Skip to content
-
Nam Mô A Di Đà Phật
Tàng Kinh Các

Sưu Tầm và Chia Sẻ Kinh Sách

Tàng Kinh Các

Sưu Tầm và Chia Sẻ Kinh Sách

  • Home
  • Kinh
    • Kinh Tạng Nam Truyền
      • kinh trường bộ
      • kinh trường bộ html
      • Kinh Trung Bộ
      • Kinh Tương Ưng Bộ
      • Kinh Tăng Chi Bộ
      • KInh Tiểu Bộ
      • Tạng Vi Diệu Pháp
      • Luật Tạng ( Nam Truyền )
      • Kinh Tạng Nam Truyền
        • KINH TẠNG NAM TRUYỀN (PALI TẠNG / NIKAYA)
        • Sơ Đồ Kinh Điển Tam Tạng Pāli (Tipiṭaka)
    • Linh Sơn Pháp Bảo Đại Tạng Kinh – Tạng Kinh Bắc Truyền
    • Càn Long Đại Tạng Kinh
    • TAM TẠNG THÁNH ĐIỂN PHẬT GIÁO VIỆT NAM
    • Đại Tạng Kinh Bắc Truyền Hán Tạng Việt Tạng
      • Bộ A Hàm – Tạng Kinh Bắc Truyền
      • Bộ Bản Duyên – Tạng Kinh Bắc Truyền
      • Bộ Bát Nhã – Tạng Kinh Bắc Truyền
      • Bộ Pháp Hoa – Tạng Kinh Bắc Truyền
      • Bộ Hoa Nghiêm – Tạng Kinh Bắc Truyền
      • Bộ Bảo Tích – Tạng Kinh Bắc Truyền
      • Bộ Niết Bàn – Tạng Kinh Bắc Truyền
      • Bộ Đại Tập – Tạng Kinh Bắc Truyền
      • Bộ Kinh Tập – Kinh Tạng Bắc Truyền
      • Bộ Mật Giáo – Tạng Kinh Bắc Truyền
      • Bộ Luật – Tạng Kinh Bắc Truyền
      • Bộ Thích Kinh Luận – Tạng Kinh Bắc Truyền
      • Bộ Tỳ Đàm – Tạng Kinh Bắc Truyền
      • Bộ Trung Quán Luận – Tạng Kinh Bắc Truyền
      • Bộ Du Già – Tạng Kinh Bắc Truyền
      • Bộ Luận Tập – Tạng Kinh Bắc Truyền
      •  Bộ Kinh Sớ – Tịnh Độ Tông – Tạng Kinh Bắc Truyền
      •  Bộ Kinh Sớ – Thiền Tông – Tạng Kinh Bắc Truyền
      • Bộ Luật Sớ – Tạng Kinh Bắc Truyền
      • Bộ Chư Tông – Tạng Kinh Bắc Truyền
      • Bộ Sử Truyện – Tạng Kinh Bắc Truyền
      • Bộ Sự Vị – Tạng Kinh Bắc Truyền
      • Bộ Ngoại Giáo – Tạng Kinh Bắc Truyền
      • Bộ Cổ Dật – Tạng Kinh Bắc Truyền
      • Bộ Nghi Tự – Tạng Kinh Bắc Truyền
      • Bộ Mục Lục – Tạng Kinh Bắc Truyền
  • Luật
  • Luận
  • Ebook – Mp3
  • Privacy Policy
  • Home
  • Kinh
    • Kinh Tạng Nam Truyền
      • kinh trường bộ
      • kinh trường bộ html
      • Kinh Trung Bộ
      • Kinh Tương Ưng Bộ
      • Kinh Tăng Chi Bộ
      • KInh Tiểu Bộ
      • Tạng Vi Diệu Pháp
      • Luật Tạng ( Nam Truyền )
      • Kinh Tạng Nam Truyền
        • KINH TẠNG NAM TRUYỀN (PALI TẠNG / NIKAYA)
        • Sơ Đồ Kinh Điển Tam Tạng Pāli (Tipiṭaka)
    • Linh Sơn Pháp Bảo Đại Tạng Kinh – Tạng Kinh Bắc Truyền
    • Càn Long Đại Tạng Kinh
    • TAM TẠNG THÁNH ĐIỂN PHẬT GIÁO VIỆT NAM
    • Đại Tạng Kinh Bắc Truyền Hán Tạng Việt Tạng
      • Bộ A Hàm – Tạng Kinh Bắc Truyền
      • Bộ Bản Duyên – Tạng Kinh Bắc Truyền
      • Bộ Bát Nhã – Tạng Kinh Bắc Truyền
      • Bộ Pháp Hoa – Tạng Kinh Bắc Truyền
      • Bộ Hoa Nghiêm – Tạng Kinh Bắc Truyền
      • Bộ Bảo Tích – Tạng Kinh Bắc Truyền
      • Bộ Niết Bàn – Tạng Kinh Bắc Truyền
      • Bộ Đại Tập – Tạng Kinh Bắc Truyền
      • Bộ Kinh Tập – Kinh Tạng Bắc Truyền
      • Bộ Mật Giáo – Tạng Kinh Bắc Truyền
      • Bộ Luật – Tạng Kinh Bắc Truyền
      • Bộ Thích Kinh Luận – Tạng Kinh Bắc Truyền
      • Bộ Tỳ Đàm – Tạng Kinh Bắc Truyền
      • Bộ Trung Quán Luận – Tạng Kinh Bắc Truyền
      • Bộ Du Già – Tạng Kinh Bắc Truyền
      • Bộ Luận Tập – Tạng Kinh Bắc Truyền
      •  Bộ Kinh Sớ – Tịnh Độ Tông – Tạng Kinh Bắc Truyền
      •  Bộ Kinh Sớ – Thiền Tông – Tạng Kinh Bắc Truyền
      • Bộ Luật Sớ – Tạng Kinh Bắc Truyền
      • Bộ Chư Tông – Tạng Kinh Bắc Truyền
      • Bộ Sử Truyện – Tạng Kinh Bắc Truyền
      • Bộ Sự Vị – Tạng Kinh Bắc Truyền
      • Bộ Ngoại Giáo – Tạng Kinh Bắc Truyền
      • Bộ Cổ Dật – Tạng Kinh Bắc Truyền
      • Bộ Nghi Tự – Tạng Kinh Bắc Truyền
      • Bộ Mục Lục – Tạng Kinh Bắc Truyền
  • Luật
  • Luận
  • Ebook – Mp3
  • Privacy Policy
Close

Search

Home/Kinh Tạng Bắc Truyền/Bộ A Hàm/Thiện Sinh Tử Kinh [善生子經] -Kinh Người Con Của Thiện Sinh
Thi Ca La Việt Lục Phương Lễ Kinh [尸迦羅越六方禮經]
Bộ A Hàm

Thiện Sinh Tử Kinh [善生子經] -Kinh Người Con Của Thiện Sinh

By admin
29 Min Read
Comments Off on Thiện Sinh Tử Kinh [善生子經] -Kinh Người Con Của Thiện Sinh

Thiện Sinh Tử Kinh
[ 善 生 子 經 ]
Kinh Người Con Của Thiện Sinh

Nguyên bản Hán văn – Bản khắc Càn long – Vĩnh Lạc Đại Điển – CBETA

Bản chia sẻ của CBETa

Thiện Sinh Tử Kinh
[ 善 生 子 經 ]

  thuộc tập T01, kinh số 17, tổng cộng 1 quyển, – Tống Chi Pháp Độ dịch,

Thiện Sanh Tử Kinh [善生子經]Download
Nguyên Bản Chữ Hán

Thiện Sinh Tử Kinh
[ 善 生 子 經 ]

( Bản khắc gỗ Càn long và Vĩnh Lạc Đại Điển )

Bản Khắc Càn Long

Thiện Sanh Tử Kinh [善生子經] (1)Download

Vĩnh Lạc Đại Điển

Thiện Sanh Tử Kinh [善生子經] (2)Download

Bản Dịch Tiếng Việt

Bộ A Hàm

Linh sơn pháp bảo đại tạng kinh

Thiện Sinh Tử Kinh
[ 善 生 子 經 ]
Kinh Người Con Của Thiện Sinh

  thuộc tập T01, kinh số 17, tổng cộng 1 quyển, – Tống Chi Pháp Độ dịch,

Kinh Thiện Sanh Tử

Việt dịch: Thích Chánh Lạc

Nghe như vầy:
Một thời Chúng Hựu (Thế Tôn) du hóa tại núi Kỳ xà quật, thuộc thành La duyệt kỳ (Vương xá). Bấy giờ cư sĩ Thiện Sanh, bệnh tật nguy cấp, bảo con:


– Sau khi cha mất, con phải hướng sáu phương mà lễ bái.


