Skip to content
-
Nam Mô A Di Đà Phật
Tàng Kinh Các

Sưu Tầm và Chia Sẻ Kinh Sách

Tàng Kinh Các

Sưu Tầm và Chia Sẻ Kinh Sách

  • Home
  • Kinh
    • Kinh Tạng Nam Truyền
      • kinh trường bộ
      • kinh trường bộ html
      • Kinh Trung Bộ
      • Kinh Tương Ưng Bộ
      • Kinh Tăng Chi Bộ
      • KInh Tiểu Bộ
      • Tạng Vi Diệu Pháp
      • Luật Tạng ( Nam Truyền )
      • Kinh Tạng Nam Truyền
        • KINH TẠNG NAM TRUYỀN (PALI TẠNG / NIKAYA)
        • Sơ Đồ Kinh Điển Tam Tạng Pāli (Tipiṭaka)
    • Linh Sơn Pháp Bảo Đại Tạng Kinh – Tạng Kinh Bắc Truyền
    • Càn Long Đại Tạng Kinh
    • TAM TẠNG THÁNH ĐIỂN PHẬT GIÁO VIỆT NAM
    • Đại Tạng Kinh Bắc Truyền Hán Tạng Việt Tạng
      • Bộ A Hàm – Tạng Kinh Bắc Truyền
      • Bộ Bản Duyên – Tạng Kinh Bắc Truyền
      • Bộ Bát Nhã – Tạng Kinh Bắc Truyền
      • Bộ Pháp Hoa – Tạng Kinh Bắc Truyền
      • Bộ Hoa Nghiêm – Tạng Kinh Bắc Truyền
      • Bộ Bảo Tích – Tạng Kinh Bắc Truyền
      • Bộ Niết Bàn – Tạng Kinh Bắc Truyền
      • Bộ Đại Tập – Tạng Kinh Bắc Truyền
      • Bộ Kinh Tập – Kinh Tạng Bắc Truyền
      • Bộ Mật Giáo – Tạng Kinh Bắc Truyền
      • Bộ Luật – Tạng Kinh Bắc Truyền
      • Bộ Thích Kinh Luận – Tạng Kinh Bắc Truyền
      • Bộ Tỳ Đàm – Tạng Kinh Bắc Truyền
      • Bộ Trung Quán Luận – Tạng Kinh Bắc Truyền
      • Bộ Du Già – Tạng Kinh Bắc Truyền
      • Bộ Luận Tập – Tạng Kinh Bắc Truyền
      •  Bộ Kinh Sớ – Tịnh Độ Tông – Tạng Kinh Bắc Truyền
      •  Bộ Kinh Sớ – Thiền Tông – Tạng Kinh Bắc Truyền
      • Bộ Luật Sớ – Tạng Kinh Bắc Truyền
      • Bộ Chư Tông – Tạng Kinh Bắc Truyền
      • Bộ Sử Truyện – Tạng Kinh Bắc Truyền
      • Bộ Sự Vị – Tạng Kinh Bắc Truyền
      • Bộ Ngoại Giáo – Tạng Kinh Bắc Truyền
      • Bộ Cổ Dật – Tạng Kinh Bắc Truyền
      • Bộ Nghi Tự – Tạng Kinh Bắc Truyền
      • Bộ Mục Lục – Tạng Kinh Bắc Truyền
  • Luật
  • Luận
  • Ebook – Mp3
  • Privacy Policy
  • Home
  • Kinh
    • Kinh Tạng Nam Truyền
      • kinh trường bộ
      • kinh trường bộ html
      • Kinh Trung Bộ
      • Kinh Tương Ưng Bộ
      • Kinh Tăng Chi Bộ
      • KInh Tiểu Bộ
      • Tạng Vi Diệu Pháp
      • Luật Tạng ( Nam Truyền )
      • Kinh Tạng Nam Truyền
        • KINH TẠNG NAM TRUYỀN (PALI TẠNG / NIKAYA)
        • Sơ Đồ Kinh Điển Tam Tạng Pāli (Tipiṭaka)
    • Linh Sơn Pháp Bảo Đại Tạng Kinh – Tạng Kinh Bắc Truyền
    • Càn Long Đại Tạng Kinh
    • TAM TẠNG THÁNH ĐIỂN PHẬT GIÁO VIỆT NAM
    • Đại Tạng Kinh Bắc Truyền Hán Tạng Việt Tạng
      • Bộ A Hàm – Tạng Kinh Bắc Truyền
      • Bộ Bản Duyên – Tạng Kinh Bắc Truyền
      • Bộ Bát Nhã – Tạng Kinh Bắc Truyền
      • Bộ Pháp Hoa – Tạng Kinh Bắc Truyền
      • Bộ Hoa Nghiêm – Tạng Kinh Bắc Truyền
      • Bộ Bảo Tích – Tạng Kinh Bắc Truyền
      • Bộ Niết Bàn – Tạng Kinh Bắc Truyền
      • Bộ Đại Tập – Tạng Kinh Bắc Truyền
      • Bộ Kinh Tập – Kinh Tạng Bắc Truyền
      • Bộ Mật Giáo – Tạng Kinh Bắc Truyền
      • Bộ Luật – Tạng Kinh Bắc Truyền
      • Bộ Thích Kinh Luận – Tạng Kinh Bắc Truyền
      • Bộ Tỳ Đàm – Tạng Kinh Bắc Truyền
      • Bộ Trung Quán Luận – Tạng Kinh Bắc Truyền
      • Bộ Du Già – Tạng Kinh Bắc Truyền
      • Bộ Luận Tập – Tạng Kinh Bắc Truyền
      •  Bộ Kinh Sớ – Tịnh Độ Tông – Tạng Kinh Bắc Truyền
      •  Bộ Kinh Sớ – Thiền Tông – Tạng Kinh Bắc Truyền
      • Bộ Luật Sớ – Tạng Kinh Bắc Truyền
      • Bộ Chư Tông – Tạng Kinh Bắc Truyền
      • Bộ Sử Truyện – Tạng Kinh Bắc Truyền
      • Bộ Sự Vị – Tạng Kinh Bắc Truyền
      • Bộ Ngoại Giáo – Tạng Kinh Bắc Truyền
      • Bộ Cổ Dật – Tạng Kinh Bắc Truyền
      • Bộ Nghi Tự – Tạng Kinh Bắc Truyền
      • Bộ Mục Lục – Tạng Kinh Bắc Truyền
  • Luật
  • Luận
  • Ebook – Mp3
  • Privacy Policy
Close

