Skip to content
-
Nam Mô A Di Đà Phật
Tàng Kinh Các

Sưu Tầm và Chia Sẻ Kinh Sách

Tàng Kinh Các

Sưu Tầm và Chia Sẻ Kinh Sách

  • Home
  • Kinh
    • Kinh Tạng Nam Truyền
      • kinh trường bộ
      • kinh trường bộ html
      • Kinh Trung Bộ
      • Kinh Tương Ưng Bộ
      • Kinh Tăng Chi Bộ
      • KInh Tiểu Bộ
      • Tạng Vi Diệu Pháp
      • Luật Tạng ( Nam Truyền )
      • Kinh Tạng Nam Truyền
        • KINH TẠNG NAM TRUYỀN (PALI TẠNG / NIKAYA)
        • Sơ Đồ Kinh Điển Tam Tạng Pāli (Tipiṭaka)
    • Linh Sơn Pháp Bảo Đại Tạng Kinh – Tạng Kinh Bắc Truyền
    • Càn Long Đại Tạng Kinh
    • TAM TẠNG THÁNH ĐIỂN PHẬT GIÁO VIỆT NAM
    • Đại Tạng Kinh Bắc Truyền Hán Tạng Việt Tạng
      • Bộ A Hàm – Tạng Kinh Bắc Truyền
      • Bộ Bản Duyên – Tạng Kinh Bắc Truyền
      • Bộ Bát Nhã – Tạng Kinh Bắc Truyền
      • Bộ Pháp Hoa – Tạng Kinh Bắc Truyền
      • Bộ Hoa Nghiêm – Tạng Kinh Bắc Truyền
      • Bộ Bảo Tích – Tạng Kinh Bắc Truyền
      • Bộ Niết Bàn – Tạng Kinh Bắc Truyền
      • Bộ Đại Tập – Tạng Kinh Bắc Truyền
      • Bộ Kinh Tập – Kinh Tạng Bắc Truyền
      • Bộ Mật Giáo – Tạng Kinh Bắc Truyền
      • Bộ Luật – Tạng Kinh Bắc Truyền
      • Bộ Thích Kinh Luận – Tạng Kinh Bắc Truyền
      • Bộ Tỳ Đàm – Tạng Kinh Bắc Truyền
      • Bộ Trung Quán Luận – Tạng Kinh Bắc Truyền
      • Bộ Du Già – Tạng Kinh Bắc Truyền
      • Bộ Luận Tập – Tạng Kinh Bắc Truyền
      •  Bộ Kinh Sớ – Tịnh Độ Tông – Tạng Kinh Bắc Truyền
      •  Bộ Kinh Sớ – Thiền Tông – Tạng Kinh Bắc Truyền
      • Bộ Luật Sớ – Tạng Kinh Bắc Truyền
      • Bộ Chư Tông – Tạng Kinh Bắc Truyền
      • Bộ Sử Truyện – Tạng Kinh Bắc Truyền
      • Bộ Sự Vị – Tạng Kinh Bắc Truyền
      • Bộ Ngoại Giáo – Tạng Kinh Bắc Truyền
      • Bộ Cổ Dật – Tạng Kinh Bắc Truyền
      • Bộ Nghi Tự – Tạng Kinh Bắc Truyền
      • Bộ Mục Lục – Tạng Kinh Bắc Truyền
  • Luật
  • Luận
  • Ebook – Mp3
  • Privacy Policy
  • Home
  • Kinh
    • Kinh Tạng Nam Truyền
      • kinh trường bộ
      • kinh trường bộ html
      • Kinh Trung Bộ
      • Kinh Tương Ưng Bộ
      • Kinh Tăng Chi Bộ
      • KInh Tiểu Bộ
      • Tạng Vi Diệu Pháp
      • Luật Tạng ( Nam Truyền )
      • Kinh Tạng Nam Truyền
        • KINH TẠNG NAM TRUYỀN (PALI TẠNG / NIKAYA)
        • Sơ Đồ Kinh Điển Tam Tạng Pāli (Tipiṭaka)
    • Linh Sơn Pháp Bảo Đại Tạng Kinh – Tạng Kinh Bắc Truyền
    • Càn Long Đại Tạng Kinh
    • TAM TẠNG THÁNH ĐIỂN PHẬT GIÁO VIỆT NAM
    • Đại Tạng Kinh Bắc Truyền Hán Tạng Việt Tạng
      • Bộ A Hàm – Tạng Kinh Bắc Truyền
      • Bộ Bản Duyên – Tạng Kinh Bắc Truyền
      • Bộ Bát Nhã – Tạng Kinh Bắc Truyền
      • Bộ Pháp Hoa – Tạng Kinh Bắc Truyền
      • Bộ Hoa Nghiêm – Tạng Kinh Bắc Truyền
      • Bộ Bảo Tích – Tạng Kinh Bắc Truyền
      • Bộ Niết Bàn – Tạng Kinh Bắc Truyền
      • Bộ Đại Tập – Tạng Kinh Bắc Truyền
      • Bộ Kinh Tập – Kinh Tạng Bắc Truyền
      • Bộ Mật Giáo – Tạng Kinh Bắc Truyền
      • Bộ Luật – Tạng Kinh Bắc Truyền
      • Bộ Thích Kinh Luận – Tạng Kinh Bắc Truyền
      • Bộ Tỳ Đàm – Tạng Kinh Bắc Truyền
      • Bộ Trung Quán Luận – Tạng Kinh Bắc Truyền
      • Bộ Du Già – Tạng Kinh Bắc Truyền
      • Bộ Luận Tập – Tạng Kinh Bắc Truyền
      •  Bộ Kinh Sớ – Tịnh Độ Tông – Tạng Kinh Bắc Truyền
      •  Bộ Kinh Sớ – Thiền Tông – Tạng Kinh Bắc Truyền
      • Bộ Luật Sớ – Tạng Kinh Bắc Truyền
      • Bộ Chư Tông – Tạng Kinh Bắc Truyền
      • Bộ Sử Truyện – Tạng Kinh Bắc Truyền
      • Bộ Sự Vị – Tạng Kinh Bắc Truyền
      • Bộ Ngoại Giáo – Tạng Kinh Bắc Truyền
      • Bộ Cổ Dật – Tạng Kinh Bắc Truyền
      • Bộ Nghi Tự – Tạng Kinh Bắc Truyền
      • Bộ Mục Lục – Tạng Kinh Bắc Truyền
  • Luật
  • Luận
  • Ebook – Mp3
  • Privacy Policy
Close

