Skip to content
-
Nam Mô A Di Đà Phật
Tàng Kinh Các

Sưu Tầm và Chia Sẻ Kinh Sách

Tàng Kinh Các

Sưu Tầm và Chia Sẻ Kinh Sách

  • Home
  • Kinh
    • Kinh Tạng Nam Truyền
      • kinh trường bộ
      • kinh trường bộ html
      • Kinh Trung Bộ
      • Kinh Tương Ưng Bộ
      • Kinh Tăng Chi Bộ
      • KInh Tiểu Bộ
      • Tạng Vi Diệu Pháp
      • Luật Tạng ( Nam Truyền )
      • Kinh Tạng Nam Truyền
        • KINH TẠNG NAM TRUYỀN (PALI TẠNG / NIKAYA)
        • Sơ Đồ Kinh Điển Tam Tạng Pāli (Tipiṭaka)
    • Linh Sơn Pháp Bảo Đại Tạng Kinh – Tạng Kinh Bắc Truyền
    • Càn Long Đại Tạng Kinh
    • TAM TẠNG THÁNH ĐIỂN PHẬT GIÁO VIỆT NAM
    • Đại Tạng Kinh Bắc Truyền Hán Tạng Việt Tạng
      • Bộ A Hàm – Tạng Kinh Bắc Truyền
      • Bộ Bản Duyên – Tạng Kinh Bắc Truyền
      • Bộ Bát Nhã – Tạng Kinh Bắc Truyền
      • Bộ Pháp Hoa – Tạng Kinh Bắc Truyền
      • Bộ Hoa Nghiêm – Tạng Kinh Bắc Truyền
      • Bộ Bảo Tích – Tạng Kinh Bắc Truyền
      • Bộ Niết Bàn – Tạng Kinh Bắc Truyền
      • Bộ Đại Tập – Tạng Kinh Bắc Truyền
      • Bộ Kinh Tập – Kinh Tạng Bắc Truyền
      • Bộ Mật Giáo – Tạng Kinh Bắc Truyền
      • Bộ Luật – Tạng Kinh Bắc Truyền
      • Bộ Thích Kinh Luận – Tạng Kinh Bắc Truyền
      • Bộ Tỳ Đàm – Tạng Kinh Bắc Truyền
      • Bộ Trung Quán Luận – Tạng Kinh Bắc Truyền
      • Bộ Du Già – Tạng Kinh Bắc Truyền
      • Bộ Luận Tập – Tạng Kinh Bắc Truyền
      •  Bộ Kinh Sớ – Tịnh Độ Tông – Tạng Kinh Bắc Truyền
      •  Bộ Kinh Sớ – Thiền Tông – Tạng Kinh Bắc Truyền
      • Bộ Luật Sớ – Tạng Kinh Bắc Truyền
      • Bộ Chư Tông – Tạng Kinh Bắc Truyền
      • Bộ Sử Truyện – Tạng Kinh Bắc Truyền
      • Bộ Sự Vị – Tạng Kinh Bắc Truyền
      • Bộ Ngoại Giáo – Tạng Kinh Bắc Truyền
      • Bộ Cổ Dật – Tạng Kinh Bắc Truyền
      • Bộ Nghi Tự – Tạng Kinh Bắc Truyền
      • Bộ Mục Lục – Tạng Kinh Bắc Truyền
  • Luật
  • Luận
  • Ebook – Mp3
  • Privacy Policy
  • Home
  • Kinh
    • Kinh Tạng Nam Truyền
      • kinh trường bộ
      • kinh trường bộ html
      • Kinh Trung Bộ
      • Kinh Tương Ưng Bộ
      • Kinh Tăng Chi Bộ
      • KInh Tiểu Bộ
      • Tạng Vi Diệu Pháp
      • Luật Tạng ( Nam Truyền )
      • Kinh Tạng Nam Truyền
        • KINH TẠNG NAM TRUYỀN (PALI TẠNG / NIKAYA)
        • Sơ Đồ Kinh Điển Tam Tạng Pāli (Tipiṭaka)
    • Linh Sơn Pháp Bảo Đại Tạng Kinh – Tạng Kinh Bắc Truyền
    • Càn Long Đại Tạng Kinh
    • TAM TẠNG THÁNH ĐIỂN PHẬT GIÁO VIỆT NAM
    • Đại Tạng Kinh Bắc Truyền Hán Tạng Việt Tạng
      • Bộ A Hàm – Tạng Kinh Bắc Truyền
      • Bộ Bản Duyên – Tạng Kinh Bắc Truyền
      • Bộ Bát Nhã – Tạng Kinh Bắc Truyền
      • Bộ Pháp Hoa – Tạng Kinh Bắc Truyền
      • Bộ Hoa Nghiêm – Tạng Kinh Bắc Truyền
      • Bộ Bảo Tích – Tạng Kinh Bắc Truyền
      • Bộ Niết Bàn – Tạng Kinh Bắc Truyền
      • Bộ Đại Tập – Tạng Kinh Bắc Truyền
      • Bộ Kinh Tập – Kinh Tạng Bắc Truyền
      • Bộ Mật Giáo – Tạng Kinh Bắc Truyền
      • Bộ Luật – Tạng Kinh Bắc Truyền
      • Bộ Thích Kinh Luận – Tạng Kinh Bắc Truyền
      • Bộ Tỳ Đàm – Tạng Kinh Bắc Truyền
      • Bộ Trung Quán Luận – Tạng Kinh Bắc Truyền
      • Bộ Du Già – Tạng Kinh Bắc Truyền
      • Bộ Luận Tập – Tạng Kinh Bắc Truyền
      •  Bộ Kinh Sớ – Tịnh Độ Tông – Tạng Kinh Bắc Truyền
      •  Bộ Kinh Sớ – Thiền Tông – Tạng Kinh Bắc Truyền
      • Bộ Luật Sớ – Tạng Kinh Bắc Truyền
      • Bộ Chư Tông – Tạng Kinh Bắc Truyền
      • Bộ Sử Truyện – Tạng Kinh Bắc Truyền
      • Bộ Sự Vị – Tạng Kinh Bắc Truyền
      • Bộ Ngoại Giáo – Tạng Kinh Bắc Truyền
      • Bộ Cổ Dật – Tạng Kinh Bắc Truyền
      • Bộ Nghi Tự – Tạng Kinh Bắc Truyền
      • Bộ Mục Lục – Tạng Kinh Bắc Truyền
  • Luật
  • Luận
  • Ebook – Mp3
  • Privacy Policy
Close

