sáng thành tối tăm. Còn ai tự kiềm chế được việc ác này thì như mặt trăng lúc mới mọc, ánh sáng càng lúc càng tỏ, cho đến ngày rằm là lúc mặt trăng tròn đầy nhất.
Phật dạy:
– Lại có sáu việc làm cho tiền tài mỗi ngày một hao giảm:
Một là thích uống rượu;
Hai là thích cờ bạc;
Ba là thích ngủ sớm dậy trễ;
Bốn là thích mời khách và cũng muốn được người ta mời lại;
Năm là muốn kết thân cùng với ác tri thức;
Sáu là kiêu mạn khinh người.
Phạm bốn việc ác ở trên và lại làm sáu việc này sẽ phương hại đến hạnh lành, cũng như không ích lợi trong vấn đề sinh kế, khiến cho tiền bạc ngày một hao giảm, thì việc lễ bái sáu phương có ích lợi gì.
Phật dạy:
– Ác tri thức có bốn hạng:
Một là bên trong có tâm oán thù, bên ngoài giả làm tri thức;
Hai là đối với người trước mặt thì nói tốt sau lưng thì nói xấu;
Ba là khi bạn có việc cần cấp, trước mặt bạn thì tỏ ra sầu khổ, sau lưng thì ấp ủ vui mừng;
Bốn là bên ngoài như thân lắm, nhưng bên trong lại mưu oán.
– Thiện tri thức cũng có bốn hạng:
Một là bên ngoài như oan gia, bên trong lại có lòng nhân hậu;
Hai là trước mặt người thì thẳng thắn can ngăn, bên ngoài thì đề cao việc tốt của người;
Ba là gặp khi bệnh hoạn, kẻ quan quyền làm cho bạn lo âu sợ sệt thì tìm cách giúp đỡ hóa giải;
Bốn là thấy bạn nghèo túng cũng không bỏ rơi, thường nghĩ cách tìm phương tiện muốn cho được giàu có.
– Ác tri thức cũng có bốn hạng:
Một là khó can gián, khó dạy dỗ làm điều thiện, cùng kẻ ác làm thân;
Hai là dù có dạy bảo cũng không thích nghe vì làm bạn với kẻ uống rượu cho nên thích hợp với người nghiện rượu;
Ba là dù có dạy bảo thì bảo thủ, lại còn gây nhiều chuyện;
¯ Bốn là dạy bảo làm bạn với kẻ hiền nhưng lại quen thân với bạn bè cờ bạc.
–Thiện tri thức cũng có bốn hạng:
¯ Một là thấy người bần cùng đói rách thì giúp cho sinh sống;
¯ Hai là không tranh hơn thua với người;
¯ Ba là thường hay thăm viếng;
¯ Bốn là đi đứng luôn luôn tưởng nhớ.
–Thiện tri thức lại có bốn hạng:
¯ Một là bị quan lại bắt bớ thì đem về che giấu, chờ sau sẽ giải quyết;
¯ Hai là có tật bệnh, ốm đau thì đem về nuôi dưỡng, chăm sóc;
¯ Ba là nhận biết bạn có sự chết chóc thì lo việc chôn cất;
¯ Bốn là nếu biết bạn đã chết, lại nghĩ tưởng đến gia đình bạn.
–Thiện tri thức lại có bốn hạng:
¯ Một là bạn muốn tranh giành đấu đá thì ngăn cản;
¯ Hai là bạn muốn theo kẻ ác tri thức thì khuyên can đừng theo;
¯ Ba là bạn không muốn làm ăn thì khuyên bảo lo làm ăn;
¯ Bốn là bạn không thích theo đạo pháp thì dạy bảo làm cho có niềm tin, vui vẻ.
–Ác tri thức lại có bốn hạng:
¯ Một là bị xâm phạm ít mà sân hận nhiều;
¯ Hai là khi có việc gấp rút nhờ cậy thì không chịu làm;
¯ Ba là thấy người khi có việc nguy cấp thì bỏ trốn;
¯ Bốn là thấy người chết chóc thì bỏ đi không quan tâm.
Phật dạy:
–Hãy chọn người tốt để theo, kẻ ác để tránh. Ta nhờ làm bạn với thiện tri thức mà tự mình được thành Phật.
Phật dạy:
–Lạy ở phương Ðông, đó là:
Con thờ cha mẹ có năm việc:
¯ Một là phải nhớ lo làm ăn;
¯ Hai là phải dậy sớm để sai bảo người giúp việc đúng giờ cơm nước;
¯ Ba là đừng để cha mẹ lo âu;
¯ Bốn là phải nghĩ đến công ơn của cha mẹ;
¯ Năm là cha mẹ bệnh tật thì phải lo lắng tìm thầy thuốc trị liệu.
Cha mẹ đối với con cũng có năm việc:
¯ Một là phải nhớ khiến cho con bỏ ác theo thiện;
¯ Hai là dạy cho con chăm lo học hành;
¯ Ba là dạy cho con trì kinh giữ giới;
¯ Bốn là phải biết lo dựng vợ gả chồng cho con;
¯ Năm là trong nhà có của cải gì phải để cho con.
–Lạy ở phương Nam, đó là:
Ðệ tử thờ thầy, có năm việc:
¯ Một là phải cung kính tán thán;
¯ Hai là phải nhớ ơn thầy;
¯ Ba là phải nghe theo lời thầy dạy;
¯ Bốn là nhớ nghĩ không nhàm chán;
¯ Năm là nên hết lòng theo và khen ngợi thầy.