Search

Home/Kinh Tạng Bắc Truyền/Bộ A Hàm/Tân Tuế Kinh [新歲經] – Bộ A Hàm
Tân Tuế Kinh [新歲經]
Bộ A Hàm

Tân Tuế Kinh [新歲經] – Bộ A Hàm

By admin
20 Min Read
Comments Off on Tân Tuế Kinh [新歲經] – Bộ A Hàm

Tân Tuế Kinh
[新歲經]

Nguyên bản Hán văn – Bản khắc Càn long – Vĩnh Lạc Đại Điển – CBETA

Bản chia sẻ của CBETa

Tân Tuế Kinh
[新歲經]

thuộc tập T01, kinh số 62, tổng cộng 1 quyển, – Đông Tấn Trúc Đàm Vô Lan dịch,

Tân Tuế Kinh [新歲經]Download
Nguyên Bản Chữ Hán

Tân Tuế Kinh
[新歲經]

( Bản khắc gỗ Càn long và Vĩnh Lạc Đại Điển )

Bản Khắc Càn Long

Tân Tuế Kinh [新歲經] (1)Download

Vĩnh Lạc Đại Điển

Tân Tuế Kinh [新歲經] (2)Download

Bản Dịch Tiếng Việt

Bộ A Hàm

Linh sơn pháp bảo đại tạng kinh

Tân Tuế Kinh
[新歲經]

thuộc tập T01, kinh số 62, tổng cộng 1 quyển, – Đông Tấn Trúc Đàm Vô Lan dịch,

Kinh Tân Tuế

Việt dịch: Thích Chánh Lạc

Nghe như vầy một thời đức Phật ở tại rừng cây ông Kỳ Ðà, vườn ông Cấp Cô độc, nước Xá vệ, cùng đông đủ tám vạn bốn ngàn vị đại chúng Tỳ kheo, tôn giả Xá lợi phất, tôn giả Mục kiền liên … trước sau đoanh vây nghe đức Phật thuyết kinh. Ðức Phật ở giữa đại hội giống như núi Tu di là vua các hòn núi, một mình cao lớn vòi vọi như trăng rằm sáng chói giữa sao trời, hào quang uy nghiêm to lớn như vàng tía sáng mặt đất, tất cả đều có sắc vàng, trác tuyệt, đặc thù, vòi vọi, không có gì có thể so sánh được. Bấy giờ đức Thế tôn cùng đông đủ chúng Tỳ kheo, vô lượng thanh tịnh, như bầu trời không có mây. Sau ba tháng kiết hạ an cư đã xong, đã đến ngày thọ tân tuế. Các chúng Tỳ kheo im lặng chờ đợi, một lòng tư duy về đạo, an định, không có tư tưởng gì khác.
Bấy giờ hiền giả A nan liền từ tòa đứng dậy, trịch áo vai bên mặt, gối phải sát đất, quỳ xuống chắp tay đến trước đảnh lễ dưới chân đức Phật, nói bài kệ tán thán :