Search

Home/Kinh Tạng Bắc Truyền/Bộ A Hàm/A Hàm Khẩu Giải Thập Nhị Nhơn Duyên Kinh
Bộ A Hàm

A Hàm Khẩu Giải Thập Nhị Nhơn Duyên Kinh

By admin
15 Min Read
Comments Off on A Hàm Khẩu Giải Thập Nhị Nhơn Duyên Kinh

A Hàm Khẩu Giải Thập Nhị Nhơn Duyên Kinh
[阿含口解十二因緣經]

Nguyên bản Hán văn – Bản khắc Càn long – Vĩnh Lạc Đại Điển – CBETA

Bản chia sẻ của CBETa

A Hàm Khẩu Giải Thập Nhị Nhơn Duyên Kinh
[阿含口解十二因緣經]

thuộc tập T25, kinh số 1508, tổng cộng 1 quyển, – Hậu Hán An Huyền Cộng Nghiêm Phật Điều dịch

A Hàm Khẩu Giải Thập Nhị Nhơn Duyên Kinh [阿含口解十二因緣經]Download
Nguyên Bản Chữ Hán

A Hàm Khẩu Giải Thập Nhị Nhơn Duyên Kinh
[阿含口解十二因緣經]

( Bản khắc gỗ Càn long và Vĩnh Lạc Đại Điển )

Bản Khắc Càn Long

A Hàm Khẩu Giải Thập Nhị Nhơn Duyên Kinh [阿含口解十二因緣經] (1)Download

Vĩnh Lạc Đại Điển

A Hàm Khẩu Giải Thập Nhị Nhơn Duyên Kinh [阿含口解十二因緣經] (2)Download

Bản Dịch Tiếng Việt

Bộ A Hàm

Linh sơn pháp bảo đại tạng kinh

A Hàm Khẩu Giải Thập Nhị Nhơn Duyên Kinh
[阿含口解十二因緣經]

thuộc tập T25, kinh số 1508, tổng cộng 1 quyển, – Hậu Hán An Huyền Cộng Nghiêm Phật Điều dịch