Search

Home/Kinh Tạng Bắc Truyền/Bộ A Hàm/Thọ Tuế Kinh [受歲經] – Bộ A Hàm
Thọ Tuế Kinh [受歲經]
Bộ A Hàm

Thọ Tuế Kinh [受歲經] – Bộ A Hàm

By admin
17 Min Read
Comments Off on Thọ Tuế Kinh [受歲經] – Bộ A Hàm

Thọ Tuế Kinh
[受歲經]

Nguyên bản Hán văn – Bản khắc Càn long – Vĩnh Lạc Đại Điển – CBETA

Bản chia sẻ của CBETa

Thọ Tuế Kinh
[受歲經]

Bài Kinh thuộc tập T01, kinh số 10, tổng cộng 3 quyển – Tống Thí Hộ Đẳng dịch

Thọ Tuế Kinh [受歲經]Download
Nguyên Bản Chữ Hán

Thọ Tuế Kinh
[受歲經]

( Bản khắc gỗ Càn long và Vĩnh Lạc Đại Điển )

Bản Khắc Càn Long

Thọ Tuế Kinh [受歲經] (1)Download

Vĩnh Lạc Đại Điển

Thọ Tuế Kinh [受歲經] (2)Download

Bản Dịch Tiếng Việt

Bộ A Hàm

Linh sơn pháp bảo đại tạng kinh

Thọ Tuế Kinh
[受歲經]

thuộc tập T01, kinh số 50, tổng cộng 1 quyển, – Tây Tấn Trúc Pháp Hộ dịch.

Thọ Tuế Kinh [受歲經]