Thầy dạy đệ tử cũng có năm việc:
¯ Một là phải làm cho mau hiểu biết;
¯ Hai là hãy làm cho đệ tử mình hơn đệ tử người khác;
¯ Ba là muốn làm cho điều đã biết nhớ mãi không quên;
¯ Bốn là các hoài nghi đều giảng giải;
¯ Năm là muốn khiến đệ tử trí tuệ hơn thầy.
–Lạy ở phương Tây, đó là:
Vợ thờ chồng có năm việc:
¯ Một là chồng đi đâu về phải đứng dậy nghênh tiếp;
¯ Hai là khi chồng đi khỏi phải lo mọi việc nấu nướng, quét dọn chờ chồng về;
¯ Ba là không được có lòng dâm dục với người khác, chồng có trách mắng cũng không được có thái độ trách mắng lại;
¯ Bốn là hãy làm theo lời chồng răn dạy, có nhặt được vật gì cũng không được che giấu;
¯ Năm là khi chồng ngủ nghỉ, phải lo sắp xếp xong rồi mới ngủ.
Chồng đối với vợ cũng có năm điều:
¯ Một là đi đâu phải cho vợ biết;
¯ Hai là việc ăn uống đúng giờ, cung cấp áo quần cho vợ;
¯ Ba là phải cung cấp vàng bạc châu báu;
¯ Bốn là những vật ở trong nhà nhiều ít đều phải giao phó cho vợ;
¯ Năm là không được ngoại tình, bằng cách nuôi dưỡng, hầu hạ, chuyển tài sản.
–Lạy phương Bắc là mình đối với người thân thuộc bằng hữu có năm việc:
¯ Một là thấy làm việc ác thì riêng đến chỗ vắng mà can gián, khuyên ngăn;
¯ Hai là thấy việc nguy cấp dù rất nhỏ cũng mau chạy đến cứu giúp;
¯ Ba là có điều nói riêng, không được nói cho người khác nghe;
¯ Bốn là phải kính mến khen ngợi nhau;
¯ Năm là có vật tốt dù nhiều dù ít cũng nên phân chia cho nhau.
–Lạy dưới đất là:
Chủ đối với người giúp việc, có năm việc:
¯ Một là phải đúng giờ cho ăn uống và cho quần áo;
¯ Hai là khi bị bệnh hoạn phải gọi thầy thuốc đến điều trị;
¯ Ba là không được đánh đập;
¯ Bốn là họ có của riêng thì không được chiếm đoạt;
¯ Năm là những vật phân chia phải phân chia đồng đều.
Tôi tớ đối với chủ cũng có năm việc:
¯ Một là phải lo dậy sớm, đừng để chủ nhà gọi;
¯ Hai là khi làm việc phải hết lòng;
¯ Ba là phải thương tiếc đồ vật của chủ, không được vứt bỏ cho người khác;
¯ Bốn là chủ nhà đi về phải đưa rước;
¯ Năm là phải khen ngợi điều hay, không được nói điều xấu của chủ.
–Hướng lên trời lễ bái là:
Con người phụng sự các bậc Sa môn, Ðạo sĩ, cần làm năm việc:
¯ Một là hướng đến với thiện tâm;
¯ Hai là chọn lời hay mà nói;
¯ Ba là lấy thân cung kính;
¯ Bốn là phải quyến luyến hâm mộ;
¯ Năm là Sa môn, Ðạo sĩ là kẻ thiện trong loài người, phải cung kính, thờ phụng, thưa hỏi về phương cách để thoát khỏi nổi khổ nơi cuộc đời.
Sa môn, Ðạo sĩ có sáu điều nhớ nghĩ đến phàm nhân:
¯ Một là dạy họ bố thí, không được tham lam keo kiệt;
¯ Hai là dạy cho họ trì giới, không được phạm sắc dục;
¯ Ba là dạy cho họ nhẫn nhục, không được giận hờn;
¯ Bốn là dạy cho họ tinh tiến, không được kiêu mạn, lười biếng;
¯ Năm là dạy cho họ nhất tâm, không được buông lung;
¯ Sáu là dạy cho họ sự hiểu biết, trí tuệ không được ngu si.
Sa môn, Ðạo sĩ dạy người bỏ ác làm lành, khai thị con đường chánh đạo, ơn ấy lớn hơn cha mẹ. Hãy làm như vậy, xem như lúc cha ngươi còn sống dạy ngươi lạy sáu phương, lo gì mà không phú quý.
Thi Ca La Việt liền thọ năm giới, làm lễ lui ra.
Phật nói bài kệ:
Gà gáy cần dậy sớm
Mặc y phục xuống đường
Súc miệng để tâm tịnh
Hai tay dâng hương hoa.
Phật cao hơn chư Thiên
Quỉ thần không bì kịp
Cúi đầu nhiễu tháp chùa
Vòng tay lạy mười phương.
Hiền giả không tinh tấn
Giống như cây không rễ
Rễ đứt cành lá khô
Khi nào mới liền được.
Người hái hoa giữa ngày
Hoa tươi được bao lâu
Phóng tâm tự buông ý
Mạng qua rồi nói gì.