Kinh A Hàm Khẩu Giải Mười Hai Nhân Duyên

Việt dịch: Nguyên Huệ

Muốn đoạn trừ sinh tử, hướng đến đạo độ thế (xuất thế gian, giải thoát), phải nên suy niệm, từ bỏ mười hai nhân duyên. Những gì là 12? Đó là:
1. Gốc là Si ám (Vô minh).
2. Từ Si ám đã tạo ra Hành (Hành).
3. Từ Hành đã tạo ra Thức (Thức).
4. Từ Thức có Danh sắc (Danh sắc).
5. Từ Danh sắc có Lục suy (Lục nhập).
6. Từ Lục suy tạo Sở cánh (Xúc).
7. Từ Sở cánh sinh Thống (Thọ).
8. Từ Thống có Ái (Ái).
9. Từ Ái sinh Cầu (Thủ).
10. Từ Cầu có Đắc (Hữu).
11. Từ Đắc có Sinh (Sinh).
12. Từ Sinh có Lão bệnh tử (Lão tử).
Đó là mười hai sự nhân duyên. 12 sự nầy sắp khởi, nên dùng 4 phi thường (hành bốn đế) để diệt trừ. Những gì là 4 phi thường? Đó là:
1. Nhận biết về khổ.
2. Xả bỏ tập.
3. Biết rõ về tận (diệt).
4. Hành đạo.
Lại nói về niệm sinh, niệm lão, niệm bệnh, niệm tử. Niệm về bốn sự nầy liền loại trừ mười hai nhân duyên ấy. Đạo thành tựu là nhờ niệm về bốn sự như thế. Người hành đạo muốn đạt được giải thoát phải đoạn trừ mười hai sự nhân duyên, đó là đoạn trừ gốc của sinh tử. 12 nhân duyên có trong, ngoài:
1. Trong là Si, ngoài là Địa.
2. Trong là Hành, ngoài là Thủy.
3. Trong là Thức, ngoài là Hỏa.
4. Trong là Danh sắc, ngoài là Phong.
5. Trong là Lục nhập, ngoài là Không.
6. Trong là Tài (Xúc), ngoài là Chủng tử.
7. Trong là Thống (Thọ), ngoài là Căn.
8. Trong là Ái, ngoài là Thân.
9. Trong là Thọ (Thủ), ngoài là Lá.
10. Trong là Hữu, ngoài là Nhánh.
11. Trong là Sinh, ngoài là Hoa.
12. Trong là Lão tử, ngoài là Quả.
Sinh tử của con người theo mười hai nhân duyên bên trong. Sinh tử của muôn vật theo mười hai nhân duyên bên ngoài.
Những gì là Si (Vô minh)? Nghĩa là không lễ kính cha mẹ, không phân biệt trắng đen (thiện ác). Từ nhân duyên ấy nên có thống (thọ) không muốn từ bỏ, không tin về đời nay cũng như đời sau. Đã tạo sự như vậy là liền tùy theo hành, không tạo cũng không được. Do đấy có Si liền có Hành. Đã có Hành nên có Thức. Đã có Thức liền có Danh sắc. Đã có Danh sắc nên có Lục nhập. Đã có Lục nhập nên có Tài (Xúc). Đã có Tài (Xúc) nên có Thống (Thọ). Đã có Thống (Thọ) nên có Ái. Đã có Ái nên có Thọ (Thủ). Đã có Thọ (Thủ) nên có Hữu. Đã có Hữu nên có Sinh. Đã có Sinh nên có Lão tử. Vì thế đời sống của con người nhận lấy mười hai nhân duyên, theo mười hai nhân duyên sinh khởi, không nhân duyên thì cũng không sinh. Muôn vật cũng như vậy. Không đoạn trừ mười hai nhân duyên thì không thoát khỏi sinh tử. Hành tập ba mươi bảy phẩm kinh (ba mươi bảy phẩm trợ đạo) là từ đấy được đạo. 12 nhân duyên có 3 sự:
1. Là si (vô minh).
2. Là sinh tử thuần hành.
Là nhân duyên của đời trước.
3. Là thức. Từ thức thọ thân sinh.
4. Là danh sắc.
Sắc thân lại thành năm ấm, là nhân duyên của đời nay.
5. Là lục suy (lục nhập).
Lại tạo sinh tử thuần hành, chủng tài (xúc) là nhân duyên của đời sau.
Ba đời trước, sau chuyển cùng nhân duyên nên có ba sự. Mười hai nhân duyên, gốc từ mười sự (nghiệp) của thân, xuất sinh mười sự của thân, bảy sự thành một, ba sự từ bốn. Bảy sự thành một là: Sát, đạo (trộm), dâm, lưỡng thiệt, ác khẩu, vọng ngôn, ỷ ngữ, cùng theo sắc làm một. Ba sự từ bốn là: Ganh ghét (tham) sân nhuế (sân) si, theo thống dương (thọ), tư tưởng (tưởng), sinh tử (hành), thức (thức), là mười sự hợp làm năm ấm, nên làm mười hai nhân duyên. Địa gọi là si, hành là thạnh ấm, nên tạo hành sinh tử. Từ chủng tài (xúc) gọi là hành, đã có hành nên có thức, thọ nhận thân sinh tử. Có thức nên có danh sắc, thân lại tạo mười sự (nghiệp), thành năm ấm đã có. Đã có danh sắc nên có lục nhập, lại tạo thạnh ấm. Hành, chủng tài (xúc) sau sẽ lại thọ nhận chuyển cùng nhân duyên sinh tử, nên gọi là nhân duyên.
Mười sự của thân là mười hai nhân duyên: Ganh ghét (tham) là si (vô minh). Sân giận là sinh tử (hành). Thuần nghi là thức. Sát sinh là danh sắc. Trộm cắp là lục suy (lục nhập). Dâm là cánh (xúc). Lưỡng thiệt (nói hai lưỡi) là thống (thọ). Nói dối là ái. Nói lời thô ác là thành. Nói lời thêu dệt là nguyện. Sinh có không nên là hữu. Nơi mười hai nhân duyên, vì sao dâm (tham) là si (vô minh) sân giận là sinh tử (hành), thuần nghi là thức, ba sự (nghiệp) bên trong là gốc. Đã có ba sự nên có bảy sự, thành năm thạnh ấm. Ganh ghét (tham) là gốc của năm ấm, nên là si (vô minh). Hành của năm ấm hợp ý là vui vẻ, không hợp ý là giận, liền tạo sinh tử (hành), thuần nơi mười sự. Bên ngoài từ thân, bên trong từ ý. Si là không phân biệt thiện ác, không biết sinh tử nên có thức. Người hành đạo muốn đoạn trừ mười hai nhân duyên, trước nên đoạn mười sự của thân. Do từ si (vô minh), từ si năm ấm diệt nên mười hai nhân duyên cũng diệt. Đoạn mười sự của thân, là bên ngoài từ thân, bên trong từ ý. Nói giữ thân, ý nghĩa là không sát hại, cũng gọi là bên ngoài từ nơi miệng, bên trong từ nơi ganh ghét (tham). Đoạn trừ, nghĩa là đối với muôn vật, tất cả ý không khởi, nên giận dữ dứt, giận dữ dứt nên sát hại dứt. Sát hại dứt nên tham dục dứt. Tham dục dứt nên dâm dứt. Bên ngoài từ miệng là âm thanh. Dứt âm thanh thì nói hai lưỡi, nói lời thô ác, nói dối, nói lời thêu dệt cũng dứt. Không có si nên nhập đạo, đó là trở lại đoạn trừ năm ấm là gốc của mười hai nhân duyên.
Thọ thân người có ba thứ riêng:
Thứ nhất là năm ấm, thạnh ấm.
Thứ hai là mười tám chủng (giới).
Thứ ba là hành mười hai nhân duyên.
Đó là ba sự được thân có ba riêng biệt.
+ Thứ nhất là năm ấm, thạnh ấm là: Năm ấm từ mười sự của thân xuất sinh. Từ mắt là sắc ấm. Từ tai là thống dương (thọ) ấm. Từ mũi là tư tưởng (tưởng) ấm. Từ miệng là sinh tử (hành) ấm. Từ ý là thức ấm. Tâm chủ niệm đối là căn bản của sáu sự. Đó là địa của năm ấm.