Ðức Thế tôn đến đây.
Với mục đích tế độ.
Ba tháng ở chỗ này.
Kỳ thọ Cô độc viên.
Sở nguyện đã đầy đủ.
Nay chính đã đúng lúc.
Ðạo sư Vô đẳng luân.
Xin tuyên bố Tân tuế.


Khi ấy đức Thế tôn nghe tôn giả A nan nói bài kệ tụng tán thán đức Phật là bậc đạt đến chơn tịch, xong ngồi qua một bên, đức Phật bảo hiền giả Mục kiền liên :

“Ngươi hãy đi khắp tam thiên đại thiên thế giới, những nơi hang núi thâm u vắng vẻ, những thạch thất trên đỉnh núi cao, khắp bảo cho các chúng Tỳ kheo, các vị mới nhập đạo hay hàng cựu học, các vị chưa ngộ đạo, đều mời tụ hội tại rừng cây Kỳ Ðà này.

Vì sao vậy ? Vì đức Như lai đã đến lúc ngài muốn truyền thọ Tân tuế”.
Khi ấy tôn giả Ðại Mục kiền liên lên trên hư không, vâng theo thánh chỉ của đức Phật phát ra âm thanh to lớn, bảo khắp tam thiên đại thiên thế giới biết, trong âm vang to lớn ấy tự nhiên diễn ra bài kệ, nói rằng :
Các vị ở khắp nơi.
Rừng sâu giữa núi đá.
Giờ Tân tuế đã đến.
Tâm nguyện sẽ thành tựu.
Khi ấy các Tỳ kheo ở ngay tại chỗ hay du hành trong tam thiên đại thiên thế giới nghe bài kệ thông báo rồi, mọi người đều dùng thần túc hay tất cả phương tiện, biến hiện thân hình đi đến rừng cây Kỳ đà, vườn Cấp Cô Ðộc đến trước đức Phật xin thọ Tân tuế, rồi đồng đứng qua một bên. Ðức Phật nhóm họp các đệ tử. Họ đều từ các phương quốc độ khác nhau đi đến, đồng một lúc đều hội họp gồm có 80 vạn 4 ức vị muốn thọ tân tuế.

Bấy giờ đức Thế tôn bảo tôn giả A nan : “Ngươi hãy đến đánh lên tiếng kiền chùy vì nay đã đúng lúc rồi”.


Tôn giả A nan vâng lời, từ tòa đứng dậy liền đánh kiền chùy, tiếng vang khắp cõi Phật, một nước lớn của một đức Phật cho đến địa ngục, ngạ quỹ, súc sanh nghe tiếng kiền chùy đều nhờ oai thần của Phật nên tất cả bệnh khổ độc thảy đều tiêu trừ đều được an ổn.

Bấy giờ đức Thế tôn dùng tiếng phạm âm thanh tịnh bảo các Tỳ kheo :

“Các ngươi hãy đứng dậy rút thẻ kiểm tăng số (hành xá la trù), mọi người đều đối diện nhau để sám hối những điều sai lầm, tự trách mình, cùng nhau xin lỗi các điều sai lầm, các phi pháp đã vi phạm, mọi người đều phải nhẫn nhục, hòa đồng, thanh tịnh thân, miệng, tâm để cho không còn chút ô uế nào sót lại. Khi ấy các Tỳ kheo liền vâng theo lời Phật dạy, họ đều từ tòa đứng dậy, đến trước đức Thế tôn, mỗi người mỗi người đều cùng nhau tạ lỗi, sám hối những điều sai lầm xong, trở về ngồi lại chỗ cũ.