Người phải nghĩ vô thường
Nó đến không hẹn trước
Phạm lỗi không tự biết
Mạng qua vì tự khinh.
Nay phải vào Nê lê
Khi nào mới ra được
Hiền giả nghe lời Phật
Trì giới chớ có nghi.
Phật như cây hoa tốt
Ai mà chẳng mến yêu
Nơi nơi nghe tiếng Ngài
Tất cả đều hoan hỷ.
Khi ta được quả Phật
Mong được như Pháp vương
Vượt qua đường sanh tử
Tất cả được giải thoát.
Giới đức mới cậy nhờ
Phước báo thường theo ta
Pháp thiện là người lớn
Trọn xa ba nẻo ác.
Giới trừ hết lo sợ
Phước đức ba cõi quý
Quỷ thần tà độc hại
Không phạm người có giới.
Ðọa thế tục khổ đau
Mạng nhanh như điện chớp
Già, bệnh, chết đến ngay
Chẳng kể là hào quý.
Chẳng ai để nương tựa
Không chỗ nào trốn được
Phước trời còn phải hết
Mạng người há dài lâu.
Ở nhà cửa cha mẹ
Thí như người khách trọ
Mạng trước thọ đã hết
Bỏ cũ thọ thân mới.
Tất cả do hành động
Xoay vần như bánh xe
Khởi diệt theo tội phước
Sanh tử mười hai nhân.
Hiện thân không thác loạn
Tế độ khắp mọi người
Thương chúng rơi đường tà
Trôi giạt nơi vực thẳm.
Siêng năng dùng sáu độ
Tu hành đạt như nhiên
Cho nên cúi đầu lạy
Qui mạng “Thiên Trung Thiên”.
Thân người đã khó được
Ðược thân lại tham dục
Ý thức đối tham dâm
Thọ, tưởng không nhàm chán.
Dự bị ở đời sau
Hoan hỷ đến địa ngục
Sáu tình đã đầy đủ
Tự mình chịu khổ đau.
Nhất thiết phải chánh tâm
Ba đời thần thức tốt
Không tham đắm tám nạn
Tùy hạnh sanh mười phương.
Sanh đâu cũng tinh tấn
Sáu độ là cây cầu
Huệ rộng lớn khuyên răn
Tất cả nhờ thần quang (Phật ).
Phật Nói Kinh Thi Ca La Việt Lạy Sáu Phương
Kinh Thi Ca La Việt Lễ Sáu Phương
Việt dịch: Huyền Thanh
Đức Phật ở trong núi Kê (Gṛdhrakūṭa: núi Linh Thứu) tại nước Vương Xá (Rājagṛha) thời có người con trai của vị Trưởng Giả, tên là Thi Ca La Việt (Sīṅgālaka:Tác Thiện Sinh, đồng với Sujāta) sáng sớm thức dậy, chỉnh trang đầu tóc, tắm gội, mặc quần áo hoa mỹ, hướng về phương Đông vái bốn lạy, hướng về phương Nam vái bốn lạy, hướng về phương Tây vái bốn lạy, hướng về phương Bắc vái bốn lạy, hướng lên trên Trời vái bốn lạy, hướng xướng đất vái bốn lạy.
Đức Phật vào nước đó đi khất thực (phân vệ: Paiṇḍapātika), từ xa nhìn thấy liền đi đến nhà của người ấy, hỏi rằng: “Vì sao lại vái lạy sáu hướng ? Điều này ứng với Pháp nào ?”
Thi Ca La Việt (Sīṅgālaka) nói: “Khi cha con còn sống thời dạy bảo con vái lại sáu hướng, chẳng biết ứng với điều gì ? Nay cha con đã qua đời, nên về sau con chẳng dám làm trái ngược”
Đức Phật nói: “Cha ngươi dạy bảo ngươi vái lạy sáu hướng, tức chẳng phải dùng thân thể lễ bái”
Thi Ca La Việt liền quỳ thẳng lưng nói: “Nguyện xin Đức Phật vì con giải nói ý vái lạy sáu hướng này”.
Đức Phật nói: “Hãy lắng nghe ! Hãy giữ bên trong Tâm ! Việc ấy có vị Trưởng Giả là người thông tuệ, hay giữ gìn bốn Giới chẳng sai phạm. Đời này được người kính trọng, đời sau sinh lên Trời.
1_ Chẳng giết hại các quần sinh
2_ Chẳng trộm cắp
3_ Chẳng yêu phụ nữ của người khác
4_ Chẳng nói dối, nói hai lưỡi.
Tâm ham muốn tham lam, dâm dật, giận dữ, ngu si thì tự mình kềm chế chẳng nên nghe. Người chẳng thể kềm chế bốn ý này thì ngày càng nghe tên ác, như lúc mặt trăng lặn thời ánh sáng hơi mờ tối. Người hay tự mình kềm chế ý ác thì như mặt trăng mới mọc, ánh sáng ấy hơi sáng cho đến ngày 15 thời đầy tràn vậy”
Đức Phật nói: “Lại có sáu việc làm cho tiền tài ngày càng hao giảm.