+ Thứ hai là mười tám chủng nhập, mười chín căn. Mười tám chủng (giới) là hành của năm ấm, là thạnh ấm. Có đối có nhập, là gốc của mười hai nhập, cùng với sáu tình (căn) là mười tám chủng (nhập), có thức nên là mười chín căn. Nói mười tám chủng (giới), tức thức không sinh nên là mười tám chủng (giới). Là nói hành của thạnh ấm sinh mười tám chủng (giới), mười chín căn.
+ Thứ ba là mười hai nhân duyên: Nghĩa là hành của năm ấm, năm thạnh ấm cầu (thủ) mười hai nhân duyên, nên có thân, là đồng mười sự của thân, cùng phân biệt. Từ sắc được thân, từ bốn ấm được danh tự. Từ danh sắc được ái, thọ (thủ). Từ thọ (thủ) hành si (vô minh), hành si nên thành mười hai nhân duyên. Người hành đạo nên đoạn trừ sắc, không tạo thân (ngã), chỉ danh tự tạo thân. Tuy có mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý, nhưng cũng lại là phi thân (vô ngã). Vì sao? Vì nếu tai là người, nên có thể nghe tất cả, theo hình tướng được danh tự. Ví như gọi là vàng. Ví như dùng vàng tạo ra các vật. Nhân từ đấy được đặt tên. Đất, nước, lửa, gió, không, là năm sự tạo thân, cũng lại phi thân (vô ngã). Vì sao thân nhận biết tế hoạt (xúc). Người đã chết như đất, không nhận biết tế hoạt (xúc), nên biết đất, nước, lửa, gió, không, là phi thân (vô ngã). Thân cũng không, ý cũng không, đều không, vô sở hữu, cũng không có thống dương (thọ). Vì sao? Vì người đã chết cũng không còn biết thọ. Như thế là không. Ý đã lìa thân, cũng không có thọ. Chỉ là nhân duyên cùng hòa hợp, nên trở lại quy về không có. Trong thân có mười hai thứ gió là: Gió thượng khí – gió hạ khí. Gió nơi mắt – gió nơi tai – gió nơi mũi. Gió nơi lưng. Gió nơi sườn. Gió nơi rốn. Gió nơi cánh tay. Gió nơi chân. Gió quanh co. Gió đao. Gió đao đến bệnh nhân. Gió đao sát sinh. Gió đao đoạn dứt mạng người.
Nói về sinh già bệnh chết. Sinh là đầu tiên lúc vào trong bụng mẹ (nhập thai), rồi sau sinh ra. Đã sinh nên có già. Chỉ là dừng trong ý, dùng chỉ nên diệt hơi thở ra vào, thấy rõ gốc của thân, là kết hợp mười sự để diệt.
5 sự trong thân:
1. Là đất.
2. Là nước.
3. Là lửa.
4. Là gió.
5. Là không.
Cứng chắc là đất. Mềm mại là nước. Nóng là lửa. Hơi là gió. Ăn uống được ra vào là không. Cũng cần có nhân duyên khác hợp làm người, tự cho là thân ta. Hoặc muốn cùng nhận biết muôn vật nên đối chiếu cho là có thân, cũng có 5 nhân duyên cùng hợp:
1. Sắc (sắc).
2. Thống dương (thọ).
3. Tư tưởng (tưởng).
4. Sinh tử (hành).
5. Thức (thức).
Mười sự ấy cùng hợp nên thấy sinh tử. Sự (nghiệp) có thiện, ác. Hành thiện có hai loại: Không phạm, thân có ba, miệng có bốn, ý có ba, đó là một thiện. Hai thiện là: Bố thí, trì giới, nhẫn nhục, tinh tấn, không nghi, đó là hai thiện. Ác cũng có hai loại: Phạm, thân có ba, miệng có bốn, ý có ba, cùng uống rượu, đó là một ác. Nghi, ganh ghét, tham lam, keo kiệt, đó là hai ác. Giữ gìn thân miệng ý, đó là người hành đạo. Từ phước được sinh. Từ hành có già, bệnh, chết, thân liền bị hủy hoại. Lúc con người nhập định, ý lìa thân tại nhân duyên của địa. Vì sao không chết? Vì bốn sự hợp giữ chưa tan hoại. Người hành mười sự (nghiệp) theo ba sự. Người hành ba sự theo hai sự. Người hành hai sự theo một sự. Những gì là mười sự? Đó là mười ác, nên có ba sự của thân miệng ý. Đã có ba sự nên có hai sự danh, sắc. Đã có danh sắc, nên bị rơi vào si (vô minh) luân chuyển hàng trăm kiếp mới được làm người, khó đầy đủ. Đời người thuần tạo địa thức làm chủng, thức của năm đường, tên gọi khác, hợp làm một thức, nhập nơi một thức nên mất chỗ gốc đã nhận biết. Như người sinh lên cõi trời, mang thức người thọ nhận thức trời, nên quên sự việc của nhân gian. Người từ không sinh, từ có chết. Không vì sao sinh? Không nhận biết về không nên sinh. Có vì sao chết? Không nhận biết về có nên chết. Nhận biết về không, chẳng còn sinh. Nhận biết về có, chẳng còn chết.
Ý có chỗ niệm, do diệt, nên đạt đến xứ đã sinh. Ý niệm không diệt, cũng không thể hành sinh trên ý. Ý đầu khởi do diệt, nên lại niệm chỗ niệm tuy nhiều, nên trở lại từ trên đầu ý thọ nhận nhân duyên. Người sinh gốc từ người vợ. Vợ chồng bất tịnh, nhiễm ô hiện bày được thân. Lớn lên liền bị tri thức ác dẫn dắt, là năm ấm, sáu chỉ, mười hai suy (nhập) lừa dối, nên có già bệnh chết sầu khổ. Sinh tử là si, người trí tuệ nên đoạn trừ sáu chỉ, tức là địa, thủy, hỏa, phong, không, thức. Mười hai suy (nhập) là sắc, thanh, vị, tế hoạt (xúc), niệm dục (pháp). Bên trong có giặc giấu tên. Đó là mười hai suy (nhập). Người sinh có ba nhân duyên:
1. Hội họp.
2. Tụ.
3. Tâm ý thức.
Thống dương (thọ) tư tưởng (tưởng) sinh tử (hành) thức, đó là hội hợp. Các ái dục, đó là tụ. Đầu trên là tâm. Ở giữa là ý. Đầu sau là thức. Con người, trước hết là nhập thai mẹ, như màu vàng trong trứng gà. Đến ba mươi bảy ngày tất có đầy đủ đầu mặt tay chân, ngón tay, ngón chân. Bốn ngày trước khi sinh thì quay ngược hướng xuống dưới. Con người ở trong thai mẹ chịu nhiều cực khổ. Thời gian ở trong thai mẹ, mạng ngày càng tăng, thức ngày càng lớn. Thân hơi cứng cáp một chút, khi đến nửa năm, thân cùng thức ngày một giảm. Được thân là phước, cũng là tội. Vì sao? Do được thân người, đó là phước. Do đói khát, lạnh nóng, tham dâm, ganh ghét là tội.
Người sinh con có 5 nhân duyên:
1. Có bản nguyện.
2. Đồng nghiệp.
3. Hiểu rõ lễ.
4. Nợ đến.
5. Trả nợ.
Những gì là bản nguyện? Nghĩa là từ đời trước, lúc trông thấy con của người khác đẹp đẽ, nên nguyện nói con của ta cũng như vậy.
Đồng nghiệp: Là đồng s
uy tính, so sánh được lợi cùng gọi.
Hiểu rõ lễ: Là nên cùng ái kính.
Nợ đến: Là cha mẹ chủ trị việc sinh, người con dùng không thuận hợp.
Trả nợ: Là người con chủ trị việc sinh, giao phó cho cha mẹ.
Người con do 3 nhân duyên nên sinh:
1. Cha mẹ nơi đời trước mắc nợ con tiền bạc.
2. Người con đời trước nợ cha mẹ tiền bạc.
3. Oan gia đến làm con.