Kinh Thọ Tuế

Việt dịch: Thích Chánh Lạc

Nghe như vầy: “Một thời Bà Già Bà ở tại vườn trúc Ca Lan Ðà, nước La Duyệt Kỳ, cùng đông đủ chúng đại Tỳ kheo để thọ tuế”.
Bấy giờ tôn giả Ðại Mục Kiền Liên bảo các Tỳ kheo: “Này chư hiền! Vị Tỳ kheo Thọ Tuế thỉnh nguyện: “Xin các tôn giả nói với tôi, dạy dỗ tôi, giáo giới tôi, thương tưởng tôi”. Ðó là lý do thứ nhất. Vì sao vậy ? Này chư hiền! Hoặc có người ương ngạnh, khó dạy bảo, cùng câu hội với pháp ác, thì vị phạm hạnh không thể nói, cũng không giáo thọ, cũng không giáo giới, cũng không thương tưởng kẻ ấy. Ðó là loại người thứ nhất.
Này chư hiền, thế nào là kẻ ương ngạnh, khó dạy bảo, dù cùng câu hội với vị phạm hạnh, nhưng vẫn không được vị phạm hạnh nói chuyện, vẫn không dạy bảo, cũng không giáo giới, cũng không thương tưởng kẻ ấy. Ðó là loại người thứ nhất. Này chư hiền, hoặc có một người tìm cầu cái ác cùng câu hội với ác.
Này chư hiền, ta bảo kẻ ấy cùng câu hội với ác, đó là pháp ương ngạnh, khó dạy bảo. Cũng như thế, bị nhiễm dục, sân hận, xan tham, tật đố, không xả, dối láo, dua nịnh, huyền ảo, không hổ, không thẹn, ôm hận, nói lời uất hận, mắng lại Tỳ kheo khiển trách mình, nói cho mọi người biết vị Tỳ kheo đã chỉ trích mình, chê bai lời nói của Tỳ kheo chỉ trích mình. Tất cả lời lẽ đều nói lãng ngoài đề để tránh né, ôm ấp lòng phẫn nộ mà rộng câu hội với ác tri thức, ác bằng hữu, không biết ơn, không báo ơn, đền ơn. Này chư hiền, những người không biết ơn, không báo đền, đó là những kẻ ngang ngược, khó dạy. Do đó, này chư hiền, người có tánh ngang ngược, khó dạy thì dù câu hội với các vị Phạm hạnh, thì các vị ấy cũng không nói chuyện, không dạy dỗ, không khiển trách, không thương nhớ. Ðó là hạng người thứ nhất.
Này chư hiền, Tỳ kheo nên tự suy nghĩ. Này chư hiền, nếu ai có tìm cầu cái ác (dục) cùng câu hội với ác (dục) thì ta không thương người đó. Nếu ta có ác dục, cùng câu hội với ác dục thì người ấy cũng không thương ta. Tỳ kheo hãy quán sát như vậy, đừng có ác dục, nên học như vậy. Cũng như thế, ai bị nhiễm dục, sân hận, xan tham, tật đố, không xả bỏ, dối láo, dua nịnh, hư huyễn, không hổ, không thẹn, ôm lòng sân hận, miệng nói lời sân kết, mắng lại Tỳ kheo khiển trách mình, chê bai lời nói của Tỳ kheo khiển trách mình. Tất cả lời nói đều ngoài đề để tránh né, ôm lòng sân hận, rộng câu hội với ác tri thức và ác bằng hữu, không biết ơn, không báo đền. Này chư hiền, nếu ai vong ơn, không báo ơn, thì ta không thương người ấy, và nếu ta vong ân, không báo ân thì người ấy cũng không thương ta. Tỳ kheo hãy quán sát như vậy. Ðừng là kẻ không báo ơn, nên học như vậy.
Này chư hiền, nếu Tỳ kheo không thỉnh cầu các Tỳ kheo rằng: “Xin các vị nói với tôi, dạy dỗ tôi, khiển trách tôi, thương tưởng tôi”. Ðó là một hạng người. Vì sao ? Này chư hiền, hoặc có một người dễ bảo, cùng câu hội với giáo pháp nên các vị đồng phạm hạnh nói chuyện, dạy dỗ, khiển trách và thương nhớ người ấy. Người ấy là số một vậy. Vì sao ? Này chư hiền, người dễ dạy bảo, cùng câu hội với giáo pháp, mà được các vị đồng phạm hạnh nói chuyện, dạy dỗ, khiển trách, thương yêu. Người đó là số một. Này chư hiền, hoặc có một người không có tìm cầu cái ác (dục), không câu hội cùng ác. Này chư hiền, kẻ ấy vì không có ác dục, không câu hội với ác dục, thì đó là pháp dễ dạy bảo. Cũng như thế, không bị nhiễm dục, không sân hận, không xan tham, tật đố, không dối láo, dua nịnh, hư huyễn, biết hỗ, biết thẹn, không ôm lòng giận, miệng không nói lời hận kết, không mắng lại Tỳ kheo khiển trách mình, không nói với mọi người về Tỳ kheo khiển trách mình, không phỉ báng lời nói của Tỳ kheo chỉ trích mình, không nói ngoài lề để tránh né, không san hận mà lại rộn rãi, không ở chung với ác tri thức cùng ác bạn hữu, không vô ơn mà nhớ ơn. Này chư hiền, vì người ấy cùng tương ưng với giáo pháp. Ðó là này chư hiền, kẻ dễ dạy bảo cùng tương ưng với giáo pháp. Cho nên được các vị đồng phạm hạnh nói chuyện, dạy dỗ, khiển trách và thương nhớ. Kẻ ấy là người số một.