Khi đức Phật đã thấy chúng tăng đều trở về ngồi lại chỗ cũ xong, ngài dũ lòng thương xót, nhân đó từ tòa đứng dậy, tự chắp tay hướng về các Tỳ kheo nói rằng :

“Hỡi các chúng Tỳ kheo ! Hãy giữ tâm hòa thuận cùng hướng vào nhau để sám hối những lỗi lầm. Vì sao vậy ? Thân, khẩu, ý của ta thản hoặc có những lỗi lầm sai trái ; đức Như lai, bậc Vô thượng tôn, chí chơn không có sự sai lầm, các nghiệp khuyết lậu, tâm không phóng dật, không mất trí tuệ, không có tham luyến, không phá giới cấm, đối với trong hàng các Thanh văn và Duyên giác, tôn đức vượt hơn chư thiên, nhân dân của thế gian hết sức lâu dài trong ba cõi nhưng không ai sánh bằng.


Lại nữa này các Tỳ kheo, nếu các giòng họ xuất gia học đạo, tu theo pháp của Sa môn, tâm tánh mỗi người khác nhau, chí nguyện không đồng, đối với sự nghiệp thành Phật ở đây phải nên thi hành, phải vâng theo sự dạy dỗ không được vi phạm.

Vì sao vậy ? Nếu có Tỳ kheo ở nơi Thánh chúng kiến lập tân tuế, thân hạnh mỗi người mỗi khác, tâm niệm không đồng mà ôm lòng nịnh hót cho rằng Tỳ kheo kia không thọ nhận sự chơn chánh, không nên thọ cụ giới.

Vì sao vậy ? Vì thân, khẩu, ý thanh tịnh mới là thiện chơn chánh, thọ đầy đủ giới của Phật, ôm lòng cung kính, thuận theo bậc thượng, bậc trung, bậc hạ, không có ngạo mạn, phóng túng, hỗ thẹn, khiêm cung mới phù hợp với giới pháp.

Vì sao vậy ? Hành giả như vậy không có sự oán thù, ghen ghét, không có kết hận, quán xem pháp cổ kim không có rối loạn. Kiến lập Tân tuế cũng không có tâm sân hận, tự đại. Vì sao vậy ? Vì giữ giới cấm thanh tịnh. Nếu tạo lập Tân tuế, kiến lập giới tối đại mà không thanh tịnh thì không phải là đệ tử của đức Phật.


Giống như người chết, thi hài để nơi đất, vứt bỏ trong gò mã, dù cho thiên thượng nhơn gian chư thiên, nhân dân đều đem thuốc hay, thần chú, thuật giỏi, thương nhớ muốn làm cho kẻ ấy sống lại cũng không thể cứu sống được. Cũng vậy Tỳ kheo hủy phạm giới cấm, chánh thức được nhập chúng, dù có nhiều tân tuế cũng không thể tự cứu được để kiến lập tân tuế.

Vì sao vậy ? Vì người ấy đã phá hủy giới thì lẽ tự nhiên phải bị quả báo địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh khổ sở độc hại, cay đắng vô lượng. Vậy các người cần phải cẩn thận.


Ðức Phật thuyết pháp xong từ tòa đứng dậy, bước ra khỏi nệm cỏ. Ngay lúc đó tam thiên đại thiên thế giới có sáu thứ chấn động. Ðàn không hầu, kỷ nhạc không gãy mà tự nhiên phát ra âm thanh, ở giữa hư không mưa các loại danh hương, rải đủ thứ hoa.

Khi đức Phật nói giới pháp phẩm này để bảo chúng Tỳ kheo, bấy giờ các Tỳ kheo đều ở ngay nơi chỗ ngồi của mình nhờ lời dạy chơn chánh oai thần của Phật thánh công huân sáng rạng, phổ chiếu cùng khắp, mỗi người đều tự đứng lên, trong tâm không còn ưa thích dục nữa, thường ngồi ở trên đỉnh núi, dưới gốc cây, lấy đó làm vui.

Tất cả đều từ tòa ngồi đứng dậy đảnh lễ dưới chân đức Phật, tự miệng họ nói lên rằng :

“Tất cả các pháp đều từ Phật mà ra, Thánh là gốc của đạo, che chở tất cả bằng con mắt từ mẫn. Ngài là bậc tối tôn đặc thù, thánh đức vô thượng, siêu tuyệt không ai bằng, nguy nga vòi vọi, tuyên bố hóa đạo”.