Cha mẹ khó nhọc để tạo ra tài sản, đã đạt được liền chết, người con thừa hưởng sử dụng. Đó là cha mẹ đời trước mắc nợ con tiền bạc.
Người con làm việc tạo ra tài sản, đã có được liền chết, cha mẹ sử dụng. Đó là người con đời trước nợ cha mẹ tiền bạc.
Có khi sinh con được trăm ngày v.v… liền chết, cha mẹ buồn khổ, sầu não. Đó là oan gia cùng theo sinh.
Sinh con có 3 loại:
1. Con phước.
2. Con chân chánh.
3. Con không chân chánh.
Thế nào là con phước? Nghĩa là cha mẹ trì giới, bố thí, nhẫn nhục, tinh tấn hành đạo. Người con cũng thế. Đó là con phước.
Con chân chánh: Là cha mẹ không tin đạo, riêng người con thì phụng hành đạo giáo. Đó là con chân chánh.
Con không chân chánh: Là cha mẹ theo đạo nghiệp, theo pháp hành, người con chỉ biết uống rượu, làm ác. Đó là con không chân chánh.
Con từ cha mẹ sinh, có đồng ý, có đồng hành, có đồng niệm. Cùng sống lâu, giàu sang, đoan nghiêm, đó là đồng hành. Tham dục, giận dữ, đó là đồng ý. Tinh tấn hành đạo, đó là đồng niệm. Hành gốc tại nơi cha, đa phần giống cha. Hành gốc tại nơi mẹ, đa phần giống mẹ. Không đồng hành nên không cùng loại.
Người sinh ra, chạm đất, chưa có nhận biết, liền vui mừng hướng tới mẹ, là do gốc của ý thức làm nhân duyên, nên như thế.
Lúc con người sinh trở lại, có nhân duyên, thân có thể ra vào không gián đoạn, đến bảy ngày lại có bọc mang thân, cũng có địa, thủy, hỏa, phong, không, chỉ rấtnhỏ, khó thấy. Người tuổi già, nhận biết ít, quên nhiều, thức chuyển ít dần, hướng tới xứ sinh sau. Vì sao? Vì không dự biết về xứ sẽ sinh, do chưa đến. Người khác sinh, người khác lại, người khác đến chỗ người khác, người khác lo lắng về chỗ của người khác. Theo đến lâu xa thành quen v.v… nên không học. Thân có ba thống (thọ), ý cũng có ba thống (thọ).
3 thọ của thân là:
1. Bị đao, gậy, ngói gạch, đá đạp.
2. Bệnh tật gầy ốm.
3. Chết.
3 thọ của ý là:
1. Lo lắng về cha mẹ, anh em, vợ con nhận biết.
2. Lo lắng về tài sản, vật báu, oan gia.
3. Lo lắng về thọ mạng.
Thế nào là thọ ấm? Nghĩa là năm ấm không điều hòa nên thọ khổ.
Thế nào là tử ấm? Là chín muồi, hoại nên là chết.
Tất cả bệnh đều do ý tạo tác, thân không nhận biết, nên không tạo ra bệnh ấy.
Thân đó vì sao bị bệnh? Do bốn nhân duyên không bình đẳng.
Thế nào là lo lắng? Là hết thảy không như ý.
Do đâu không định rõ? Là do bệnh tật đã qua.
Do đâu khiến cấp bách? Chính là sắp bị hủy diệt.
Do đâu bị tan hoại? Là do thân già làm hại.
Thế nào là già chết? Là hủy hoại.
Thế nào là phi thường (vô thường)? Là không được tự tại.
Thế nào là khổ? Là bị bức bách.
Thế nào là không? Là không có chủ.
Nói ngã tạo tác là như thế nào? Là do phi thân (vô ngã).
Không thể lìa khổ, không cầu thọ khổ, đó là mười sự.
Chỗ mong muốn của con người gồm có 3 sự. Điều tham ái của con người thường muốn đạt được:
1. Mạnh mẽ.
2. An ổn.
3. Sống lâu.
Như thế lại có 3 oán:
1. Tuổi già, là oán đối của mạnh mẽ.
2. Bệnh tật, là oán đối của an ổn.
3. Thân chết, là oán đối của sống lâu.
Cũng có 3 sự cứu độ:
1. Quy mạng Phật.
2. Quy mạng Pháp.
3. Quy mạng Tỳ-kheo Tăng.
Có bốn sự đáng sợ hãi: Đó là sinh, già, bệnh, chết.
Người mặt đỏ có 5 nhân duyên:
1. Gần lửa.
2. Uống rượu.
3. Sợ hãi.
4. Nghĩ giận.
5. Nhiều hổ thẹn.
Đầu bạc có 4 nhân duyên:
1. Nhiều lửa.
2. Nhiều lo lắng.
3. Nhiều bệnh.
4. Chủng loại bạc sớm.
Người bệnh gầy ốm có 4 nhân duyên:
1. Thiếu ăn.
2. Có lo lắng.
3. Nhiều sầu muộn.
4. Có bệnh.
Thân chưa điều hòa, có 4 sự không nói trước với người:
1. Đầu bạc.
2. Già.
3. Bệnh.
4. Chết.
Bốn sự nầy không thể tránh, cũng không thể lìa, cũng không thể từ khước.
Có 4 sự không thể nhẫn:
1. Đói.
2. Khát.
3. Lạnh.
4. Nóng.
Thân lại có 4 sự:
1. Không chân.
2. Không đầy đủ.
3. Không ăn no.
4. Không chán.
Thân lại có 4 khổ:
1. Khổ lúc sinh.
2. Khổ lúc già.
3. Khổ lúc bệnh.
4. Khổ lúc chết.
Tất cả vị không quá 8 thứ:
1. Đắng.
2. Không ngọt trơn.
3. Cay.
4. Mặn.
5. Lạt.
6. Ngọt.
7. Chua.
8. Không nhận rõ về vị.
Đắng tăng thêm lạnh nóng. Không ngọt trơn tăng thêm nhiều gió trừ lạnh. Cay trừ nước. Chua trừ gió, khiến người mắt mờ tối.
Ăn có 3 nhân duyên, đều vào trong huyết mạch xương tủy:
1. Mỡ béo.
2. Chất độc.
3. Rượu.
Ba thứ nầy đều vào khắp trong thân, không có nơi nào không đến. Các thức ăn uống đều có chất béo, chỉ dày mỏng, nhiều, ít thôi.
Người có 4 chủng tánh:
1. Trưởng giả.
2. Đạo thuật.
3. Sư vu (Thầy cúng).
4. Điền gia (Nông phu).
Sinh có 4 loại:
1. Sinh từ bụng (Thai sinh).
2. Nóng lạnh hòa hợp sinh (Thấp sinh).
3. Sinh từ biến hóa.
4. Sinh từ trứng.
Sinh từ bụng là con người cùng súc sinh. Nóng lạnh hòa hợp sinh như loài trùng, ngài v.v… Sinh từ biến hóa như chư Thiên, địa ngục. Sinh từ trứng như chim bay, cá.
Đầu người có bốn mươi lăm xương. Từ lưng trở lên có năm mươi mốt xương. Bốn chi có một trăm lẻ bốn xương, hợp lại là hai trăm xương. Thân người có bảy mươi vạn mạch máu, chín mươi chín lỗ chân lông. Có thể quán tất tự thấy, phân biệt, nhận biết.
Có bậc A-la-hán, dùng thiên nhãn thấy rõ, thấy người nữ bị đọa trong địa ngục rất là nhiều, liền hỏi Phật vì sao như thế. Đức Phật bảo: Do 4 nhân duyên:
1. Tham châu báu, vật dụng như y phục, luôn muốn được nhiều.
2. Cùng ganh ghét nhau.
3. Nhiều miệng lưỡi.
4. Tạo hình dáng đẹp đẽ, dâm dục nhiều.
Do đó nên bị đọa trong địa ngục nhiều.
* Ghi chú (của Người dịch):
Bản Kinh (Luận) nầy (1508/1) được Hán dịch vào giai đoạn đầu (Đời Hậu Hán, thế kỷ 2 TL) nên hầu hết câu văn dịch, từ ngữ, thuật ngữ đều đang còn ở chỗ dò dẫm, hình thành:
Những giải thích, diễn đạt chưa rõ, thiếu, lẫn lộn, không hợp lý.
Nhiều đoạn câu văn dịch tối nghĩa, lủng củng.
Từ ngữ, thuật ngữ hầu hết đều thuộc về giai đoạn đầu, chúng tôi phải mở ngoặc để ghi các từ ngữ chuẩn, thông dụng.