1_ Ưa thích uống rượu
2_ Ưa thích bài bạc
3_ Ưa thích ngủ sớm dậy trễ
4_ Ưa thích thỉnh mời khách, cũng muốn khiến cho người thỉnh mời
5_ Ưa thích cùng theo chân Ác Tri Thức (Pāpa-mitra: bạn ác)
6_ Kiêu mạn khinh người
Phạm bốn điều ác bên trên, lại làm sáu việc này, gây trở ngại cho phẩm hạnh tốt đẹp (thiện hạnh) ấy cũng chẳng hề lo lắng sửa trị cuộc sống, tiền tài ngày càng hao giảm thời vái lạy sáu hướng bấy giờ có lợi ích nào chăng !?…”
Đức Phật nói: “Ác Tri Thức (bạn ác) có bốn hạng:
1_ Bên trong có Tâm oán, bên ngoài gượng ép làm bạn bè (Tri Thức)
2_ Ở trước mặt người thì nói lời tốt đẹp, sau lưng thì nói lời xấu ác
3_ Lúc có việc nguy cấp thời ở trước mặt người tỏ ra buồn khổ, sau lưng lại vui vẻ
4_ Bên ngoài như người thân thiết sâu đậm, bên trong toan tính khởi mưu oán
Thiện Tri Thức (Kalyāṇa-mitra: Bạn tốt) cũng có bốn hạng:
1_ Bên ngoài như oan gia, bên trong có ý thân thiết sâu đậm
2_ Ở trước mặt người,can ngay ngay thẳng. Ở bên ngoài nói điều tốt lành của người
3_ Bệnh gầy ốm, bị quan huyện bới lông tìm vết thời lo tìm cách giải giùm.
4_ Nghèo hèn chẳng hề bỏ quên, bấy giờ nghĩ cầu phương tiện muốn cho giàu có.
Ác Tri Thức (Bạn ác) lại có bốn hạng:
1_ Gây khó khăn, can ngăn sự dạy bảo làm điều tốt lành cho nên cùng theo chân điều ác.
2_ Dạy bảo rằng chẳng có ai không cùng với người ưa thích rượu làm bạn cho nên
cùng theo chân người nghiện rượu.
3_ Dạy bảo rằng tự mình bảo vệ lợi ích nên thay đổi nhiều việc
4_ Dạy bảo rằng cùng với người khôn ngoan làm bạn thì nên cùng với con bạc
(người thích bài bạc) kết tình sâu nặng.
Thiện Tri Thức (bạn tốt) cũng có bốn hạng:
1_ Thấy người nghèo túng thiếu thốn thời giúp cho sinh sống
2_ Chẳng cùng với người tranh giành tính toán.
3_ Ngày ngày, tiến thoái cùng nhau
4_ Ngồi, đứng luôn nghĩ nhớ đến nhau.
Thiện Tri Thức (bạn tốt) lại có bốn hạng:
1_ Bị Sứ đến bắt thì đem về che dấu không cho ai biết, về sau giúp đỡ giải quyết
2_ Có bệnh gầy ốm thì đem về chăm sóc, nuôi dưỡng
3_ Tri Thức (bạn hữu) bị chết thì mua sắm quan tài, trông coi việc tẩm liệm
4_ Tri Thức (bạn hữu) đã chết thì luôn nghớ nghĩ đến gia đình của người ấy
Thiện Tri Thức (bạn tốt) lại có bốn hạng:
1_ Muốn đấu tranh thì giúp đỡ cho nhau
2_ Muốn tuỳ theo Ác Tri Thức (bạn ác) thì can ngăn dừng lại.
3_ Muốn sửa trị đời sống thì khuyên sửa trị đời sống
4_ Chẳng ưa thích Kinh, Đạo thì dạy bảo khiến cho tin tưởng, ưa thích
Ác Tri Thức (bạn ác) lại có bốn hạng:
1_ Bị lấn lướt chút ít, liền thay đổi, rất giận dữ
2_ Có việc cấp bách nhờ làm giúp thì chẳng chịu làm
3_ Thấy người gặp nguy cấp thời bỏ chạy, tránh xa người
4_ Thấy người bị chết thì vứt bỏ chẳng hề giúp đỡ.
Đức Phật nói: “Hãy chọn lựa điều Thiện rồi thuận theo. Hãy xa lìa điều ác. Ta cùng với Thiện Tri Thức (bạn tốt) theo nhau sẽ tự đến thành Phật”.
_Đức Phật nói: “Vái lạy hướng Đông là con cái phụng sự cha mẹ, nên có năm việc:
1_ Nên nghĩ nhớ sửa trị đời sống
2_ Sáng sớm thức dậy, sai khiến nô tỳ làm việc thời làm cơm với thức ăn
3_ Chẳng lợi ích thì cha mẹ lo lắng
4_ Nên nghĩ nhớ ân của cha mẹ
5_ Cha mẹ bị bệnh tật thì nên sợ hãi, cầu thầy thuốc đến chữa trị.
Cha mẹ đối đãi với con cái cũng có năm việc:
1_ Nên nghĩ nhớ khiến cho bỏ điều ác làm điều lành
2_ Nên dạy bảo tính toán, đọc sách cho thông suốt
3_ Nên dạy bảo trì giữ Kinh, Giới
4_ Nên sớm dựng vợ gả chồng
5_ Hết thảy việc trong nhà nên cung cấp cho.