Bấy giờ đức Như lai ở ngay chỗ tôn quý sám tạ Thánh chúng, xót thương chúng sanh rồi trở về nệm cỏ. Ðức Phật vừa ngồi lại xong, Thánh chúng cũng vậy, ai về chỗ nấy, lại ngồi xuống đúng như pháp. Bấy giờ đức Thế tôn thấy đã đến giờ thọ tuế, xót thương các hội chúng, ngài ở trước các Tỳ kheo, ba lần tác bạch đã xong, công việc hoàn tất, năm Tỳ kheo từ tòa ngồi đứng dậy kiến lập tân tuế. Vừa lập tân tuế, một vạn Tỳ kheo được thành Ðạo tích, tám ngàn Tỳ kheo được quả A la hớn.

Chư thiên trên hư không, tám vạn bốn ngàn vị đều được khai hóa, đều được pháp đạo ý, vô thượng chánh chơn, giảng thuyết kinh pháp không sao kể xiết, các loại chúng sanh kiến lập ba thừa. Nay Phật thương xót hạ cố tấm lòng, ngồi trong đại chúng, độ thoát ách nguy, mười phương đều mong nhờ cứu vớt.


Khi ấy Long vương A Ðầu Hòa Nan, tất cả đều rời chỗ ở của mình, cầm nước hoa Chiên đàn, tạp hương đi đến chỗ đức Phật, đến chỗ thọ Tân tuế, quy y đức Phật cùng với Thánh chúng, cúi đầu lạy dưới chân, dùng tạp hương chiên đàn cúng dường đức Phật và Tỳ kheo tăng, rồi dùng bài kệ này để tán tụng rằng :


Dù ở trên đỉnh núi. Ngồi dưới bóng cây râm.
Du hành trên biển cả. Ôm lòng tham, sân hận.
Ðến rồi lập Tân tuế. Hằng ức chúng sanh họp.
Cúng dường phụng thờ Phật. Ðược thành cửa cam lồ.


Bấy giờ Hải Long Vương đem viên ngọc Xích chơn châu hóa làm giao lộ, gác tràng thượng diệu, dài rộng 400 dặm do vàng, tía, lưu ly hiệp lại tạo thành, dùng tay nắm giữ, đi trên không trung. Ra khỏi Long cung, từ gác giao lộ lấy nước ao có tám mùi vị, dùng dòng nước sạch rưới lên mặt đất để cúng dường đức Như lai và chúng Tỳ kheo, dùng gác giao lộ dâng lên đại thánh và Tỳ kheo tăng, lấy ngọc anh lạc rải lên Phật và thánh chúng liền nói bài kệ :


Thanh tịnh như hư không. Ðồng nhất tự nhiên vô.
Cấm giới rất thanh tịnh. Hơn ngọc diệu minh châu.
Hằng hà sa số chúng. Ngồi ở nơi đại hội.
Ðều cúng dường an trụ. Và các chúng Thanh văn.


Bấy giờ mười phương các vị Bồ tát, Thiên long, Thần vương đều từ mười phương đi đến để hội họp, hóa ra nhiều vật cúng dường kỳ lạ để cúng dường đức Thế tôn và chúng Tỳ kheo, đảnh lễ quy y, thưa hỏi và thọ trì kinh điển. Ai nấy đều như vậy, hoàn toàn không có gì khác, đều đến đảnh lễ, đều phát đạo ý vô thượng chánh chơn.

Khi ấy thiên nhơn mỗi mỗi đều phát tâm cúng dường đức Thế tôn và các Thánh chúng, dùng bài kệ để tán thán :


Trong tâm đã thanh tịnh.
Ðệ nhất không nghĩ bàn.
Thánh chúng tối tôn trưởng.
Ngồi ở trong hội này.
Vứt bỏ tất cả tưởng.
Khéo trừ các cấu uế.
Ngày nay phụng cúng dường.
Với hết lòng cung kính.
Khai hóa cứu các nạn.
Tất cả các trần lao.
Cấm giới đã thanh tịnh.
Như ngọc bảo minh nguyệt.
Tâm thường tư duy chánh.
Ðoạn các kết sân nhuế.
Hôm nay bậc Ly cấu.
Hiệp hội lập Tân tuế.
Dạy dỗ tâm khó dạy.
Tuân hành như Thái sơn.
Thường hành pháp vô ngại.
Phật an lập Tân tuế


Khi ấy Thiên nhân nói kệ này xong, đảnh lễ dưới chân đức Phật, bỗng nhiên biến mất, đều trở về cung điện của mình, thảy đều vui mừng, tự vui với pháp. Bấy giờ đức Thế tôn hiện ra bóng mát lớn, các báu giao lộ để che thánh chúng, bèn nói bài kệ này :


Giới hạnh thật thanh tịnh.
Việc làm khó theo kịp.
Hôm nay thí điều vui.
Che khắp lập Tân tuế.
Dâng lên An trụ tử.
Hộ giới thật thanh tịnh.
Như chim thích lông mình.
Oai Phật hộ Tân tuế.