阿含口解十二因緣經 後漢
譯者:安玄 嚴佛調

阿含口解十二因緣經

後漢安息優婆塞都尉安玄共沙門嚴佛調譯

欲斷生死趣度世道者,當念卻十二因緣。何等為十二?一者本為癡,二者從癡為所作行,三者從作行為所識,四者從所識為名色,五者從名色為六衰,六者從六衰為所更,七者從所更為痛,八者從痛為愛,九者從愛為求,十者從求為得,十一者從得為生,十二者從生為老病死,是為十二因緣事。

此十二事欲起,當用四非常滅之。何等為四非常?一為識苦,二為捨習,三為知盡,四為行道。更說念生、念老、念病、念死,念是四事,便卻是十二因緣道成。念是四事道人,欲得度世,當斷十二因緣事,是為斷生死根。

十二因緣有內外:一者內為癡、外為地,二者內為行、外為水,三者內為識、外為火,四者內為名色、外為風,五者內為六入、外為空,六者內為災、外為種,七者內為痛、外為根,八者內為愛、外為莖,九者內為受、外為葉,十者內為有、外為節,十一者內為生、外為華,十二者內為老死、外為實。人生死從內十二因緣,萬物生死從外十二因緣。

何等為癡?謂不禮父母、不分別白黑,從是因緣得痛不欲棄,不信今世亦後世。已作是事便隨行,不作是亦不得,是以有癡便為行,已有行便為識,已有識便為名色,已有名色便為六入,已有六入便為栽,已有栽便為痛,已有痛便為愛,已有愛便為受,已有受便為有,已有有便為生,已有生便為老死。故人生取十二因緣,得十二因緣生,無因緣亦不生;萬物亦爾。不斷十二因緣,不脫生死。行三十七品經,為從是得道。