_ Vái lạy hướng Nam là Đệ Tử phụng sự Thầy, nên có năm việc:
1_ Nên kính trọng, hỏi han
2_ Nên nghĩ nhớ ân của Thầy
3_ Tuỳ theo điều Thầy đã dạy bảo
4_ Nghĩ nhớ chẳng chán
5_ Nên tiếp nối làm rạng danh Thầy.
Thầy dạy Đệ Tử cũng có năm việc:
1_ Nên khiến cho mau biết
2_ Nên khiến cho vượt hơn Đệ Tử của người khác
3_ Muốn khiến cho biết, chẳng hề quên
4_ Đều vì Đệ Tử giải nói các điều nghi ngờ, khó khăn
5_ Muốn khiến cho Đệ Tử có Trí Tuệ vượt hơn Thầy
_Vái lạy hướng Tây là vợ phụng sự chồng, có năm việc:
1_ Chồng từ bên ngoài về thì nên đứng dậy nghinh đón
2_ Chồng đi ra ngoài thì nên thổi nấu, quét dọn, chờ chồng về
3_ Chẳng được có Tâm dâm dục với người đàn ông khác. Bị chồng mắng chửi thì chẳng được làm dáng mắng chửi lại.
4_ Nên dùng sự răn dạy của chồng
5_ Chồng nghỉ ngơi thì lo đắp che xong mới được nằm
Chồng đối đãi với vợ cũng có năm việc:
1_ Ra vào nên kính trọng người vợ
2_ Ăn uống đúng thời tiết và đưa cho quần áo mặc.
3_ Nên cấp cho vợ: vàng, bạc, chuỗi ngọc…
4_ Hết thảy việc nhiều, ít trong nhà đều giao phó cho vợ
5_ Chẳng được ở bên ngoài, thuận theo điều tà bậy mà sai bảo vợ
_ Vái lạy hướng Bắc là con người đối đãi với thân thuộc, bạn bè, nên có năm việc:
1_ Nhìn thấy gây tội ác thì dắt riêng đến chỗ kín đáo, can ngăn, mắng chửi, ngăn cấm
2_ Người hầu có việc nguy cấp thì chạy vội đến cứu giúp.
3_ Có lời nói riêng tư thì chẳng được vì người khác nói
4_ Nên kính trọng lẫn nhau
5_ Hết thảy vật tốt, nên chia cho nhiều, ít
_ Hướng xuống đất vái lạy là Đại Phu đối đãi với tôi tớ nam, khách khứa, tôi tớ gái, người sai khiến… cũng có năm việc:
1_ Nên cho họ ăn uống đúng lúc và ban cho quần áo mặc
2_ Họ bị bệnh gầy ốm thì nên vì họ, kêu thầy thuốc đến chữa trị
3_ Chẳng được đánh đập họ một cách sằng bậy
4_ Họ có tài vật riêng thì chẳng được cướp đoạt
5_ Khi giao chia tài vật cho họ thì nên phân chia bình đẳng
Tôi tớ nam, khách khứa, tôi tớ gái, người sai khiến đối đãi phụng sự Đại Phu cũng có năm việc:
1_ Nên dậy sớm đừng để cho Đại Phu kêu gọi
2_ Việc nên làm thì phải dùng Tâm làm
3_ Nên yêu giữ vật của Đại Phu, chẳng được vứt bỏ, đem cho người hành khất
4_ Đại Phu ra vào thì nên nghinh đón
5_ Nên khen ngợi điều tốt lành của Đại Phu, chẳng được nói điều ác của người ấy.
_Hướng lên Trời vái lạy là con người phụng sự Sa Môn, Đạo Sĩ nên dùng năm việc:
1_ Dùng Tâm tốt lành hướng đến
2_ Chọn lựa lời tốt đẹp cùng nói chuyện
3_ Dùng thân kính trọng
4_ Nên mến mộ
5_ Sự hùng mạnh trong người của Sa Môn, Đạo Sĩ thì nên cung kính, phụng sự, hỏi việc cứu đời
Sa Môn Đạo Sĩ nên dùng sáu Ý đối đãi với dân phàm:
1_ Dạy bảo nên bố thí, chẳng được tự mình tham lam keo kiệt
2_ Dạy bảo giữ gìn Giới, chẳng được tự mình phạm vào Sắc Giới
3_ Dạy bảo nên nhẫn nhục, chẳng được tự mình giận dữ
4_ Dạy bảo nên tinh tiến, chẳng được tự mình lười biếng
5_ Dạy bảo cho người nên Nhất Tâm, chẳng được tự buông thả Ý
6_ Dạy bảo cho người có Tuệ sáng, chẳng được tự mình ngu si.
Sa Môn, Đạo Sĩ dạy cho người bỏ ác làm Thiện, mở bày Chính Đạo, Ân to lớn như cha mẹ.
Hành như vậy thời biết ý nghĩa vái lạy sáu hướng mà cha của ngươi khi còn sống đã dạy bảo. Lo gì chẳng giàu có ư ?”
Thi Ca La Việt liền xin thọ nhận năm Giới, làm lễ rồi lui ra.