Ðức Phật bảo các Tỳ kheo :

“Nay Phật Thế tôn tuy Tân tuế một năm một hội tu hành pháp tắc thanh tịnh hộ đạo, giữ gìn thân khẩu ý ba sự không ô uế, phụng hành thập thiện, tứ đẳng, lục độ, trừ bỏ sáu tình, ba độc, năm cái, mười hai sợi dây lôi kéo, thanh tịnh như mặt trời chiếu soi thiên hạ, ánh sáng chiếu diệu, bóng tối tiêu trừ, nhập vào ánh sáng đạo vô thượng chơn chánh, tất cả hòa đồng, khổ vui không có hai mới đúng với đạo pháp”.

Lúc đó đức Phật bèn nói bài tụng :


Chư Phật ra đời vui.
Nói kinh pháp cũng vui.
Thánh chúng hòa đồng vui.
Thường hòa được an lạc.


Ðức Phật nói như vậy, các chúng Tỳ kheo chư thiên, rồng, quỷ thần, A tu luân, nhơn dân của thế gian nghe đức Phật dạy không ai không hoan hỷ, đảnh lễ rồi lui ra.


Thế tôn du hành ở Xá vệ.
Vì các đệ tử nói như vậy.
Tất cả đều ở hội Kỳ thọ.
Nay Bát hòa lan theo thường lệ.
Xá lợi phất chắp tay bạch Phật
Mong Thế tôn nói Bát hòa lan.
Khi ba cõi tôn xưng nói ra.
Làm pháp gì Tỳ kheo tự tịnh ?
Xá lợi phất vì ta trải cỏ.
Dưới gốc cây ra sức trừ ma.
Nếu ai trải cỏ cũng như vậy.
Ðời nay kẻ ấy phải thanh tịnh.
Như bậc hiền giả ngồi.
Ðó là vô sở úy.
Ngồi an lạc không dục.
An ổn trong ba cõi.
Kiết hạ nay đã xong.
Ðó là đệ tử Phật.
Hãy tự mình phân biệt.
Thương xót khắp thế gian.
Là tháng lớn trong năm.
Là giác đệ nhất trí.
Hãy tự bỏ thân hành.
Kiến đoạn bao nhiêu khổ.
Ngài nói các tội não.
Biết rõ vô số khổ.
Ðó là đắc Ðạo tích.
Nay vì Bát hòa lan.
Mỏng tham dục sân nhuế.
Cũng hay trừ gốc ái.
Có thể đoạn sanh tử.
Cũng hết căn não tưởng.
Tự đến được thiên thượng.
Cũng lại sanh nhơn gian.
Ðó là được hai đạo.
Nay vì Bát hòa lan.
Ðã được sanh lên trời.
Thì không còn đọa lạc.
Khi đã sanh lên trời.
Ðã diệt hết các ái.
Pháp đệ nhất thế gian.
Tôn giả đã đạt được.
Ðó là được hai đạo.
Nay nhờ Bát hòa lan.
Tất cả các ác não.
Ðã hết, được giải thoát.
Ðã được bốn cam lồ.
Ðó là vô sở úy.
Ðã diệt hết bóng tối.
Hướng về tất cả khổ.
Ðó là tám tối đạo.
Nay là Bát hòa lan.


Ðã xong một tháng liền được một trí, đã đến tháng thứ hai liền được hai trí, một lúc ba tháng liền được ba trí, vui thích ba trí, nay là Bát hòa lan. Vị ấy đã trị lành bốn ghẻ lỡ, không còn lưu dư, đã vượt qua bờ bên kia, đã được an ổn. Ðã qua bốn tháng rồi, bậc chẳng còn gì nữa, đã thành công đức nay là Bát hòa lan, có thể hàng phục Long đầu, Nan đầu, Hòa la, chấn động núi Tu di và nước biển, cho đến cõi trời cũng đều bị chấn động. Bọn của ông Mục kiền liên nay là Bát hòa lan.