Cư sĩ Thiện Sanh ngay ngày hôm sau thì qua đời. Người con bèn cung kính lo việc chôn cất, cúng dường tang sự xong, liền dậy sớm, tắm rửa, mặc áo mới, đứng trên bờ sông lễ bái sáu phương, nói:


– “Tôi cung kính những chúng sanh ở phương Ðông, những chúng sanh ấy cũng lễ bái cung kính tôi”. Giáp vòng các phương Nam, phương Tây, phương Bắc, phương Trên và Dưới, phương nào cũng nói như vậy.


Bấy giờ vào buổi sáng sớm, đức Phật đắp y, ôm bát vừa muốn vào thành thì thấy con của cư sĩ Thiện Sanh đứng trên bờ sông lễ bái sáu phương, nói như vậy… Chúng Hựu liền đến và hỏi:


– Này con ông cư sĩ, ngươi nghe ai nói mà lại dậy sớm, tắm rửa, mặc áo mới, đứng trên bờ bái yết sáu phương, tự nói lên lời cung kính lễ bái? Lạy các phương xong lại tắm, ngươi cung kính vị pháp sư nào vậy, này Thiện Sanh tử?
Thiện Sanh tử thưa:


– Cha con khi sắp mất, trước có dạy như vậy, cho nên con làm theo, chứ không nghe theo thầy nào cả.
Chúng Hựu bảo:


– Này con ông cư sĩ! Lời nói của cha ngươi không phải là sáu phương này. Vả lại sớm vướng tình dục nơi sáu phương, như có hành vi xấu ác, cấu uế của bốn mặt không thể sám hối. Như vậy thì thân này chết tinh thần sẽ sanh vào trong cõi ác như địa ngục.

Phàm con người vì bốn việc này mà bị lao khổ, cần phải biết rõ.
Những gì là bốn?


_ Một là ham thích sát sanh;
_ Hai là ham thích trộm cắp;
_ Ba là tà hạnh dâm dục;
_ Bốn là thích nói dối.


Phật nói kệ tụng về ý nghĩa này:


Sát sanh cùng trộm cắp,
Lừa dối và nói láo,
Chạy theo vợ người khác
Kẻ trí không khen ngợi.


Lại nữa, này con ông cư sĩ! Có bốn việc đưa đến nẻo ác. Những gì là bốn?


_ Một là tham dục;
_ Hai là giận dữ;
_ Ba là si mê;
_ Bốn là sợ hãi.


Bài kệ tụng về ý nghĩa này:


Có dục, sân, si, sợ
Không lãnh thọ chánh pháp,
Do đó tiếng xấu xa,
Như trăng khuyết không tròn,
Không dục, sân, si, sợ,
Lại thừa lãnh chánh pháp,
Do đó danh tiếng thơm,
Như vầng trăng tròn đầy.


Lại nữa, này con ông cư sĩ! Có sáu tai hoạ làm tiêu tán tiền tài, đi vào đường ác cần phải biết. Những gì là sáu?


_ Một là thích rượu, phóng dật;
_ Hai là vào phòng người khác không đúng lúc;
_ Ba là đam mê cờ bạc;
_ Bốn là đam mê kỹ nhạc;
_ Năm là có bạn ác;
_ Sáu là trễ nải lười biếng.


Bài tụng về ý nghĩa này:


Uống rượu vào phòng khác,
Thích bài bạc, ca xướng,
Bạn ác cùng lười biếng
Bậc Thánh không khen ngợi.
Phàm rượu có sáu việc nguy biến cần phải biết. Những gì là sáu?


_ Làm tiêu hao tiền bạc.
_ Ðưa đến bệnh hoạn.
_ Khởi tranh chấp.
_ Sân hận nhiều.
_ Mất tiếng tốt.
_ Hao tổn trí não.


Ðã có những xấu ác này sẽ khiến phế bỏ sự nghiệp, tiền tài chưa đến sẽ không đến, đã đến rồi thì tiêu hết, vốn liếng có từ trước cũng hao sạch.
Dâm tà có sáu nguy biến cần phải biết. Những gì là sáu?


_ Không tự bảo vệ được thân mình.
_ Không bảo vệ được vợ con.
_ Không bảo vệ được gia đình quyến thuộc.
_ Do nghi ngờ sanh ra xấu ác.
_ Oan gia có được cơ hội.
_ Các khổ vây quanh.


Ðã có điều xấu ác này rồi sẽ khiến phế bỏ sự nghiệp, tiền tài chưa đến sẽ không đến, đã đến sẽ tiêu hết, vốn liếng có từ trước cũng hao sạch.
Vui chơi cờ bạc có sáu nguy biến cần phải biết. Những gì là sáu?


_ Thắng thì sanh oán.
_ Thua thì nổi nóng.
_ Bạn bè thì lo lắng.
_ Oan gia thì vui mừng.
_ Vào tù ngục ưu phiền.
_ Mọi người đều nghi ngờ.


Ðã có điều xấu ác này rồi sẽ phế bỏ sự nghiệp, tiền tài chưa đến sẽ không đến, đã đến sẽ tiêu hết, vốn liếng có từ trước cũng hao sạch.
Ham mê ca nhạc có sáu nguy biến cần phải biết. Những gì là sáu?


_ Tâm trí thích múa,
_ Tâm trí thích ca,
_ Tâm trí thích đàn,
_ Tâm trí thích âm điệu,
_ Tâm trí thích trống,
_ Tâm trí thích những việc như vậy.


Ðã có điều xấu ác này rồi sẽ phế bỏ sự nghiệp, tiền tài chưa đến sẽ không đến, đã đến sẽ tiêu hết, vốn liếng có từ trước cũng hao sạch.
Bạn ác có sáu nguy biến cần phải biết. Những gì là sáu?


_ Tập chuyện say sưa mê muội;
_ Tập khiến hôn loạn,
_ Tập theo nẻo buông lung,
_ Tập theo đến quán rượu,
_ Làm quen với kẻ tiểu nhơn,
_ Tập quen với lời nói thô bỉ.


Ðã có điều xấu ác này rồi sẽ phế bỏ sự nghiệp, tiền tài chưa đến sẽ không đến, đã đến sẽ tiêu hết, vốn liếng có từ trước cũng hao sạch.
Biếng nhác có sáu nguy biến cần phải biết. Những gì là sáu?


_ Ăn no không chịu làm việc,
_ Ăn đói không chịu làm việc,
_ Lạnh không chịu làm việc,
_ Nóng không chịu làm việc,
_ Sáng không chịu làm việc,
_ Tối không chịu làm việc.