十二因緣有五事:一者癡;二者生死精行,是前世因緣;三者識,從識受身生;四者名色,色身復成五陰,是今世因緣;五者六衰,復作生死精行種栽,是後世因緣。前後三世轉相因緣故,為有五事。

十二因緣本從身十事,出身十事。七事成一。三事從四,七事成。一者殺、盜、婬、兩舌、惡口、妄言、綺語,共從色為一。三事從四者。嫉、瞋恚、癡,從痛癢、思想、生死、識。是十事合為五陰,便為十二因緣。地名癡,行為盛陰,便作生死行。自種栽名為行。已有行便有識受身生死,有識便有名色。身復作十事,成已五陰、已有名色便有六入,復作盛陰,行種栽後當復受轉相,因緣生死故名為因緣。身十事為十二因緣者,嫉為癡,瞋恚為生死,精疑為識,殺為名色,盜為六衰,婬為更,兩舌為痛,妄言為愛,惡口為成,綺語為願,生有無故為有十二因緣。何以故?婬為癡、瞋恚為生死、精疑為識,內三事為本。已有三事,便有七事,成五盛陰。嫉為五陰本故為疑。五陰行可意善、不可意瞋,便作生死精十事,外從身內意故。疑謂不分別白黑、不識生死故為識。道人慾斷十二因緣,當先斷身十事。便為癡,從癡五陰滅,十二因緣亦滅。斷身十事者,外從身、內從意,故言身意。持謂不殺。亦謂外從口、內從嫉斷者,謂萬物一切意不起便瞋恚止,瞋恚止便殺止,殺止便貪欲止,貪欲止便泣止。外口者謂聲。止聲者,兩舌、惡口、妄言、綺語亦止。無有疑,便入道。是為還五陰斷十二因緣本。

人受身有三別:第一、五陰盛陰;第二、十八種;第三、十二因緣行。是三事得身三別。第一、五陰盛陰者,五陰從身十事出。從眼為色陰,從耳為痛癢陰,從鼻為思想陰,從口為生死陰,從意為識陰。心主念對是六事為根本,是為五陰地。第二、十八,入十九根。十八種者,五陰行為盛陰,有對有入為十二入本。六情為十八,間有識故,為十九根。言十八種者,識不生故,為十八種。是說盛陰行生十八種、十九根。第三、十二因緣者,謂五陰。五盛陰行,求十二因緣便有身。是同身十事,俱分別之耳。從色得身,從四陰得名字,從名色得愛受,從受行癡,行癡便成十二因緣。道當為斷。色不為身,但名字為身。雖有眼耳鼻舌身意,亦復非身。何以故?設耳是人,當能聽一切。從形得名字,譬金字。譬如以金作物,因從是得字。地水火風空,是五事作身,亦復非身。何以故?身知細滑故,人已死,地不知細滑故。知地水火風空非身,身亦空意亦空,俱空無所有,亦無痛癢。何以故?人已死亦不復覺痛癢,如是為空。意已離身亦無痛癢,但因緣共合故,還歸無有。

身中有十二風:上氣風、下氣風、眼風、耳風、鼻風、背風、脇風、臍風、臂風、足風、曲風、刀風。刀風至病人,殺生刀風,刀風斷截人命。

生老病死,生者謂初墮母腹中時為生;已生便老。止者謂意中止。用止故敗氣息出入。見了身本合十事為敗。

身中五事:一者地,二者水,三者火,四者風,五者空。堅者為地,軟者為水,熱者為火,氣者為風,飯食得出入為空。亦餘因緣合為人,自計是我身。若欲萬物,當挍計有身。亦有五因緣共合:一者色、二者痛癢、三者思想、四者生死、五者識。是十事共合,便見生死。

事有善惡。行善有二輩:不犯身三、口四、意三,是為一善;二善者,布施、持戒、忍辱、精進、不疑。是為二善。惡亦有二輩:犯身三、口四、意三、飲酒,是為一惡;疑、嫉、慳、貪是為二惡。護身口意是為道,行人從福得生。從行得老病死,身便壞敗。人臥出時,意離身在地因緣。何以故不死?四事合持未散故。

人行十事就三事、人行三事就二事、人行二事就一事。何等十事?謂十惡,便得身口意三事。已有三事,便有名色二事。已有名色,便墮癡百劫,乃得為人難得完具。人生精作地識為種,五道識名異,合一識,入一識便失所本知。如人生天上,含人識受入天識,便忘人間事。人從無生、從有死。無何以故生?不識無故生。有何以故死?不識有故死。識無不復生,識有不復死。

意有所念以滅,便到所生處。意念不滅,亦不得行生上意。意頭起以滅,復更念,所念雖多,當還從上頭意受因緣。生人本從婦,婦夫不淨污露得身。長大便惡知識相隨,為五陰、六止、十二衰所欺,便有老病死憂苦。生死為癡,慧人當斷。六止,謂地、水、火、風、空、識。十二衰,謂色、聲、香、味、細滑、念欲。內有匿賊,是為十二衰。

人生有三因緣:一者合會;二者聚;三者心意識。痛癢、思想、生死、識,是為合會。諸愛欲是為聚。上頭為上頭為心、中央為意、後頭為識。人初墮母腹中,如雞子中黃。至三十七日,悉有頭面手足指具足,未生四日到向下。人在母腹中,苦不可言。人在母腹中,命日益、識日大。身稍老至半年時,身與識日減。得身為福亦為罪。何以故?以得人身是為福,以飢渴寒熱貪婬嫉妬為罪。