Này chư hiền, Tỳ kheo nên tự suy xét. Này chư hiền, nếu ai không có ác dục, không câu hội với ác dục thì ta thương người đó, và nếu ta không có ác dục, không câu hội với ác dục, thì người đó cũng thương ta. Tỳ kheo nên quán như vậy, không nên ác dục, nên học như vậy. Không nên ác dục, nên học như vậy. Cũng như thế, không bị nhiễm dục, không sân hận, không xan tham, tật đố, không xả bỏ, không dối láo, dua nịnh, biết hỗ, biết thẹn, không sân kết, miệng không nói lời sân kết, không mắng lại Tỳ kheo khiển trách mình, không nói với mọi người vị Tỳ kheo khiển trách mình, không phỉ báng lời nói vị Tỳ kheo khiển trách mình. Tất cả lời nói đều không nói ngoài lề để tránh né, không sân hận mà rộng rãi, không câu hội với ác tri thức và ác bạn hữu, không quên ơn mà nhớ báo đền. Này chư hiền, nếu người nào không quên ơn, nhớ báo đền thì ta thương yêu người đó. Nếu ta không quên ơn, nhớ báo đền thì người đó cũng thương yêu ta. Tỳ kheo nên quán sát như vậy. Hãy không quên ơn, nhớ báo đền, nên học như vậy.
Này chư hiền, nếu Tỳ kheo quán sát như vậy: “Ta đang có các dục, cùng tương ưng với ác dục, hay không có ác dục, không tương ưng với ác dục thì chắc chắn có nhiều lợi ích”. Này chư hiền, nếu Tỳ kheo quán sát mà biết được ta đang có ác dục, cùng tương ưng với ác dục thì kẻ ấy sẽ không hoan hỷ. Do đó kẻ ấy mong cầu đoạn trừ dục. Này chư hiền, nếu Tỳ kheo lúc quán sát mà biết ta hiện không có ác dục, không tương ưng với ác dục thì kẻ ấy liền vui mừng thấy mình được thanh tịnh, trong sạch đang hành động trong cảnh giới của đức Phật . Thấy vậy rồi vui mừng mà tu hành.
Này chư hiền, thí như người có mắt cầm cái gương sáng tự soi mặt mình. Này chư hiền, người có mắt ấy sẽ tự thấy mặt mình dơ dáy nên trong lòng không vui, kẻ ấy muốn rửa sạch chất dơ. Này chư hiền, nếu người có mắt ấy không thấy mặt mình có vết dơ, kẻ ấy liền vui mừng thấy mình được thanh tịnh. Kẻ ấy tự thấy như vậy rồi vui mừng mà thực hành. Này chư hiền, cũng như vậy Tỳ kheo quán sát mà biết mình có ác dục, cùng câu hội với ác dục, kẻ ấy mong cầu đoạn trừ dục. Này chư hiền, Tỳ kheo quán sát mà biết mình không có ác dục, không câu hội với ác dục, kẻ ấy liền vui mừng thấy mình được trong sạch, thanh tịnh, đang ở trong cảnh giới của đức Phật. Thấy vậy rồi vui mừng mà thực hành.
Cũng như vậy bị nhiễm dục hay không nhiễm dục; cũng vậy có sân hận hay không có sân hận; cũng vậy có xan tham tật đố không xả, hay không có xan tham tật đố, không xả; cũng vậy có dua nịnh dối trá hay không có dua nịnh dối trá; cũng như vậy có sự không hỗ, không thẹn hay biết hỗ biết thẹn; cũng vậy có hận kết, để miệng nói lời hận kết hay không có hận kết để miệng nói lời hận kết. Mắng lại Tỳ kheo khiển trách mình hay không mắng lại Tỳ kheo khiển trách mình ? Nói với mọi người về Tỳ kheo khiển trách mình hay không đem nói cho mọi người Tỳ kheo khiển trách mình ? Phỉ báng lời nói vị Tỳ kheo khiển trách mình hay không phỉ báng Tỳ kheo chỉ trích ? Tất cả lời lẽ đều nói ngoài lề để tránh né hay không dùng những lời lẽ nói ngoài lề để tránh né ? Có sân hận hay không sân hận ? Giao kết với ác tri thức cùng ác bạn hữu hay không giao kết với ác tri thức cùng các bạn hữu ? Không biết ơn, không báo ơn hay biết ơn, báo ơn ? Này chư hiền, Tỳ kheo quán sát biết rằng: “Ta là kẻ không biết ơn, không biết báo ơn”. Kẻ ấy trong lòng không vui, liền mong muốn đoạn trừ.
Này chư hiền, nếu Tỳ kheo quán sát biết rằng: “Ta là kẻ không vong ơn biết báo ơn”. Kẻ ấy liền vui mừng thấy mình trong sạch thanh tịnh, đang đi trong cảng giới của Phật Thế tôn, thấy như vậy rồi liền vui thích thực hành.
Này chư hiền, như người có mắt tự thấy mặt mình có bụi dơ, kẻ ấy liền không vui và mong muốn rửa sạch. Này chư hiền, nếu người ấy không thấy mặt mình có bụi dơ liền vui mừng là mình được thanh tịnh. Tự thấy như vậy thì vui thích mà tu hành. Cũng vậy, này chư hiền, Tỳ kheo quán sát và biết được mình là kẻ vong ân, không báo ân, kẻ ấy liền không hoan hỷ, liền có ý muốn trừ bỏ. Này chư hiền, nếu Tỳ kheo quán biết là ta không phải là kẻ vong ân, không báo ân, kẻ ấy liền vui mừng cho rằng mình trong sạch thanh tịnh đang đi trong cảnh giới của Phật Thế tôn. Do tự thấy như vậy rồi vui thích tu hành, do vui thích tu hành nên được hoan hỷ, do hoan hỷ nên thân tín hành, do thân tín hành nên biết an lạc, do an lạc nên định ý, do định ý nên biết như chơn, thấy như chơn; do thấy biết như chơn cho nên được nhàm chán xa lìa (?), nhờ nhàm chán xa lìa nên được vô nhiễm, do vô nhiễm nên được giải thoát, do giải thoát nên giải thoát tri kiến, biết như thật rằng: “Sanh đã hết, phạm hạnh đã thành, việc đáng làm đã làm xong, không còn tái sanh”.
Tôn giả Ðại Mục Kiền Liên nói như vậy, các Tỳ kheo nghe tôn giả Ðại Mục Kiền Liên nói xong, hoan hỷ vui mừng.