Ðã có điều xấu ác này rồi sẽ phế bỏ sự nghiệp, tiền tài chưa đến sẽ không đến, đã đến sẽ tiêu hết, vốn liếng có từ trước cũng hao sạch. Bài tụng nói về ý nghĩa này:


Ưa sắc, nhạc, ca múa
Ngày ngủ đêm đi chơi
Bạn ác cùng làm ác
Kẻ ấy tổn hại lớn.
Cờ bạc rượu rối loạn
Theo đuổi vơ của người
Xa hiền gần kẻ ngu
Tổn hại như trăng khuyết
Thân tự kiêu tự đại
Hủy diệt đạo Sa môn
Tà kiến và keo kiệt
Ðó là kẻ tà mạn.
Phàm rượu hao tiền của
Ít lợi uống thêm khát
Bệnh rượu thêm nợ nần
Thân nguy loạn mau chóng.
Hoặc vì rượu kết bạn
Hoặc vì rượu phạm pháp
Muốn được lợi, tốt đẹp
Với rượu phải lo chừa.
Hoặc ngày như giữ giới
Tối lại trộm tà hạnh
Cũng tại vì lò rượu
Như vậy chớ có thân.
Chẳng theo đúng nóng lạnh
Như cỏ chẳng quý mình
Tinh tấn tu sự nghiệp
Như thế lợi mà hại.
Nếu chịu được nóng lạnh
Như cỏ chẳng quý mình
Tinh tấn tu sự nghiệp
Ðã an lại có ích.
Ði xuống của dần tiêu
Ði lên chưa từng tổn
Dốc theo bậc tôn quý
Vì thiện nên được thiện.
Lành lớn được tạo nên
Thành thật tập hạnh lành
Thân thích đều mến ưa
Thờ giới diệt điều ác.
Cho nên cần phải tập
Ðã làm rồi lại làm
Cùng thân thích đi lên
Như ngôi vua cao cả.


Lại nữa, này con ông cư sĩ! Có bốn loại giống như bạn nhưng không phải là bạn cần phải biết. Những gì là bốn?


_ Hãy chọn lấy vật lạ;
_ Nói lời nịnh hót;
_ Vì muốn làm đẹp mặt mình;
_ Vì mình chỉ bày những lời sai quấy.


Bài tụng về ý nghĩa này:


Bạn nhằm lấy vật lạ
Nói đẹp để êm tai
Gặp nhau toàn nịnh hót
Lời tà càng hiểm nguy.
Ðó chẳng phải là bạn
Người trí không kết thân
Ðã biết phải xa lìa
Như ra khỏi đường xấu.


Bạn hay chọn lấy vật lạ cần lấy bốn việc để biết. Những gì là bốn?


_ Tham chọn lấy vật ấy
_ Cho ít mà mong cầu nhiều.
_ Vì sợ sệt nên theo mình.
_ Vì điều lợi nên theo mình


Bài tụng nói về ý nghĩa này:


Phàm giữ lấy vật lạ
Cho ít mà mong nhiều
Do sợ, lợi nên theo
Kẻ tham lam đúng nhĩa.
Ðấy chẳng phải là bạn
Người trí không hết thân
Ðã biết nên xa lìa
Như ra khỏi đường xấu.


Bạn nói lời nịnh hót, cần lấy bốn việc để biết. Những gì là bốn?


_ Nói đời tư kẻ khác
_ Giấu đời tư của mình;
_ Ngoài mặt giả khen tốt;
_ Quay lưng thì bài xích.


Bài tụng về ý nghĩa này:


Thích nói đời tư người
Ðời tư mình thì giấu
Ngoài mặt giả khen tốt
Sau lưng lại nói xấu.
Kẻ đó không phải bạn
Người trí không kết thân
Ðã biết phải tránh xa
Như ra khỏi đường xấu.


Bạn vì muốn làm đẹp mặt mình cần lấy bốn việc để biết. Những gì là bốn?


_ Nói việc dở đã qua của người khác;
_ Âm thầm tìm lỗi ở tương lai;
_ Cho mà không thật lòng;
_ Mong cho người gặp nguy hiểm.


Bài tụng về ý nghĩa này:


Làm điều không thể làm
Bất lợi nên nói nịnh
Cho nhưng không thật lòng
Mong người nguy nhờ mình.
Kẻ đó không phải bạn
Người trí không kết thân
Ðã biết phải tránh xa
Như ra khỏi đường xấu.


Bạn tà giáo cần lấy bốn việc để biết. Những gì là bốn?


_ Khuyên người sát sanh;
_ Khuyên người trộm cắp;
_ Khuyên người tà dâm;
_ Khuyên người dối láo.


Bài tụng về ý nghĩa này:


Sát sanh cùng trộm cắp
Dối trá và nói láo
Theo đuổi vợ của người
Khuyên người làm như vậy.
Kẻ đó không phải bạn
Người trí không kết thân
Ðã biết phải tránh xa
Như ra khỏi đường xấu.


Lại nữa, này con ông cư sĩ! Có bốn loại bạn vì lòng nhân từ sáng suốt, muốn lợi người cần phải biết. Những gì là bốn?


_ Một là cùng khổ cùng vui;
_ Hai là cả hai cùng lợi;
_ Ba là vì hưng thạnh bổn nghiệp;
_ Bốn là vì lòng nhơn từ thương xót.

Bài tụng về ý nghĩa này:


An nguy cùng có nhau
Nhằm mục đích thiện lợi
Dốc vì sự nghiệp bạn
Thương xót dẫn đường chánh.
Những người bạn như vậy
Kẻ trí tập học hỏi
Hãy nên theo kẻ ấy
Lợi ích, không xấu ác.


Bạn cùng khổ cùng vui, nên lấy bốn việc để biết. Những gì là bốn?


_ Cho những vật báu của mình;
_ Cho tài lợi đối với vợ con;
_ Cho những vật nhà mình;
_ Nói trung thực nhẫn nhịn.


Bài tụng về ý nghĩa này:


Cho tài lợi của mình
Có tài lợi cũng cho
Cho tài lợi nhà mình
Nói trung thực nhẫn nhịn.
Những loại bạn như vậy
Kẻ trí tập thân cận
Hãy nên theo kẻ ấy
Lợi ích, không xấu ác.


Bạn có lợi cùng hưởng cần lấy bốn việc để biết. Những gì là bốn?


_ Không nói đời riêng kẻ khác;
_ Không giấu đời tư của mình
_ Gặp nhau nói điều thiện
_ Bài xích lối nói hai chiều.


Bài tụng về ý nghĩa này:


Không nói đời tư người
Không giấu đời tư mình
Gặp nhau nói điều thiện
Bài xích nói hai chiều.
Những loại bạn như vậy
Kẻ trí tập thân cận
Hãy nên theo kẻ ấy
Lợi ích, không xấu ác.


Bạn cho bổn nghiệp cần lấy bốn việc để biết. Những gì là bốn?


_ Vì lợi mà hành động;
_ Vì sức lực mà hành động
_ Buông lung thì can ngăn
_ Lấy điều thiện để nuôi dưỡng.


Bài tụng về ý nghĩa này:


Hành động vì tài lợi
Dùng sức giúp an ổn
Cắt đứt sự buông lung
Nuôi dưỡng thiện chí bạn.
Những loại bạn như vậy
Kẻ trí tập thân cận
Hãy nên theo kẻ ấy
Lợi ích, không xấu ác.


Bạn nhơn từ thương xót cần lấy bốn việc để biết. Những gì là bốn?


_ Dạy khuyên đứng vững để thành tựu đức tin;
_ Dạy khuyên đứng vững để thành tựu giới;
_ Dạy khuyên đứng vững để thành tựu văn;
_ Dạy khuyên đứng vững để thành tựu thí.


Bài tụng nói về ý nghĩa này:


Ðạo tín, giới, văn, thí
Hằng đem khuyến hóa người.
Những loại bạn như vậy
Kẻ trí tập thân cận
Hãy nên theo kẻ ấy
Lợi ích, không xấu ác.


Lại nữa, này con ông cư sĩ! Phàm ở phương Ðông như con thờ cha mẹ. Do đó con phải lấy năm việc để cung kính chơn chánh, phụng dưỡng chơn chánh, an ủi chơn chánh đối với cha mẹ. Những gì là năm?