人生子有五因緣:一者有本願;二者同業;三者曉禮;四者來債;五者償債。何等為本願?謂先世時見人子端正,便願言:「我子如是。」同業者,謂同計挍得利相呼。曉禮者,謂當相敬愛。來債者,謂父母主治生,子橫用之。償債者,謂子治生付父母,是為償債。子以三因緣生:一者父母先世負子錢;二者子先世負父母錢;三者怨家來作子。父母勤苦求財已致便死,子得用之,是為父母先負子錢。子行求財產已致便死,父母用之,是為子負父母錢。有時子生百日千日便死,父母便憂愁惱,是為怨家相從生。

生子有三輩:一者福子;二者真子;三者不真子。何等為福子?謂父母持戒、布施、忍辱、精進行道,子亦爾,是為福子。真子者,父母不信道,子獨奉道教,是為真子。不真子者,父母隨道業、隨法行,子但飲酒作惡,人所不欲見,是為不真子。

子從父母生,有同意、有同行、有同念。俱長壽富貴端正,是為同行。貪欲瞋恚,是為同意。精進行道,是為同念。本行在父多類父,本行在母多類母,不同行不相類故。人生墮地未有所知,便喜向其母者,意識本因緣故耳。

人來生時有因緣,身能出入無間,至七日便復壞其身。亦有地水火風空,但微難見。人年老少識多忘者,識轉稍向後所生處。何以故不預知當所生處?用未到故。他人生他人來、他人至他人所、他人憂他人所,從來久遠習故。不學身有三痛,意亦有三痛。身痛者,謂得刀杖瓦石蹴蹋;二者病瘦;三者死。意痛者,一為憂父母兄弟妻子知識;二為憂財寶怨家。何以故為痛?謂五陰不調故痛。何以故為死陰?熟壞故為死。一切病皆意所作,身無所知,故不作是病。是身何以故為病?四因緣不等故。何以為憂?一切不如意故。何以不定?病疾過去故。何以為急?要欲壞。何以故為碎?身老毒故。何以為老死?壞故。何以為非常?不得自在故。何以為苦?急故。何以為空?無有主。言我作是如何?以為非身,不能離苦、不得受苦。是為十事。

人所欲凡有三事,人之所愛常欲得之:一者強健;二者安隱;三者長壽。如是復有三怨:一者年老,是強健怨;二者疾病,是安隱怨;三者身死,是長壽怨。亦有三救:一者歸命佛;二者歸命法;三者歸命比丘僧。

有四事可畏;一者生;二者老;三者病;四者死。人面赤有五因緣:一者近火:二者飲酒:三者恐怖:四者念怒:五者多慚愧。頭白有四因緣:一者火多;二者憂多;三者病多;四者種早白。人病瘦有四因緣:一者少食;二者有憂;三者多愁;四者有病身未和調。有四事不先語人:一者頭白;二者老;三者病;四者死。是四事不可避,亦不可離亦不可卻。

有四事不可忍:一者飢;二者渴;三者寒;四者熱。身復有四事:一者不足;二者不滿;三者不飽;四者不厭。身復有四痛:一者生時痛;二者老時痛;三者病時痛;四者死時痛。

一切味不過八種:一者苦;二者澁;三者辛;四者醎;五者淡;六者甜;七者酢;八者不了了味。苦增寒熱,澁多增風除寒,辛除水,酢除風,令人目冥。食有三因緣悉入骨髓血脈中:一者肥膩;二者毒;三者酒。是三者皆遍身中,無有不到。諸所食飲皆有肥膩,但有薄厚多少耳。人有四種:一者長者種;二者道術種;三者師巫種;四者田家種。生者有四種:一者腹生;二者謂寒熱和生;三者化生;四者卵生。腹生者,謂人及畜生。寒熱和生者,謂蟲蛾蚤虱。化生者,謂天及地獄。卵生者,謂飛鳥魚鼈。

人頭有四十五骨,從腰以上五十一骨,四支百四骨,合二百骨。人身有七十萬脈,九十九萬毛孔,得觀悉自見分別知之。

有阿羅漢,以天眼徹視,見女人墮地獄中者甚眾多。便問佛:「何以故?」佛言:「用四因緣故:一者貪珍寶物衣被,欲得多故;二者相嫉妬;三者多口舌;四者作姿態婬多。以是故墮地獄中多耳。」

阿含口解十二因緣經

Tags:

bộ a hàmkinh chữ hánNguyên Huệ
Author

admin

Follow Me
Other Articles
Previous

Phân Biệt Công Đức Luận [分別功德論]

Next

Thất Xứ Tam Quán Kinh [七處三觀經]

Bồ Tát Long Thọ bộ a hàm Bộ A hàm - Tam Tạng Thánh Điển Bộ Bát Nhã Bộ Bản Duyên Bộ Bản Duyên - Tam Tạng Thánh Điển Phật Giáo Việt Nam Bộ Du Già Luận Bộ Trung Quán Luận chưa dịch Huyền Thanh kinh chữ hán kinh tiếng hán Kinh trung bộ kinh trường bộ kinh trường bộ html Kinh Tạng Bắc Truyền Kinh Tạng Chữ Hán Linh Sơn Pháp Bảo Đại Tạng Kinh luận Nguyên Huệ Nguyên Thuận Nguyễn Minh Tiến pdf TAM TẠNG PHẬT GIÁO BỘ PHÁI tam tạng thánh điển phật giáo Việt Nam Tam Tạng Thượng Toạ Bộ THÍCH THIỆN SIÊU Thích Bảo Lạc Thích Chánh Lạc thích minh châu Thích Thanh Từ Thích Trí Tịnh Thích Tuệ Sỹ Thích Tâm Châu Thích Tâm Hạnh Thất dịch Trường A Hàm Tùy Kiết Tạng Tùy Đạt Ma Cấp Đa Tăng Nhất A Hàm Tạp A Hàm Tạp Tạng Vô Trước Bồ Tát Đoàn Trung Còn Đại Tạng Kinh Tiếng Việt

Copyright 2026 — Tàng Kinh Các. All rights reserved.