PHẬT NÓI KINH THỌ TUẾ

Kinh Thụ Tuế

Việt dịch: Thích Tâm Châu

Chính tôi được nghe: một thời kia đức Thế-Tôn ở nơi vườn trúc Ca-Lan-Đà, nước La-Duyệt-Kỳ, cùng với chúng Đại-Tỳ-Khưu cùng nhau chịu tuổi năm mới.
Khi ấy, Tôn-giả Đại Mục-Kiền-Liên, bảo các vị Tỳ-Khưu rằng: Chư Hiền! Vị Tỳ-Khưu chịu tuổi, cần nhất là vị ấy phải nói, vị ấy phải giáo-thụ, vị ấy phải răn dạy và vị ấy phải ái niệm mới gọi là đệ nhất được.
Tại sao? Chư Hiền! Hoặc có người ngang trái, khó dạy, lại cùng họp với những ác-pháp, mà bảo là người giữ Phạm-hạnh, cũng chẳng nói, cũng chẳng giáo-thụ, cũng chẳng răn dạy, cũng chẳng ái niệm, vậy người kia được gọi là đệ nhất chăng? Làm sao, Chư Hiền? Người ngang-trái khó dạy, bảo là Phạm-hạnh và cùng ở với họ, cũng chẳng nói, cũng chẳng giáo-thụ, cũng chẳng răn dạy, cũng chẳng ái-niệm, vậy người kia được gọi là đệ nhất chăng? Ấy, chư Hiền! Hoặc có một người ác-cầu (tìm làm những việc ác) cùng ở với người ác-cầu, chư Hiền! bảo là người ác-cầu kia cùng ở với người ác-cầu, pháp ấy ngang-trái, khó dạy; như thế nhiễm dục, sân-hận, keo-kiệt, ghen-ghét chẳng xả, nịnh-hót, huyễn-hoặc, không thẹn, không hổ, oán giận ràng-buộc, miệng nói oán-giận ràng-buộc, Tỳ-Khưu bảo rồi lại nói cãi trả lại, Tỳ-Khưu nói rồi, đi nói với nhiều người khác, Tỳ-Khưu nói rồi, đi phỉ-báng lại, mọi việc đều nói đúng, lại nói ngoại lệ; oán-giận cố-kết, rộng giao cùng ác-trí-thức và cùng ác-trí-thức làm bạn; không biết rằng có ơn, không biết xét lại. Chư Hiền! Bảo là người kia không biết rằng có ơn, không biết xét lại, ấy là ngang-trái, khó dạy? Thế là chư Hiền! Pháp ngang-trái khó dạy, bảo người Phạm-hạnh cùng ở với họ, mà cũng chẳng nói, cũng chẳng giáo-thụ, cũng chẳng răn dạy, cũng chẳng ái-niệm, vậy người kia được gọi là đệ nhất chăng?
Đấy, chư Hiền ! vị Tỳ-Khưu nên tự suy-nghĩ!
Chư Hiền! Bảo người kia là người ác-cầu cùng ở với người ác-cầu, là ta không cần nghĩ tới, vậy nếu ta là người ác-cầu, cùng ở với người ác-cầu, thời người ta cũng chẳng nghĩ tới ta làm gì. Vị Tỳ-Khưu nên quán-tưởng bình-đẳng, nên dùng ác-cầu và nên lấy đấy làm bài học. Như thế, những sự nhiễm dục, sân hận, keo-kiệt, ghen-ghét, chẳng xả, nịnh-hót, huyễn-hoặc, không thẹn, không hổ, oán-giận ràng-buộc; miệng nói oán giận ràng buộc, Tỳ-Khưu bảo rồi lại nói cãi trả lại, Tỳ-Khưu nói rồi nói với nhiều người khác, Tỳ-Khưu nói rồi, nói phỉ-báng lại; việc đều nói đúng, lại nói ngoại lệ; oán-hận cố-kết, rộng giao cùng ác-tri-thức và cùng ác-tri-thức làm bạn; không biết rằng có ơn, không biết xét lại. Chư Hiền! Bảo là người kia không biết rằng có ơn, không biết xét lại, ta không ưa. Vậy nếu ta không có ơn, không xét lại, thời người ta cũng chẳng nghĩ đến ta làm gì. Vị Tỳ-Khưu nên quán-tưởng bình-đẳng, nên đừng làm cái việc không xét lại và cần nên học.
Chư Hiền! Nếu vị Tỳ-Khưu chưa chịu tuổi năm mới, vị phải nói, vị phải giáo-thụ, vị phải răn dạy và vị phải ái-niệm, mới gọi là đệ nhất được. Tại sao chư Hiền? Hoặc có người không ngang-trái cùng hợp với giáo-pháp, bảo là người giữ Phạm-hạnh cùng ở với nhau, nên vì họ nói, nên vì họ giáo thụ, nên vì họ răn dạy, nên vì họ ái-niệm, vậy người kia được gọi là đệ nhất chăng? Làm sao chư Hiền! Người không ngang trái, cùng hợp với giáo-pháp, bảo là người giữ Phạm-hạnh cùng ở với nhau, nên vì họ nói, nên vì họ giáo-thụ, nên vì họ răn dạy, nên vì họ ái-niệm, vậy người kia được gọi là đệ nhất chăng? Ấy, chư Hiền, hoặc có một người không ác-cầu, không cùng ở với người ác-cầu, chư Hiền! Bảo là người không ác-cầu kia, không cùng ở với người ác-cầu, pháp ấy không ngang trái, như thế không nhiễm dục, không sân-hận, không