Đức Phật nói Kệ chúc tụng (bái kệ):
_Gà gáy nên dậy sớm
Mặc áo bước xuống giường
Xúc miệng khiến Tâm tịnh
Hai tay dâng hoa, hương
Phật Tôn hơn chư Thiên
Quỷ Thần chẳng thể bằng
Cúi đầu nhiễu chùa tháp
Chắp tay lễ mười phương
_ Hiền Giả chẳng tinh tiến
Ví như cây không rễ
Rễ đứt, cành lá rơi
Khi nào sẽ liền lại ?!…
_ Hái hoa, giữ trong ngày
Còn có mấy Thời tươi
Phóng Tâm, tự buông Ý
Mệnh lỗi lại nói gì ?!…
_Người nên lo Phi Thường (?Vô thường)
Xét lại không có kỳ
Phạm lỗi chẳng tự hiểu
Mệnh lỗi vì tự lừa
Nay sẽ vào Nê Lê (Niraya, hay Naraka: Địa Ngục)
Khi nào có dịp ra ?!…
_Hiền Giả nhận Phật Ngữ (lời Phật dạy)
Giữ Giới (Śīla) kỹ đừng nghi
Phật như cây hoa tốt
Không ai chẳng yêu thích
Chốn chốn người dân nghe
Tất cả đều vui vẻ
_ Khiến Ta được Phật thời
Nguyện khiến như Pháp Vương (Dharma-rāja)
Vượt qua các Sinh Tử
Không gì chẳng giải thoát Giới (Śīla),
Đức (Guṇa) đáng nương cậy
Phước Báo thường tuỳ mình
Hiện Pháp vì người, lớn
Rốt xa ba đường ác
_ Giới (Śīla) ngăn trừ sợ hãi
Phước Đức, Tam Giới Tôn (tôn quý trong ba cõi)
Quỷ Thần Tà độc hại
Chẳng phạm người có Giới
_ Vào đời Tục, sống khổ
Mạng mau như ánh điện
Khi già, bệnh, chết đến
Xét lại không cưỡng nổi
Không người thân nương cậy
Không có nơi ẩn dấu
Phước Trời có lúc hết
Mạng người khởi lâu dài
_Cha mẹ, nhà cửa ở
Ví như người khách trọ
Mệnh xưa hết tuổi thọ
Buông bỏ nhận thân mới
Đuổi bắt điều đã làm
Vô tế (không có bờ mé) như bánh xe
Khởi, diệt theo Tội, Phước
Sinh tử, mười hai Nhân
_Hiện Thân vui khỏi loạn
Cứu, nuôi tất cả người
Thương kẻ vướng mọi Tà
Chìm đắm ở vực sâu
Gắng tiến, dùng sáu Độ
Tu hành Trí tự nhiên
Thế nên cúi đầu lễ
Quy mệnh Thiên Trung Thiên
_ Thân người đã khó được
Làm người lại thích Dục
Tham, Dâm nơi Ý Thức
Tưởng nhớ không chán bỏ
Sớm gieo, đời sau trồng
Vui vẻ đến Địa Ngục
Sáu Tình cầu trọn đủ
Tự khốn nhục làm chi ?!…
_Tất cả hay Chính Tâm
Thần ba đời (Tam Thế Thần) cát tường
Chẳng dự cùng tám nạn
Tuỳ hành sinh mười phương
Sinh ra, hướng tinh tiến
Sáu Độ (6 Ba La Mật) làm cầu (cây cầu) tốt
Rộng khuyên Tuệ Vô Cực
Tất cả nương Thần Quang
PHẬT NÓI KINH THI CA LA VIỆT LỄ SÁU PHƯƠNG _Hết_
Kinh Ý nghĩa lễ bái sáu phương (Thi-ca-la-việt)
Việt dịch: Nguyễn Minh Tiến
Khi Phật ở tại thành Vương Xá, vào buổi sáng sớm đi khất thực, nhìn xa xa về phía núi Kê Túc thấy có một chàng con nhà trưởng giả tên Thi-ca-la-việt đang chải đầu, súc miệng, rửa mặt, thay y phục sạch sẽ, rồi hướng về phương đông lạy 4 lạy, hướng về phương nam, phương tây, phương bắc cũng lạy mỗi phương 4 lạy, lại hướng lên trời lạy 4 lạy, hướng xuống đất lạy 4 lạy.
Đức Phật liền đến nhà người ấy, hỏi: “Con đang làm gì vậy?”
Thi-ca-la-việt đáp: “Con ở đây lễ lạy sáu phương.”
Đức Phật hỏi: “Lễ lạy sáu phương như vậy là theo pháp gì?”
Thi-ca-la-việt đáp: “Khi cha mẹ còn sống có dạy con mỗi buổi sáng sớm phải lễ lạy sáu phương, con cũng không hiểu để làm gì. Nay cha mẹ đã qua đời, con không dám trái lời dạy.”
Phật nói: “Cha con dạy việc lễ lạy sáu phương không phải dùng thân lễ lạy như thế. Con đã hiểu sai ý của cha con rồi.”
Thi-ca-la-việt liền quỳ xuống thưa: “Xin Phật từ bi vì con giảng giải ý nghĩa việc lễ lạy sáu phương.”
Phật dạy: “Được, con hãy lắng nghe cho kỹ! Hãy để tâm vào lời dạy, ta sẽ vì con giảng rõ.
“Hàng trưởng giả, những người trí thức, nếu như có thể trừ dứt sáu pháp xấu ác, đó chính là lễ lạy sáu phương.