_Nhớ nghĩ báo đáp việc nhà;
_Phải lo thay thế gánh vác
_Phải biết an ủi can ngăn
_Chỉ mong được cung cấp, nuôi dưỡøng cha mẹ
_Chỉ vui khi thấy cha mẹ.


Cha mẹ lại lấy năm việc để yêu thương con cái. Những gì là năm?


_Hãy tạo cơ nghiệp;
_Cùng lo tài lợi;
_Lo dựng vợ gả chồng;
_Dạy học theo kinh sách đạo lý;
_Ðem của cải phó thác cho con.


Ðó là hai phần ưa thích của phương Ðông, được pháp của các bậc Thánh xưa chế ra, làm con phải hiếu thảo, làm cha mẹ phải từ ái thương yêu, kẻ sĩ trượng phu mong lợi ích mà pháp thiện không suy thối.
Phàm ở phương Nam như đệ tử thờ Thầy, do đó đệ tử phải lấy năm việc để cung kính chơn chánh, phụng dưỡng chơn chánh, an ủi chơn chánh đối với Thầy. Những gì là năm?


_Phải hết lòng lắng nghe lời chỉ dạy
_Hãy yêu sự học,
_Phải siêng năng hầu hạ,
_Ðừng hành động sai trái,
_Hãy cúng dường Thầy.


Thầy lại lấy năm việc để thương yêu giáo dục đệ tử. Những gì là năm?


_Dạy đệ tử học những điều mình đã học,
_Lấy nghề hay truyền cho đệ tử,
_Khiến đệ tử siêng năng học hành,
_Dẫn dắt đệ tử đi con đường lành;
_Chỉ vẽ cho đệ tử biết những bạn hiền quen thuộc.


Ðó là hai phần ưa thích của phương Nam, được pháp của các Thánh xưa chế định, làm đệ tử phải khiêm cung, làm Thầy phải lấy lòng nhơn từ để dạy dỗ. Kẻ sĩ trượng phu mong được lợi ích mà pháp lành không suy thối.
Phàm ở phương Tây như chồng đối với vợ. Do đó chồng phải lấy năm việc để cung kính chơn chánh, nuôi dưỡng chơn chánh, an ủi chơn chánh đối với vợ. Những gì là năm?


_Hết lòng kính mến,
_Không giận dữ về ý của vợ;
_Không có ngoại tình với kẻ khác;
_Ðúng lúc cấp y phục, thức ăn;
_Ðúng thời cho những đồ trang sức báu.


Vợ lại có mười bốn điều để thờ chồng. Những gì là mười bốn?
_Khéo làm việc.
_Khéo tác thành mọi sự việc,
_Gìn giữ tài sản chồng giao phó,
_Gà gáy phải lo dậy,
_Tối thì đi ngủ,
_Làm việc phải học hỏi,
_Phải đóng cửa hầu chồng,
_Phải hầu thăm sức khỏe khi chồng đi xa về.
_Nói lời hòa nhã,
_Ngôn ngữ êm tai,
_Giường ghế phải ngay thẳng,
_Ðồ ăn uống phải tinh khiết,
_Nhớ nghĩ về bố thí;
_Cung cấp nuôi dưỡng chồng.
Ðó là hai phần ưa thích của phương Tây, được pháp của các Thánh xưa chế định điều thích đáng của vợ chồng, kẻ sĩ trượng phu mong được lợi ích, mà pháp thiện không suy thối.
Phàm ở phương Bắc như bạn đối với bằng hữu. Do đó bạn phải lấy năm việc để cung kính chơn chánh, nuôi dưỡng chơn chánh, an ủi chơn chánh đối với bằng hữu. Những gì là năm?
_Chánh tâm cung kính,
_Không giận ý bạn,
_Tình cảm trung thực,
_Luôn luôn phân phát đồ ngon ngọt,
_Ơn dày không quên.
Bạn hữu lại phải lấy năm việc để đối lại bạn của mình. Những gì là năm?
_Có điều sợ sệt thì bảo về nương tựa với mình.
_Có ngạo mạn thì quở trách.
_Có việc riêng thì che giấu.
_Cung cấp nuôi dưỡng thêm lợi ích.
_Nói trung thực nhẫn nhịn.
Ðó là hai phần ưa thích của phương Bắc được pháp của các Thánh xưa chế định trong việc giao tế của bằng hữu, kẻ sĩ trượng phu mong được lợi ích mà pháp thiện không suy thối.
Phàm ở phương dưới là người chủ đối với người giúp việc. Do đó người chủ phải lấy năm việc để cung kính chơn chánh, nuôi dưỡng chơn chánh, an ủi chơn chánh đối với người giúp việc. Những gì là năm?
_Tùy sức mà sai bảo.
_Ðúng thời cho cơm áo.
_Luôn luôn phân chia vị ngon ngọt.
_Luôn luôn khuyên bảo đồng đều.
_Có bệnh tật thì cho nghỉ ngơi.
Người giúp làm việc lại phải lấy mười việc để đối với chủ. Những gì là mười?


1. Làm việc giỏi
2. Làm việc hoàn tất
3. Khi được giao phó phải suy xét cẩn thận
4. Phải thức khuya dậy sớm để làm việc
5. Làm việc phải học hỏi
6. Khi làm việc phải gắng sức
7. Nhà chủ nghèo không được khinh mạn
8. Chủ gặp cảnh thiếu nghèo cũng không được bỏ.
9. Khi ra khỏi nhà phải nói: “Người chủ nhà tôi thông minh trí tuệ”.
10. ??????


Ðó là hai phần ưa thích của phương dưới được pháp của các Thánh xưa chế định, người chủ nên chấp hành, kẻ sĩ trượng phu mong được lợi ích mà pháp thiện không suy thối.
Phàm ở phương trên như người ở nơi gia đình bố thí cho Sa môn, Phạm chí. Do đó cư sĩ có năm điều cung kính chơn chánh, phụng dưỡng chơn chánh, an ủi chơn chánh đối với Sa môn Phạm chí. Những gì là năm?


_Mở cửa chờ đợi.
_Ði ra nghênh tiếp,
_Hỏi han và sắp đặt bàn ghế chỗ ngồi,
_Bảo hộ cất giữ kinh pháp,
_Bố thí đồ ăn trong sạch thanh tịnh; lấy đó để cúng dường Sa môn Phạm chí.


Sa môn Phạm chí lại lấy năm điều để đối lại nhà bố thí. Những gì là năm?


_Dạy dỗ khuyên răn để trở thành người chánh tín,
_Dạy khuyên để thành người giới hạnh,
_Dạy khuyên để thành người hiểu biết rộng,
_Dạy khuyên để thành người bố thí,
_Dạy khuyên để thành người trí tuệ.