keo-kiệt, ghen-ghét, chẳng xả không nịnh-hót, huyễn-hoặc, biết thẹn, biết hổ, không oán-giận ràng-buộc và miệng không nói oán-giận ràng-buộc; Tỳ-Khưu bảo rồi không nói cãi trả lại, Tỳ-Khưu nói rồi không đi nói với nhiều người khác, Tỳ-Khưu nói rồi, không nói phỉ-báng lại, mọi việc đều nói đúng không nói ngoại lệ; không oán-hận; rộng ra không cùng ác-tri-thức cùng ở và không cùng những người ác làm bạn; biết rằng có ơn, biết xét lại. Chư Hiền! Bảo là người kia cùng hợp với giáo-pháp, thế là, chư Hiền! không ngang-trái, cùng hợp với giáo-pháp, người Phạm-hạnh cùng ở với nhau, nên vì họ nói, nên vì họ giáo-thụ, nên vì họ răn dạy, nên vì họ ái-niệm, vậy người kia được là đệ-nhất chăng?
Đấy, chư Hiền! Vị Tỳ-Khưu nên tự suy-nghĩ!
Chư Hiền! Bảo là người kia không ác-cầu, không cùng ở với người ác-cầu là ta nghĩ tới, vậy nếu ta là người, không ác-cầu, không cùng ở với người ác-cầu, thời người ta cũng nghĩ tới ta. Vị Tỳ-Khưu nên quán-tưởng bình-đẳng, nên đừng ác-cầu và nên lấy đấy làm bài học. Như thế không nhiễm dục, không sân-hận, không keo-kiệt, ghen-ghét chẳng xả, không nịnh-hót, huyễn-hoặc, biết thẹn, biết hổ, không oán-giận ràng-buộc, miệng không nói oán-giận ràng-buộc; Tỳ-Khưu bảo rồi không nói cãi trả lại Tỳ-Khưu nói rồi không đi nói với nhiều người khác, Tỳ-Khưu nói rồi không nói phỉ-báng lại, mọi việc đều nói đúng không nói ngoại lệ; không sân-hận; rộng ra không cùng ác tri-thức cùng ở và không cùng những người ác làm bạn; biết có ơn và biết xét lại. Chư Hiền! người kia biết có ơn, biết xét lại, ta ái-niệm. Vậy nếu ta biết rằng có ơn, biết xét lại, thời người ta cũng ái-niệm ta. Ta là Tỳ-Khưu nên quán-tưởng bình-đẳng, biết có ơn, biết xét lại và nên lấy đấy làm bài học.
Chư Hiền! Nếu vị Tỳ-khưu chưa chịu tuổi năm mới, vị phải nói, vị phải giáo-thụ, vị phải răn dạy và vị phải ái-niệm, mới gọi là đệ nhất được. Tại sao chư Hiền? Hoặc có người không ngang-trái cùng hợp với giáo-pháp, bảo là người giữ Phạm-hạnh cùng ở với nhau, nên vì họ nói, nên vì họ giáo-thụ, nên vì họ răn dạy, nên vì họ ái-niệm, vậy người kia được gọi là đệ nhất chăng? Làm sao chư Hiền? Người không ngang trái, cùng hợp với giáo-pháp, bảo là người giữ Phạm-hạnh cùng ở với nhau, nên vì họ nói, nên vì họ giáo-thụ, nên vì họ răn dạy, nên vì họ ái-niệm, vậy người kia được gọi là đệ nhất chăng? Ấy, chư Hiền, hoặc có một người không ác-cầu, chư Hiền! Bảo là người không ác-cầu kia, không cùng ở với người ác-cầu, pháp ấy không ngang trái, như thế không nhiễm dục, không sân hận, không keo-kiệt, ghen-ghét, chẳng xả không nịnh hót, huyễn-hoặc, biết thẹn, biết hổ, không oán-giận ràng buộc và miệng không nói oán-giận ràng-buộc; Tỳ-khưu bảo rồi không nói cãi trả lại, Tỳ-khưu nói rồi không đi nói với nhiều người khác, Tỳ-khưu nói rồi, không nói phỉ-báng lại, mọi việc đều nói đúng không nói ngoại lệ; không oán-hận; rộng ra không cùng ác-tri-thức cùng ở và không cùng những người ác làm bạn; biết rằng có ơn, biết xét lại. Chư Hiền! Bảo là người kia cùng hợp với giáo-pháp, thế là, chư Hiền! không ngang-trái cùng hợp với giáo-pháp, người Phạm-hạnh cùng ở với nhau, nên vì họ nói, nên vì giáo-thụ, nên vì họ răn dạy, nên vì họ ái-niệm, vậy người kia được là đệ nhất chăng?
Đấy, chư Hiền! Vị Tỳ-Khưu quán-tưởng rồi sẽ có nhiều lợi-ích. Ta bị trụ vào ác-cầu và cùng ở với người ác-cầu, thời đừng nên trụ vào ác-cầu và không nên cùng ở với người ác-cầu.
Đấy, chư Hiền! Vị Tỳ-Khưu quán biết: ta trụ vào ác-cầu và cùng ở với người ác-cầu, thời người kia sẽ không vui mừng, nhưng người kia liền tiến lên và muốn ngăn-dứt ác-cầu.