Tối hiền giả tự giác.
Nên các xứ đã hết.
Là phước giúp thế gian.
Phật tự nói lời này.
Thường độc hành dưới cây.
Vì thí dụ số đông.
Phật Bích chi tối thượng.
Nay là Bát hòa lan.
Ba chỗ không đắm trước.
Chúng vì ý thanh tịnh.
Ba thân đã ổn định.
Vốn đã lìa kiêu mạn.
Tại ba cõi vô dục.
Ðược tịnh ý bất động.
An ổn như Tu di.
Nay là Bát hòa lan.
Ðã hành bốn đều chánh.
Bốn đạo đã được định.
Phật bảo là hiền giả.
Tăng phước đức mọi người.
Chỗ cúng thí tối an.
Trọn không thể bại hoại.
Phật được các trí huệ.
Nay là Bát hòa lan.
Trì giới đã đầy đủ.
Bất động trước các lực.
Pháp thực y bị phục.
Thường ưa ở trong núi.
Ðó là hạnh kiên cố.
Ðầy đủ không sứt mẻ.
Chỗ hành giả thanh tịnh.
Nay là Bát hòa lan.
Trì giới trừ các ác.
Chúng chắp tay thọ pháp.
Ðược tất cả hướng về.
Các ma đều hàng phục.
Chư thiên cùng thiện nhân.
Khen ngợi giới cụ túc.
Không còn thấy các ma.
Nay là Bát hòa lan.