Ðó là hai phần ưa thích của phương trên được pháp của các Thánh xưa chế định cư gia và Phạm chí Sa môn nên thực hành, kẻ sĩ trượng phu mong được lợi ích mà pháp thiện không suy thối.
Bài tụng nói về ý nghĩa này:


Phương Ðông là cha mẹ
Thầy dạy ở phương Nam
Phương Tây là vợ con
Bằng hữu ở phương Bắc.
Nô tỳ ở phương dưới
Sa môn Phạm chí trên
Như vậy nên đảnh lễ
Cư gia phải nên làm.
Người giàu có tiền của
Hãy nghĩ vì lợi người
Cùng người đồng tài lợi
Kẻ bố thí sanh thiên.
Ðược lợi người cùng hưởng
Nơi nơi được an vui
Nghĩa gồm thâu thế gian
Là gần gốc an lạc.
Phàm ban ơn cho người
Như mẹ cho con mình
Ðiều thiện giúp thiên hạ
Phước ấy thật hằng sa.
Trên được nơi chúng hội
Ðạt lợi ích an vui
Người thành tựu tín, giới
Liền có được danh thơm.
Ý thường không biếng nhác
Xả bỏ hạnh keo kiệt
Thu nhiếp người tình bạn
Phải bố thí ăn uống.
Sự đời cứ qua mãi
Như vậy tiếng vang lừng
Ai tu thân cẩn thận
Kẻ ấy gọi là Hiền.
Nhà chứa hàng hóa báu
Cần phải làm nhân nghĩa
Trước phải lo học hành
Sau đó lo làm ăn.
Nếu kiếm được của cải
Hãy chia làm bốn phần
Một phần dùng y, thực
Hai là để được lợi.
Một phần chằm dự trữ
Ðể phòng lúc khốn nguy
Làm ruộng buôn nuôi trâu
Nuôi dê nữa là bốn
Thứ năm sửa nhà cửa
Sáu là lo cưới hỏi.
Chứa hàng hóa như vậy
Ngày ngày ích lợi tăng
Tiền tài ngày đêm tụ
Như nước chảy về biển
Của cải có dần dần
Như ong lấy mật hoa.
Giàu tiền nghèo bố thí
Xa gần đều không cho
Tham keo và nghiệp ác
Có của không cho bạn
Trong việc này phải học
Không cho, chớ ngăn người.
Xem kẻ dùng việc này
Bạn tốt như lửa hừng
Ở trong thân tộc này
Cả hai đều tốt đẹp
Cùng thân chúng an hưởng
Như thiên cung Ðế thích.


Bấy giờ, Thiện Sanh tử nghe Chúng Hựu nói xong liền cúi đầu lạy dưới chân Phật, đứng dậy nhiễu ba vòng, vui mừng tự mình xin quy y, theo Phật thọ giới..


PHẬT THUYẾT THIỆN SANH TỬ KINH

Kinh Người Con Của Thiện Sinh

Việt dịch: Huyền Thanh

Nghe như vầy. Một thời Chúng Hữu (Bhagavat: một Hiệu của Đức Thế Tôn) đi đến núi Kỳ Xà Quật (Gṛdhrakūṭa: núi Linh Thứu) ở La Duyệt Kỳ (Rājagṛha:Vương Xá). Lúc đó vị cư sĩ Thiện Sinh (Sujàta) bị bệnh tật rất nặng, răn dạy người con rằng: “Sau khi Ta mất, con nên vái lạy sáu phía (6 hướng)”


Vào ngày khác thời Thiện Sinh mất mạng. Người con (tên là Sīṅgālaka:Tác Thiện Sinh) liền tôn kính đưa tiễn, cúng dường, làm tang lễ xong xuôi rồi luôn luôn thức dậy sớm, tắm gội, mặc áo mới, ở trên mặt nước (? bên bờ sông) bái yết sáu phía rồi nói rằng: “Tôi xin cung kính nghiêm túc kính lễ mầm giống sinh ở phương Đông. Cầu xin loài ấy cũng lại tôn kính tôi như vậy”.


Vòng khắp phương Nam, phương Tây, phương Bắc, phương trên, phương dưới… mỗi một phía đều đồng một lời khấn.
Bấy giờ, sáng sớm Đức Phật mặc áo, cầm bình bát muốn đi vào thành, nhìn thấy người con của cư sĩ Thiện Sinh ở trên mặt nước, bái yết sáu phía như vậy. Chúng Hữu (Đức Thế Tôn) liền đến, rồi hỏi rằng: “Này người con của cư sĩ ! Ngươi nghe thế nào mà ngay lúc sáng sớm, thức dậy, tắm gội, mặc áo mới, bên trên mặt nước, bái yết sáu phía rồi tự nói cung kính nghiêm túc vái lạy ở các phương rồi lại muốn cho phương ấy tôn kính mình. Đấy là Pháp của vị Thầy nào ? Hỡi người con của Thiện Sinh !”


Người con của Thiện Sinh đáp rằng: “Khi cha của con sắp chết, trước đó có dạy bảo điều này cho nên con phải tuân hành, chứ chẳng phải nghe từ vị Thầy nào cả”


Chúng Hữu (Đức Thế Tôn) bảo rằng: “Này người con của cư sĩ ! Lời cha ngươi đã nói, chẳng phải là sáu phương này vậy. Một mai, tờ mờ sáng chỉ ngồi, hướng về sáu phía mà ham muốn. Như có bốn phía, làm điều nhơ xấu thời chẳng thể hối hận kịp, tức thân ấy bị chết, tinh thần sẽ sinh vào đường ác, trong Địa Ngục. Phàm con người do bốn việc này phải chịu lao nhọc… nên phải hiểu biết.


Thế nào là bốn ?


1_ Yêu thích sát sinh.
2_ Yêu thích trộm cắp
3_ Làm điều dâm tà
4_ Ưa thích nói dối.


Đức Phật tụng nghĩa ấy là:


Sát sinh và trộm cắp
Lọc lừa, ưa nói nói
Hướng đến vợ người khác
Người Trí chẳng hề khen


Lại, người con của cư sĩ ! Có bốn việc dẫn đến đường ác. Thế nào là bốn ?


1_ Ham muốn (dục)
2_ Giận dữ (nộ)
3_ Ngu si (si)
4_ Sợ hãi (úy).


Tụng nghĩa ấy là:


Có Dục, giận, si, sợ
Chẳng nương nhận Chính Pháp
Đấy gọi là chốn thấp
Giống như trăng khuyết dần
Không dục, giận, si, sợ
Mà nương nhận Chính Pháp
Đấy gọi là chốn cao
Giống trăng đang tròn đầy


Lại, người con của cư sĩ ! Có sáu tai vạ làm tiêu tan tiền của, đi vào đường ác… cần phải hiểu biết. Thế nào là sáu ?


1_ Nghiền rượu, chơi bời buông thả.
2_ Chẳng đúng thời đi vào phòng của người khác.
3_ Cờ bạc, chơi bời buông thả.
4_ Rất ưa thích kỹ nhạc
5_ Chơi với bạn ác
6_ Lười biếng


Tụng nghĩa ấy là:
Uống rượu, vào phòng khác
Thích cờ bạc, hát xướng
Bạn ác với lười biếng
Bậc Thánh Triết chẳng khen.
Phàm Rượu có sáu điều chính đáng nên biết. Thế nào là sáu ?


_ Làm tiêu tan tiền của
_ Dẫn đến bệnh tật,
_ Dấy lên sự tranh đấu
_ Gây nhiều sự giận dữ,
_ Bị mất danh dự
_ Bị hao tổn Trí.


Do có điều xấu này liền phế bỏ sự nghiệp, tiền của chưa đến thì chẳng thể có được, làm tiêu tan tiền của đã được giúp đỡ, vốn tích trữ bị hao hết.
Dâm Tà có sáu điều chính đáng nên biết. Thế nào là sáu ?


_ Chẳng tự bảo vệ được thân mình
_ Chẳng thể che chở vợ con
_ Chẳng thể giúp đỡ gia thuộc
_ Do nghi ngờ nên sinh điều ác
_ Kẻ oan gia được dịp thuận tiện gây hại
_ Bị mọi điều khổ bủa vây.


Do có điều xấu này liền phế bỏ sự nghiệp, tiền của chưa đến thì chẳng thể có được, tiền của đã có được bị tiêu tan, vốn tích trữ bị hao hết.
Cờ bạc có sáu điều chính đáng nên biết. Thế nào là sáu ?


_ Khi thắng liền sinh oán thù
_ Khi thua ắt nổi nóng
_ Khiến cho bạn bè lo lắng
_ Kẻ oan gia thích thú
_ Bị ngục tù, lo lắng diều xấu
_ Bị mọi người nghi ngờ.


Do có điều xấu này liền phế bỏ sự nghiệp, tiền của chưa đến thì chẳng thể có được, tiền của đã có được bị tiêu tan, vốn tích trữ bị hao hết.
Ưa thích kỹ nhạc có sáu điều chính đáng nên biết. Thế nào là sáu ?