Đấy, chư Hiền! Vị Tỳ-Khưu quán biết: ta sẽ không trụ vào ác-cầu và không cùng ở với người ác-cầu, thời người kia vui mừng, thanh-tịnh, trong-trắng, làm những hành-vi trong cảnh-giới của Thế-Tôn. Thấy rồi vui làm. Cũng như chư Hiền, người có mắt cầm tấm gương rất sạch, tự dùng soi mặt. Đấy, chư Hiền! Người có mắt tự thấy mặt mình bụi-bậm bèn không vui mừng và người kia liền tiến lên muốn lau bụi bậm ấy đi. Chư Hiền! Người có mắt mà không tự thấy mặt mình có bụi-bậm, thời người kia bèn vui mừng: thanh-tịnh, tự thấy, rồi vui làm. Như thế, chư Hiền! Vị Tỳ-Khưu quán biết: ta bị trụ vào ác-cầu và cùng ở với người ác-cầu, thời người kia liền tiến lên muốn ngăn-dứt ác-cầu.
Đấy, chư Hiền! Vị Tỳ-Khưu quán biết: ta sẽ không trụ vào ác-cầu và không cùng ở với người ác-cầu, người kia vui mừng, thanh-tịnh, trong-trắng, trụ nơi cảnh-giới của Thế-Tôn. Thấy rồi vui làm. Như thế, trụ nơi nhiễm dục, không trụ nơi chẳng nhiễm dục. Như thế, trụ nơi sân-hận không trụ nơi không sân hận. Như thế, trụ nơi keo-kiệt, ghen-ghét chẳng xả, không trụ nơi không keo-kiệt, ghen-ghét chẳng xả. Như thế trụ nơi nịnh-hót, huyễn-hoặc, không trụ nơi không nịnh-hót, huyễn-hoặc. Như thế trụ nơi không thẹn, không hổ, không trụ nơi biết thẹn, biết hổ. Như thế trụ nơi oán-hận ràng-buộc, miệng nói lời oán-hận ràng-buộc, không trụ nơi không oán-hận ràng-buộc, miệng nói lời không oán-hận ràng-buộc; trụ nơi Tỳ-Khưu bảo rồi nói cãi trả lại, không trụ nơi Tỳ-Khưu bảo rồi, không nói cãi trả lại; trụ nơi Tỳ-Khưu nói rồi đi nói với nhiều người khác, không trụ nơi Tỳ-Khưu nói rồi, không đi nói với nhiều người khác; trụ nơi Tỳ-Khưu nói rồi, nói phỉ-báng lại, không trụ nơi Tỳ-Khưu nói rồi không nói phỉ-báng lại; trụ nơi mọi việc đều nói đúng, mà nói ra ngoại lệ, không trụ nơi mọi việc đều nói đúng, không nói ngoại lệ, trụ nơi sân-hận, không trụ nơi không sân-hận; mà rộng ra trụ nơi cùng ác-tri-thức cùng ở, cùng những người ác làm bạn, không trụ nơi không cùng ác tri thức cùng ở không cùng những người ác làm bạn, trụ nơi không biết có ơn không biết xét lại không trụ nơi không biết có ơn, biết xét lại. Đấy chư Hiền, vị Tỳ-Khưu quán biết: ta trụ nơi không biết có ơn, không biết xét lại, thời người kia không vui mừng, nhưng người kia liền tiến lên muốn ngăn dứt nó đi vậy.
Đấy, chư Hiền! Vị Tỳ-Khưu quán biết: ta trụ nơi biết có ơn, biết xét lại, người kia vui mừng, thanh-tịnh, trong-trắng, làm những hành-vi trong cảnh-giới của Thế-Tôn. Thấy rồi vui làm. Cũng như chư Hiền, người có mắt, cầm, tấm gương thanh-tịnh tự soi mặt mình. Đấy chư Hiền! người có mắt, tự thấy mặt mình có bụi-bậm người kia không vui mừng, nhưng tiến lên muốn lau sạch bụi-bậm ấy. Đấy, chư Hiền! người có mắt ấy, không thấy mặt mình có bụi-bậm, người kia vui mừng thanh-tịnh, tự thấy vui làm. Như thế, chư Hiền, vị Tỳ-Khưu quán biết: trụ nơi không biết có ơn, không biết xét lại, người kia không vui mừng, nhưng liền tiến lên muốn ngăn-dứt nó đi. Đấy chư Hiền! Vị Tỳ-Khưu quán biết ta trụ nơi biết có ơn, biết xét lại, người kia vui mừng, thanh-tịnh trong-trắng, làm những hành-vi trong cảnh-giới của Thế-Tôn. Tự thấy rồi vui làm. Vui làm rồi vui mừng. Vui mừng rồi thân tín-hành. Thân tín-hành rồi biết an-lạc. An-lạc rồi có ý định. Có ý định rồi biết như thực, thấy như thực. Biết, thấy (tri, kiến) như thực rồi không chán. Không chán rồi không nhiễm. Không nhiễm rồi giải-thoát. Giải-thoát rồi được giải-thoát tri (kiến), sinh đã hết, Phạm-hạnh đã thành, chỗ tạo-tác đã xong, không chịu cái tri (biết) như-thực của thân-hậu-hữu.
Hiền-giả, Mục-Kiền-Liên nói như thế, các vị Tỳ-Khưu kia nghe Tôn-giả Mục-Kiền-Liên nói rồi, đều vui mừng sung-sướng.