“Những gì là sáu pháp xấu ác? Một là tham uống rượu, hai là mê cờ bạc, ba là thích ngủ sớm dậy trễ, bốn là ưa mời thỉnh khách khứa, năm là thích kết giao cùng kẻ xấu, sáu là ham thích việc giết hại, lừa gạt, dan díu vợ người. Nếu có thể trừ dứt sáu việc ấy, đó là lễ lạy sáu phương.
“Nếu con không trừ được sáu việc ấy thì sự lễ lạy nào có ích gì? Lại còn lan tràn tiếng xấu, việc nhà rối loạn, tiền của tiêu tốn, thân thể yếu đuối, gầy còm, việc lành ngày càng mai một, kẻ xa người gần không còn ai kính trọng.
“Này chàng trai! Nên biết chọn người tốt để giao tiếp, học hỏi theo; tránh xa những người xấu ác. Như ta từ vô số kiếp trước vẫn thường gần gũi những bậc thiện tri thức, nay mới được thành quả Phật.”
Phật lại bảo Thi-ca-la-việt: “Bảo con lễ lạy phương đông là có ý nghĩa phụng dưỡng cha mẹ phải nhớ 5 điều. Một là hết lòng hiếu kính, chăm nom thăm viếng, thường khiến cha mẹ vui lòng. Hai là mỗi ngày dậy sớm, sắp xếp việc nhà, việc cơm nước, luôn giữ theo nếp nhà cần kiệm. Ba là thay cha mẹ làm mọi việc nặng nhọc. Bốn là luôn nhớ nghĩ đến ơn đức của cha mẹ. Năm là khi cha mẹ có bệnh tật hết lòng lo lắng, tìm thầy thuốc chữa trị.
“Cha mẹ đối với con cũng có 5 điều. Một là dạy con bỏ điều ác, làm điều lành. Hai là dạy con thường gần gũi những người hiểu biết. Ba là dạy con chuyên cần, chú trọng việc học hỏi. Bốn là khi đến tuổi thì lo việc dựng vợ gả chồng. Năm là chia phần tài sản trong gia đình cho con.
“Lễ lạy phương nam là có ý nghĩa người học trò phụng sự thầy phải nhớ 5 điều. Một là giữ lòng cung kính, sợ sệt. Hai là y theo lời thầy dạy bảo. Ba là có những việc giặt giũ, sửa sang phải gắng sức làm. Bốn là chuyên cần học hỏi không chán nản. Năm là sau khi thầy qua đời phải giữ lòng kính ngưỡng, nhớ tưởng, ngợi khen những đức độ của thầy, nhất thiết không được luận bàn đến những điều sai trái, lầm lỗi trước đây của thầy.
“Thầy dạy đệ tử cũng có 5 điều. Một là hết lòng dạy bảo không mỏi mệt, khiến cho học trò mau được hiểu biết. Hai là mong muốn học trò của mình vượt hơn học trò người khác. Ba là muốn cho học trò không quên những kiến thức đã học. Bốn là khi học trò có những chỗ khó khăn, không hiểu, phải tận tình giảng rõ. Năm là mong muốn dạy dỗ sao cho học trò có được trí tuệ vượt hơn cả thầy.
“Lễ lạy phương tây là có ý nghĩa người vợ đối với chồng phải nhớ 5 điều. Một là khi chồng từ bên ngoài đi vào phải đứng lên chào đón. Hai là khi chồng vắng nhà phải lo việc bếp núc, quét dọn, giữ lòng kính trọng mà chờ đợi. Ba là không được khởi lòng dâm dục với người ngoài, phải giữ chặt cửa khuê phòng. Bốn là khi chồng có nặng lời, không được tùy tiện đối đáp, lộ vẻ giận tức; chồng có dạy răn điều gì phải cung kính nghe theo; có sở hữu món gì cũng không được cất giấu để dùng riêng. Năm là phải đợi chồng nghỉ ngơi trước, tự mình xem xét cẩn thận việc nhà rồi mới đi nghỉ sau.
“Chồng đối với vợ cũng có 5 điều. Một là mỗi khi ra vào đều giữ lòng tương kính. Hai là việc ăn uống có giờ giấc thích hợp, không để vợ phải khó nhọc, buồn bực. Ba là khi vợ muốn mua sắm quần áo, đồ trang sức… chớ nên trái ý; nhà giàu có thì sắm đủ, nghèo khó thì tùy sức. Bốn là giao phó tài sản trong nhà cho vợ coi sóc, gìn giữ. Năm là không được dan díu tư tình với người khác, khiến vợ phải sanh lòng nghi ngờ.
“Lễ lạy phương bắc là có ý nghĩa trong sự giao tiếp cư xử với thân thuộc, bạn bè, đôi bên đều phải nhớ 5 việc. Một là khi có người làm việc xấu ác, lỗi lầm, những người khác phải thay nhau khuyên bảo, can gián, ngăn chặn. Hai là khi có người gặp tai nạn rủi ro, ốm đau tật bệnh, những người khác phải quan tâm chia sẻ giúp đỡ, chữa trị bệnh tật. Ba là khi một ai đó có lời nói riêng trong nhà, những người khác không được mang ra nói với người ngoài. Bốn là phải giữ lòng kính trọng, ngợi khen điều tốt của nhau; duy trì quan hệ tới lui thăm viếng; nếu như có lúc đụng chạm, xung đột nhau cũng không được sanh lòng buồn giận, oán hờn. Năm là trong quan hệ có sự khác biệt giàu nghèo chẳng giống nhau, nên giúp đỡ, hỗ trợ, cứu vớt lẫn nhau; khi có món ngon vật quý nên chia sẻ cho nhau.