_ Để tâm vào điệu múa
_ Để tâm vào lời ca
_ Để tâm tại dây đàn
_ Để tâm tại nhịp phách
_ Để tâm vào cái trống
_ Để tâm vào các việc ấy.


Do có điều xấu này liền phế bỏ sự nghiệp, tiền của chưa đến thì chẳng thể có được, tiền của đã có được bị tiêu tan, vốn tích trữ bị hao hết.
Bạn ác có sáu điều chính đáng nên biết. Thế nào là sáu ?


_ Tập cho say sưa, mê muội
_ Tập cho mù mờ, rối loạn
_ Tập cho phóng túng buông thả
_ Tập quen với nhà bán rượu
_ Tập quen với kẻ tiểu nhân
_ Tập quen với lời nói thô bỉ.


Do có điều xấu này liền phế bỏ sự nghiệp, tiền của chưa đến thì chẳng thể có được, tiền của đã có được bị tiêu tan, vốn tích trữ bị hao hết.
Lười biếng có sáu điều chính đáng nên biết. Thế nào là sáu ?


_ Lúc no chẳng chịu làm
_ Khi đói chẳng chịu làm
_ Lúc lạnh chẳng chịu làm
_ Lúc nóng chẳng chịu làm
_ Sáng sớm chẳng chịu làm
_ Chiều tối chẳng chịu làm.


Do có điều xấu này liền phế bỏ sự nghiệp, tiền của chưa đến thì chẳng thể có được, tiền của đã có được bị tiêu tan, vốn tích trữ bị hao hết.
Tụng nghĩa ấy là:


_Ưa sắc đẹp, ca múa
Ngày nghỉ, đêm theo nó
Bạn ác với lười biếng
Kẻ sĩ hao tổn lớn
_Cờ bạc, rượu, hoảng sợ
Tâm để tại người nữ
Xa hiền mà gần ngu
Huỷ nát giống trăng tàn
_Hành thân (lập thân ở đời) tự kiêu ngạo
Khinh huỷ Đạo Sa Môn
Hành Tà Kiến, keo kiệt
Ðấy là kẻ Mạn Đãng (?kẻ nhờn láo đáng bị khinh bỉ)
_Phàm rượu hại tiền của
Ít lợi, uống càng khát
Nước bệnh thêm nợ nần
Làm loạn nguy thân bệnh.
_Hoặc dùng rượu kết bạn
Hoặc vì rượu phạm pháp
Nếu muốn lợi, tốt đẹp
Do nén nhịn việc này.
_Hoặc ngày như giữ Giới
Mờ tối phạm trộm cắp
Sẽ y theo lò rượu
Như đây, chớ gần gũi.
_Chẳng từ lạnh đến nóng
Như cỏ chẳng quý mình
Tinh tiến sửa sự nghiệp
Lợi ấy là tổn hại .
_Nếu chịu được nóng lạnh
Như cỏ chẳng quý mình
Tinh tiến sửa sự nghiệp
Liền yên, lại có ích.
_Quen xuống, tiêu tan dần
Tập lên, chưa từng tổn
Khéo theo Tôn Siêu Nhiên (cao siêu xuất chúng)
Làm Thiện ắt được Thiện (Kuśala).
_Rất Thiện liền gặp Thiện
Tin Thiện, hay gom tập
Điều thân thích ưa chuộng
Phụng Giới để diệt ác
_Thế nên cần tập làm
Đã có làm, lại làm
Kẻ ấy trên thân thích
Như vua đến nơi Chúng.


Lại nữa, này người con của Cư Sĩ ! Có bốn loại giống như bạn nhưng chẳng phải là bạn nên hiểu biết. Thế nào là bốn?

_ Chọn lấy vật lạ
_ Nói lời nịnh hót
_ Yêu thương ngoài mặt
_ Dạy bảo điều sai quấy

Tụng nghĩa ấy là:


Bạn chọn lấy vật lạ
Nói tốt đẹp thuận tai
Bàn bạc, luôn nịnh nọt
Dạy Tà bậy, hiểm nguy
Ðây chẳng phải là bạn
Người Trí chẳng làm bạn
Ðã biết, nên lìa xa
Giống ra khỏi đường xấu.


Bạn chọn lấy vật lạ nên dùng bốn việc để biết. Thế nào là bốn ?


_ Tham lam chọn lấy vật ấy
_ Cho ít mà mong muốn nhiều.
_ Vì sợ cho nên theo làm quen
_ Vì lợi cho nên theo làm quen


Tụng nghĩa ấy là:


Phàm đã lấy vật ấy.
Cho ít mà muốn nhiều
Làm quen vì sợ, lợi
Người tham, bạn đúng thế.
Ðây chẳng phải là bạn
Người Trí chẳng làm bạn
Ðã biết, nên lìa xa
Giống ra khỏi đường xấu.


Bạn nói lời nịnh hót, nên dùng bốn việc để biết. Thế nào là bốn ?


_ Nói chuyện riêng tư của người
_ Tự dấu chuyện riêng tư của mình;
_ Gặp mặt, dối trá khen tốt lành
_ Lui ra liền dấy lời nói xấu


Tụng nghĩa ấy là:


Thích nói chuyện của người
Chuyện của mình, tự dấu
Gặp mặt khen tốt lành
Lui ra liền nói xấu
Ðây chẳng phải là bạn
Người Trí chẳng làm bạn
Ðã biết, nên lìa xa
Giống ra khỏi đường xấu.


Bạn chỉ yêu thương ngoài mặt nên dùng bốn việc để biết. Thế nào là bốn?


_ Nói việc yếu kém đã qua của người.
_ Ngầm tìm lỗi ở tương lai;
_ Cho chẳng lấy làm qúy
_ Mong muốn người có tai hoạ.

Tụng nghĩa ấy là:


Làm điều chẳng thể làm
Bất lợi, nói dối trá
Cho, chẳng lấy làm quý
Nguyện người nguy, cầu mình.
Ðây chẳng phải là bạn
Người Trí chẳng làm bạn
Ðã biết, nên lìa xa
Giống ra khỏi đường xấu.


Bạn dạy bảo điều sai quấy, nên dùng bốn việc để biết. Thế nào là bốn ?


_ Đem việc sát sinh để khuyên bảo người
_ Đem việc trộm cắp để khuyên bảo người
_ Đem việc Dâm Tà để khuyên bảo người
_ Đem việc lừa dối để khuyên bảo người


Tụng nghĩa ấy là:


Sát sinh với trộm cắp
Lọc lừa, nói dối trá
Hướng đến vợ người khác
Khuyên người làm điều này
Ðây chẳng phải là bạn
Người Trí chẳng làm bạn
Ðã biết, nên lìa xa
Giống ra khỏi đường xấu.

Lại người con của Cư Sĩ ! Có bốn loại bạn vì lòng nhân từ sáng suốt, muốn lợi cho người nên hiểu biết. Thế nào là bốn?


1_Cùng chung khổ, vui
2_Cùng làm lợi cho nhau
3_ Cùng gây tạo Bản Nghiệp
4_ Vì lòng nhân từ thương xót.

Tụng nghĩa ấy là:


Cùng người chung an, nguy
Thâu nhiếp làm thiện lợi
Hậu đãi sự nghiệp người
Thương xót dẫn đường chính.
Như đây mới là bạn
Nơi kẻ Trí làm quen
Nên làm theo người này
Lợi ích, chẳng làm ác.


Bạn cùng chung khổ vui, nên dùng bốn việc để biết. Thế nào là bốn?


_ Đem cho vật báu của mình;
_ Đem lại lợi ích cho vợ con
_ Đem cho hết thảy người trong nhà
_ Nói lời trung thực nhẫn nhịn

Tụng nghĩa ấy là:


Đem cho lợi của mình
Có tài lợi cũng cho
Cho để lợi trong nhà
Nói trung thực nhẫn nhịn.
Như đây mới là bạn
Nơi kẻ Trí làm quen
Nên làm theo người này
Lợi ích, chẳng làm ác.