Chú thích:
[1] Kinh này là cuốn kinh số 50 trong Đại-Tạng-kinh, Thụ Tuế nghĩa là chịu tuổi.

Tags:

bộ a hàmkinh chữ hánKinh Tạng Bắc TruyềnThích Chánh LạcThích Tâm Châu
Author

admin

Follow Me
Other Articles
Previous

Phật Bát Nê Hoàn Kinh [佛般泥洹經]

Phạm Chí Kế Thuỷ Tịnh Kinh [梵志計水淨經]
Next

Phạm Chí Kế Thuỷ Tịnh Kinh

Bồ Tát Long Thọ bộ a hàm Bộ A hàm - Tam Tạng Thánh Điển Bộ Bát Nhã Bộ Bản Duyên Bộ Bản Duyên - Tam Tạng Thánh Điển Phật Giáo Việt Nam Bộ Du Già Luận Bộ Trung Quán Luận chưa dịch Huyền Thanh kinh chữ hán kinh tiếng hán Kinh trung bộ kinh trường bộ kinh trường bộ html Kinh Tạng Bắc Truyền Kinh Tạng Chữ Hán Linh Sơn Pháp Bảo Đại Tạng Kinh luận Nguyên Huệ Nguyên Thuận Nguyễn Minh Tiến pdf TAM TẠNG PHẬT GIÁO BỘ PHÁI tam tạng thánh điển phật giáo Việt Nam Tam Tạng Thượng Toạ Bộ THÍCH THIỆN SIÊU Thích Bảo Lạc Thích Chánh Lạc thích minh châu Thích Thanh Từ Thích Trí Tịnh Thích Tuệ Sỹ Thích Tâm Châu Thích Tâm Hạnh Thất dịch Trường A Hàm Tùy Kiết Tạng Tùy Đạt Ma Cấp Đa Tăng Nhất A Hàm Tạp A Hàm Tạp Tạng Vô Trước Bồ Tát Đoàn Trung Còn Đại Tạng Kinh Tiếng Việt

Copyright 2026 — Tàng Kinh Các. All rights reserved.