“Lễ lạy phương dưới là có ý nghĩa người chủ đối với những kẻ giúp việc phải biết 5 điều. Một là trước hết phải lưu tâm đến các nhu cầu đói no, lạnh nóng của họ, rồi sau mới sai khiến công việc. Hai là khi họ có bệnh phải lo mời thầy thuốc chữa trị. Ba là không được sai lầm dùng đến đòn roi, đánh đập, cần phải tra xét sự việc rõ ràng rồi sau mới trách phạt. Việc có thể tha thứ thì nên tha thứ; không thể tha được mới phải trách phạt để dạy dỗ. Bốn là khi họ có đôi chút tiền riêng không được tìm cách đoạt lấy. Năm là khi cung cấp, phân chia món gì cho họ đều phải công bằng, bình đẳng như nhau, không được có ý thiên vị.
“Người giúp việc đối với chủ cũng có 5 việc. Một là phải lo dậy sớm, không đợi chủ gọi. Hai là phải biết những việc nên làm thì tự lưu tâm làm, không để nhọc lòng chủ sai khiến. Ba là phải biết thương tiếc quý trọng tài sản của chủ, không được coi rẻ mà vất bỏ, làm hư hỏng. Bốn là mỗi khi chủ nhà có việc ra vào, phải lưu tâm đưa đón. Năm là chỉ nên ngợi khen những điểm tốt đẹp của chủ, không được bàn nói những việc xấu lỗi.
“Lễ lạy phương trên là có ý nghĩa người cúng dường các bậc sa-môn, thiện tri thức phải nhớ 5 điều. Một là phải dùng tâm chân thật hướng về. Hai là phải cung kính làm việc phụng sự, không cho là khó nhọc. Ba là phải thường nhiều lần thưa hỏi đạo lý. Bốn là phải lắng nghe, suy ngẫm rồi tu tập làm theo. Năm là phải thưa hỏi rõ về tông chỉ của việc niệm Phật, tham thiền, ngày đêm chuyên cần tu tập.
“Hàng sa-môn, thiện tri thức khi chỉ bày cho người cũng phải nhớ 5 điều. Một là dạy người tu tập các pháp bố thí, trì giới, nhẫn nhục, tinh tấn, định tâm, trí huệ. Hai là dạy người những điều thuộc về oai nghi, lễ tiết, không để buông thả, phóng túng. Ba là dạy người giữ cho lời nói với việc làm luôn tương xứng, hoặc thà nói ít làm nhiều chứ không được nói nhiều làm ít. Bốn là dạy người chuyên cần lễ bái Tam bảo, khởi lòng thương xót hết thảy mọi loài chúng sanh. Năm là dạy người hồi hướng công đức, phát nguyện cầu sanh Tịnh độ, chứng đắc đạo Bồ-đề rồi sẽ trở lại hóa độ chúng sanh.
“Làm theo đúng như những điều trên gọi là cung kính vâng theo lời cha lễ lạy sáu phương. Nếu không làm được như vậy, dù lễ lạy cũng là vô ích.”
Bấy giờ, Thi-ca-la-việt liền xin thọ trì Năm giới, ân cần lễ bái Phật.
Đức Phật liền nói kệ tóm lại rằng:
Gà gáy sớm thức dậy,
Mặc áo, bước xuống giường,
Rửa mặt, súc miệng sạch,
Hai tay dâng hương hoa.
Khêu đèn, thay nước sạch
Cúng dường Phật, Pháp, Tăng.
Chắp tay cung kính lễ,
Phát nguyện đền Bốn ơn.
Sáu pháp ba-la-mật,
Thảy thảy đều tu học.
Bố thí trừ tham lam,
Trì giới không hủy phạm,
Nhẫn nhục hết nóng giận,
Tinh tấn khỏi mê trầm,
Định tâm không tán loạn,
Trí huệ dứt ngu si.
Ngày tháng chẳng đợi người,
Chuyên cần không lười nhác.
Khổ sanh, già bệnh, chết,
Mạng người nào được lâu!
Huống chi lúc lâm chung,
Thân thuộc không thể giúp,
Lại không nơi trốn tránh,
Không thuốc nào cứu được.
Phước trời còn phải hết,
Phước người được bao lâu?
Cha mẹ cùng vợ, con…
Như khách cùng quán trọ,
Cùng ngủ nghỉ qua đêm,
Sáng ra, người một nẻo.
Vô thường cũng như vậy,
Sớm lo hướng cõi Phật.
Huống chi trong sáu đường,
Luân hồi không tạm nghỉ.
Nay may được làm người,
Lại nghe pháp sâu mầu.
Tự tu, dạy người tu,
Ta, người đều lợi ích.
Ba-la-mật là thuyền,
Vượt qua biển sanh tử.
Cực Lạc A-di-đà,
Nguyện lực khó nghĩ bàn.
Dẫn bước lên thềm vàng,
Được thọ ký quả Phật.
Bốn chúng vâng làm theo,
Cầu sanh về Cực Lạc.
Con trai ông Thiện Sanh,
Nghe Phật thuyết pháp rồi,
Lòng hân hoan phấn khởi,
Lễ bái tin nhận lời.