Bạn cùng làm lợi cho nhau, nên dùng bốn việc để biết. Thế nào là bốn?


_ Chẳng nói chuyện riêng tư của người kia
_ Chẳng dấu chuyện riêng tư của mình
_ Gặp nhau nói lời tốt lành
_ Nhanh chóng làm ngưng sự chê bai.


Tụng nghĩa ấy là:


Chẳng nói đời tư người
Chẳng dấu đời tư mình
Gặp nhau bàn nói tốt
Nhanh chóng ngưng chê bai
Như đây mới là bạn
Nơi kẻ Trí làm quen
Nên làm theo người này
Lợi ích, chẳng làm ác.


Bạn cùng gây tạo Bản Nghiệp, nên dùng bốn việc để biết. Thế nào là bốn?


_ Làm lợi cho sự nghiệp
_ Dùng sức tạo sự nghiệp
_ Can ngăn sự phóng túng
_ Dùng điều tốt lành để nuôi dưỡng.


Tụng nghĩa ấy là:


Dùng tài lợi dựng Nghiệp
Dùng sức giúp cho yên
Cắt mài sự phóng túng
Nuôi dưỡng chí tốt lành
Như đây mới là bạn
Nơi kẻ Trí làm quen
Nên làm theo người này
Lợi ích, chẳng làm ác.


Bạn có lòng nhân từ thương xót, nên dùng bốn việc để biết. Thế nào là bốn?


_ Khuyên dạy đứng vững để thành tựu niềm tin
_ Khuyên dạy đứng vững để thành tựu Giới
_ Khuyên dạy đứng vững để thành tựu điều đã nghe
_ Khuyên dạy đứng vững để thành tựu sự bố thí


Tụng nghĩa ấy là:


Ðạo Tin (Śrāddha:tín), Giới (Śīla), nghe (Śruta:văn), cho (Dāna:bố thí)
Luôn dùng khuyến hóa người.
Như đây mới là bạn
Nơi kẻ Trí làm quen
Nên làm theo người này
Lợi ích, chẳng làm ác.
_ Lại, người con của Cư Sĩ ! Phàm phía Đông giống như người con đối với cha mẹ vậy. Do đó người con nên dùng năm việc tôn kính chân chính, phụng dưỡng chân chính, an ổn chân chính đối với cha mẹ. Thế nào là năm ?


_ Nhớ nghĩ báo đáp việc nhà
_ Mong được sửa sang, đảm nhận gánh vác việc nhà
_ Mong được phân tích rõ sự việc để nhắc nhở can ngăn cha mẹ
_Mong được thuận theo cung cấp nuôi dưỡng cha mẹ
_ Mong được thấy cha mẹ vui mừng


Cha mẹ lại nên dùng lấy năm việc yêu thương con cái. Thế nào là năm?


_ Tạo hưng cơ nghiệp;
_ Giúp cho lo tính việc lợi ích
_ Giúp cho có con dâu đẹp
_ Dạy bảo học Đạo Lý trong Kinh sách
_ Liền đem hết thảy của cải giao phó cho con.


Ðấy là hai phần được mong muốn của phương Ðông, là phép tắc được bậc Thánh xưa đã chế ra. Làm con phải hiếu thảo, làm cha mẹ phải thương yêu hết mực, kẻ sĩ Trượng Phu ước mong lợi ích mà Pháp lành (Kuśala-dharma: Thiện Pháp) chẳng bị suy kém.
_ Phàm phía Nam giống như Đệ Tử đối với người Thầy vậy. Do đó Đệ Tử nên dùng năm việc tôn kính chân chính, phụng dưỡng chân chính, an ổn chân chính đối với Thầy. Thế nào là năm ?


_ Mong muốn xét kỹ điều đã được nghe
_ Mong muốn yêu thích điều đã học
_ Mong muốn siêng năng hầu hạ Thầy
_ Mong muốn không có hành vi lầm lỗi
_ Mong muốn cúng dường Thầy


Người Thầy lại nên dùng năm việc thương yêu dạy bảo Đệ Tử. Thế nào là năm?


_ Dùng điều mình đã học để cho Đệ Tử học
_ Đem hết nghề của mình để dạy bảo Đệ Tử.
_ Khiến cho Đệ Tử siêng năng học hành
_ Đem đường lối tốt lành để dẫn dắt Đệ Tử
_ Bảo cho Đệ Tử biết đầy đủ về người bạn hiền


Ðấy là hai phần được mong muốn của phương Nam, là phép tắc được bậc Thánh xưa đã chế ra. Làm Đệ Tử phải khiêm cung, làm Thầy phải dùng lòng nhân từ dạy bảo, kẻ sĩ Trượng Phu ước mong lợi ích mà Pháp lành (Kuśala-dharma: Thiện Pháp) chẳng bị suy kém.
_ Phàm phía Tây giống như người chồng đối với người vợ vậy. Do đó người chồng nên dùng năm việc kính trọng chân chính, nuôi dưỡng chân chính, an ổn chân chính đối với người vợ. Thế nào là năm?


_ Tâm chân chính kính trọng người vợ
_ Chẳng hận với ý của người vợ
_ Chẳng có tình với người khác
_ Ðúng thời cấp cho quần áo, thức ăn
_ Ðúng thời đem cho vật trang sức báu.


Người vợ lại nên dùng mười bốn việc để phụng sự người chồng. Thế nào là mười bốn?


_ Khéo làm việc.
_ Khéo hoàn thành mọi việc
_ Khi nhận sự giao phó phải suy xét cẩn thận
_ Thức dậy sớm
_ Ban đêm nghĩ ngơi
_ Làm việc phải học hỏi
_ Đóng cửa chờ đợi Quân Tử (người chồng)
_ Khi Quân Tử (người chồng) trở về, nên hỏi han
_ Nói lời êm dịu hoà nhã
_ Nói năng thuận theo người chồng
_ Bàn ghế, mền chiếu phải ngay ngắn
_ Thức ăn uống phải tinh khiết
_ Nhớ nghĩ việc bố thí
_ Cung dưỡng người chồng.


Ðấy là hai phần được mong muốn của phương Tây, là phép tắc được bậc Thánh xưa đã chế ra, lễ nghi của vợ chồng, kẻ sĩ Trượng Phu ước mong lợi ích mà Pháp lành (Kuśala-dharma: Thiện Pháp) chẳng bị suy kém.
_ Phàm phía Bắc giống như người bạn đối với người bạn vậy. Do đó người bạn nên dùng năm việc kính trọng chân chính, nuôi dưỡng chân chính, an ổn chân chính đối với bạn bè. Thế nào là năm?


_ Tâm chân chính kính trọng bạn
_ Chẳng hận với ý của bạn
_ Chẳng có tình khác
_ Thường thường phân chia vị ngon ngọt
_ Chẳng quên ân sâu dày.


Bạn bè lại nên dùng năm việc để nhiếp lấy người bạn ấy. Thế nào là năm?


_ Có việc sợ sệt thì khiến quay về với Ta.
_ Bạn mải rong chơi gây lầm lỗi thì liền trách mắng.
_ Liền đem che giấu việc riêng tư của bạn
_ Cung cấp nuôi dưỡng làm cho lợi ích lâu dài hơn
_ Nói lời trung thực nhẫn nhịn.


Ðấy là hai phần được mong muốn của phương Bắc, là phép tắc được bậc Thánh xưa đã chế ra, cách giao tiếp của bạn bè, kẻ sĩ Trượng Phu ước mong lợi ích mà Pháp lành (Kuśala-dharma: Thiện Pháp) chẳng bị suy kém.
Phàm phía bên dưới giống như người chủ (Trưởng Tử) đối với tôi tớ trong nhà (Nô khách). Do đó người chủ nên dùng năm việc tôn trọng chân chính, nuôi dưỡng chân chính, an ổn chân chính đối với tôi tớ. Thế nào là năm?


_ Sai bảo việc vừa với sức của tôi tớ.
_ Dùng thức ăn, quần áo đúng thời
_ Thường thường phân chia vị ngon ngọt.
_ Thường thường khuyên dạy tôi tớ chuyên chú vào công việc
_ Tôi tớ có bệnh tật liền cho nghỉ ngơi.


Tôi tớ làm việc lại nên dùng mười việc để cung dưỡng người chủ. Thế nào là mười?


_ Khéo làm việc
_ Khéo hoàn thành công việc
_ Khi nhận sự giao phó phải suy xét cẩn thận
_ Đêm nằm nghỉ
_ Sáng dậy sớm
_ Phàm việc làm đều phải học hỏi
_ Làm việc phải dốc sức siêng năng
_ Nhà chủ nghèo chẳng được khinh thường
_ Khi người chủ gặp cảnh ngặt nghèo túng thiếu thì chẳng nên rời bỏ.
_ Khi ra khỏi cửa đều xưng nói là: “Người chủ của nhà tôi sáng suốt có Trí Tuệ”.
Ðấy là hai phần được mong muốn của phương bên dưới, là phép tắc được bậc Thánh xưa đã chế ra, nghi tắc nắm việc của người chủ, kẻ sĩ Trượng Phu ước mong lợi ích mà Pháp lành (Kuśala-dharma: Thiện Pháp) chẳng bị suy kém.
_ Phàm phía bên trên giống như người bố thí tại gia đối với bậc Sa Môn Phạm Chí. Do đó người tại gia nên dùng năm việc tôn kính chân chính, nuôi dưỡng chân chính, an ổn chân chính đối với bậc Sa Môn Phạm Chí. Thế nào là năm?
_ Mở cửa chờ đợi.
_ Ði đến nghinh đón, thăm hỏi
_ Sắp đặt bàn ghế chỗ ngồi
_ Giúp đỡ bảo vệ cất giữ Kinh Pháp
_ Bố thí thức ăn trong sạch thanh tịnh. Đem thức đó cúng dường bậc Sa Môn Phạm Chí.


Bậc Sa Môn Phạm Chí lại nên dùng năm việc để đáp lại nhà bố thí. Thế nào là năm?


_ Dạy bảo khuyên răn để trở thành người có niềm tin chân chính
_ Dạy bảo khuyên răn để trở thành người có Giới Hạnh
_ Dạy bảo khuyên răn để trở thành người nghe nhiều hiểu rộng (Bahu-śruta: Đa Văn )
_ Dạy bảo khuyên răn để trở thành người biết bố thí
_ Dạy bảo khuyên răn để trở thành người có Trí Tuệ.


Ðấy là hai phần được mong muốn của phương bên trên, là phép tắc được bậc Thánh xưa đã chế ra, nghi tắc của người tại gia với bậc Sa Môn Phạm Chí, kẻ sĩ Trượng Phu ước mong lợi ích mà Pháp lành (Kuśala-dharma: Thiện Pháp) chẳng bị suy kém.
Tụng nghĩa ấy là:


_Phía Ðông là cha mẹ
Thầy dạy hợp phía Nam
Phía Tây là vợ con
Bạn bè là phía Bắc.
Tôi tớ làm việc, (phía) dưới
Sa Môn Phạm Chí, (phía) trên
Như đây nên làm lễ
Cũng là nghi tại gia
_ Phàm người giàu có tiền
Nên nghĩ dùng lợi người
Cùng người đồng tài lợi
Kẻ bố thí lên Trời
Ðược lợi cùng với người
Nơi nơi được an vui
_ Nghĩa thu nhiếp Thế Gian
Đây gần với gốc vui
Phàm ban ân nhiếp người
Như mẹ vì người con
_Khéo nhiếp giúp Thiên Hạ
Phước ấy tính chẳng kịp
Trên được ở Chúng Hội
Hay lợi ích, an vui
Thành Tín Giới của người
Ắt khiến được nghe tên
_ Ý thường chẳng lười biếng
Vứt bỏ hạnh keo kiệt
Nhiếp người dùng tình bạn
Ăn uống cùng ban cho
Qua lại rồi lại đi
Tên như vậy chẳng giảm
_ Người tu thân cẩn thận
Ấy là kẻ khôn ngoan
Cất chứa hàng hóa báu
Nên dấy làm nhân nghĩa
Học hành là hơn hết
Tiếp mới tìm của cải
Nếu kiếm được tiền của
Nên thường chia bốn phần
Một phần lo cơm áo
Hai là gốc cầu lợi.
Dấu một phần dự trữ
Lúc nguy có thể cứu
_Làm ruộng, buôn nuôi trâu
Nuôi dê, nghề…có bốn
Thứ năm sửa chữa nhà
Thứ sáu lo cưới hỏi.
Chứa hàng hóa như vậy
Ngày ngày thêm lợi ích
_ Phàm tiền tụ ngày đêm
Như nước chảy về biển
Của cải, cầu làm dần
Ví như ong lấy mật
Có tiền không giúp giàu
Lại không cho biên phương (nơi nghèo khổ)
Keo kiệt với nghiệp ác
Có sức không giúp bạn
Trong việc bèn liền học
Chẳng dùng, đừng tự hại
_Xem người dùng công việc
Sáng, tốt như lửa rực
Kẻ ấy trong thân tộc
Kiêm làm hai điều tốt
Cùng người thân ngồi yên
Như vui ở cung Trời.


Lúc đó, người con của Thiện Sinh nghe ĐứcChúng Hữu (Thế Tôn) nói xong, liền cúi đầu lễ bàn chân của Đức Phật rồi từ dưới đứng dậy, nhiễi quanh Đức Phật ba vòng, vui mừng tự Quy y, theo Đức Phật thọ nhận Giới.

PHẬT NÓI KINH NGƯỜI CON CỦA THIỆN SINH _Hết_

Tags:

bộ a hàmHuyền Thanhkinh chữ hánKinh Người Con Của Thiện SinhThích Chánh LạcThiện sinh tử kinh
Author

admin

Follow Me
Other Articles
陰持入經註
Previous

Uẩn Trì Nhập Kinh Chú [陰持入經註]

PHẬT THUYẾT TÍN PHẬT CÔNG ÐỨC KINH -信佛功德經
Next

Tín Phật Công Đức Kinh [信佛功德經]

bộ a hàm Bộ A hàm - Tam Tạng Thánh Điển Bộ Bát Nhã Bộ Bản Duyên Bộ Bản Duyên - Tam Tạng Thánh Điển Phật Giáo Việt Nam Bộ Chư Tông Bộ Du Già Luận Bộ Kinh Sớ Bộ Luận Tập chưa dịch hoa vô ưu Huyền Thanh kinh chữ hán Kinh trung bộ kinh trường bộ kinh trường bộ html Kinh Tạng Bắc Truyền Kinh Tạng Chữ Hán Linh Sơn Pháp Bảo Đại Tạng Kinh luận Nguyên Huệ Nguyên Thuận Nguyễn Minh Tiến pdf TAM TẠNG PHẬT GIÁO BỘ PHÁI tam tạng thánh điển phật giáo Việt Nam Tam Tạng Thượng Toạ Bộ THÍCH THIỆN SIÊU Thích Bảo Lạc Thích Chánh Lạc thích minh châu Thích Thanh Từ Thích Trí Tịnh Thích Tuệ Sỹ Thích Tâm Châu Thích Tâm Hạnh Thất dịch Trường A Hàm Tùy Đạt Ma Cấp Đa Tăng Nhất A Hàm Tạp A Hàm Tạp Tạng Vô Trước Bồ Tát Đoàn Trung Còn Đại Tạng Kinh Tiếng Việt

Copyright 2026 — Tàng Kinh Các. All rights reserved.