PHẬT NÓI KINH TÂN TUẾ

Kinh Tân Tuế

Việt dịch: Thích Tâm Châu

Chính tôi được nghe: Một thời kia đức Phật ở trong vườn, cây của ông Kỳ-Đà và ông Cấp-Cô-Độc, nước Xá-Vệ, cùng với chúng Đại-Tỳ-Khưu tám vạn bốn nghìn người, như ngài Xá-Lỵ-Phất, Ngài Mục-Kiền-Liên v.v…
Các vị vây quanh trước, sau Phật, nghe Phật thuyết kinh. Mà đức Phật ở trong đại-hội cũng như núi Tu-Di, là núi đứng đầu các núi, một mình cao vót và hiển- lộ; như mặt trăng tròn sáng, soi khắp mọi ngôi sao, nhưng, chỉ có ánh uy-quang của mặt trăng là hơn cả và cũng như tia sáng vàng tía ở nơi đạo-tràng, soi khắp đều thành sắc vàng; hơn hết, sắc ấy lạ-lùng đặc biệt, rực-rỡ chói-lọi không có gì sánh bằng.
Thời gian ấy, đức Thế-Tôn cùng chúng Tỳ-Khưu, thanh-tịnh vô-lượng; như mặt trời, như áng mây, trọn đủ ba tháng cho đến ngày của năm mới, các vị Tỳ- Khưu im lặng, nhẹ nhàng, nhất tâm tự tư-niệm đạo, an định, không tưởng gì khác. Khi ấy, Hiền-Giả A-Nan, liền từ tòa mình ngồi đứng dậy, chễ áo cánh tay hữu, gối hữu để xuống đất, quỳ dài, chắp tay và trước tiên tự quay về nơi Phật-túc, làm bài kệ tán-thán rằng:
Phật-Tôn sở dĩ lại,
Qua đây để tế-hộ;
Ba tháng ở nơi này,
Vườn Cô-Độc, Kỳ-thụ.
Sở-nguyện hầu đầy-đủ,
Nay, thực chính là thời;
Đạo-sư Vô-thượng-tôn,
Sẽ tuyên-bố “năm mới.”
Bấy giờ đức Thế-Tôn nghe ngài A-Nan nói bài kệ tán-tụng rồi, đấng Chí-Chân ngồi im lặng một mặt, bảo Hiền-Giả Đại-Mục-Kiền-Liên: Ông nên đến những hang núi u-nhàn, nhà đá non cao trong ba nghìn đại thiên thế-giới, lên tiếng bảo tất cả các vị Tỳ-Khưu mới tiến, cựu học cùng những vị chưa giác-ngộ…, đều khiến các vị ấy lại hội-họp ở nơi Kỳ-thụ này. Tại sao? – Như-Lai đến lúc muốn tuyên-lập về năm mới. Lúc đó, Ngài Đại-Mục-Kiền-Liên, rướn mình lên hư- không, theo Thánh-chỉ của Phật, phát ra tiếng to lớn, bảo các vị Tỳ-Khưu trong ba nghìn đại-thiên thế-giới. Trong tiếng vang lớn ấy, tự nhiên diễn ra bài kệ tụng rằng:
Các Nhân-giả khắp nơi,
Rừng rú cùng núi đá;
Năm mới, thời đã đến,
Tâm sở-nguyện sẽ thành.
Bấy giờ, các vị Tỳ-Khưu đương ở nơi du-hóa trong ba nghìn đại-thiên thế-giới, nghe thấy bài kệ thông cáo ấy, ai nấy đều dùng phép Thần-túc trong mọi phương-tiện, biến-hiện thân mình, đến vườn Kỳ-thụ và đi đến chốn Phật, chịu sự tuyên-lập về năm mới của Phật. Tính ra, các đệ-tử hợp-tập bên Phật, đều từ phương thổ xa lạ lại, cùng nhau nhất thời đều họp cả lại gồm có tám mươi vạn bốn nghìn ức cai (2) người, muốn chịu tuổi năm mới.
Khi ấy đức Thế-Tôn bảo Hiền-Giả A-Nan: Ông đi đánh kiền-trùy, nay thời đã đến. Ngài A-Nan lĩnh thụ lời Phật dạy, liền từ tòa mình ngồi đứng dậy, đến chỗ đánh kiền-trùy. Đánh lên, tiếng kiền-trùy vang khắp cõi Phật; trong nước lớn của mỗi đức Phật, nơi địa-ngục, ngã-quỷ, súc-sinh, nghe thấy tiếng kiền-trùy, nhờ uy- thần Phật, hết thảy mọi bệnh khổ-độc đều khỏi và đều được yên-ổn.
Bấy giờ, đức Phật dùng Tịnh-Phạm-âm, bảo các vị Tỳ-Khưu rằng: “Các vị nên đứng dậy, lấy thẻ điểm số xem được bao nhiêu (hành Xá-La trù). Các vị nên đối với nhau hối quá tự trách. Các vị nên cùng nhau tạ mọi lỗi phạm phi-pháp và đều nên nhẫn-nhục hòa đồng với nhau, cho sạch ba nghiệp: thân, khẩu, tâm, không còn nhơ-nhớp gì nữa!”
Lúc đó, các vị Tỳ-Khưu lĩnh thụ lời Phật dạy, liền đều cùng nhau từ tòa ngồi của mình đứng dậy, trước đức Thế-Tôn, đều cùng tạ nhau và sám-hối những điều lỗi-lầm. Xong rồi, lại trở về ngôi nơi bản-vị.
Đức Phật thấy chúng đều về bản-vị cả rồi, đức Phật rủ lòng thương-xót, nhân từ tòa ngồi của Ngài đứng dậy, tự mình chắp tay, hướng vào các vị Tỳ-Khưu mà nói rằng: “Các vị Tỳ-Khưu! Các vị nên hòa tâm hướng vào nhau, hướng vào các vị mà hối lỗi. Tại sao ? – Vì, nghiệp thân, nghiệp khẩu, nghiệp ý của ta thảng hoặc có lúc ngang-trái, lầm lẫn với nhau chăng? Như-Lai Vô-thượng-tôn Chí-chân, không còn có nghiệp lầm-lẫn, thiếu-sót, tâm không phóng-dật, không mất trí tuệ, không tham-mộ gì và không hủy giới cấm. Với, trong những vị Thanh-Văn, Duyên-Giác, là bực Tôn-đức rất lớn trong ba cõi, vượt trên chư Thiên, thế-gian, nhân-dân, không ai có thể sánh bằng được. Lại, các vị Tỳ-Khưu, như trong dòng họ xuất-gia, học đạo, tu pháp Sa-môn, tâm tính đều khác, chí-khí, tiết-tháo bất đồng, trong Phật nghiệp này, cần nên thi-hành và nên vâng lời dạy răn không được trái phạm. Tại sao? – Nếu có vị Tỳ Khưu nào ở trong Thánh-chúng, kiến-lập năm mới mà thân hạnh đều khác, tâm-niệm chẳng đồng, mang lòng nịnh hót, thời kể vị Tỳ-Khưu kia, không chịu đường chân-chính, không phải là Cụ-giới. Tại sao?- Vì, thân, khẩu, ý sạch, là thiện-chân-chính. Thụ-giới Cụ Túc của Phật, tâm hằng kính nhường, thuận thượng trung, hạ, không làm sự khinh-mạn, dông-dỡ; biết thẹn-hổ nhún lòng, mới hợp pháp-giới. Tại sao? – Vì người làm như thế, không có oán-ghét, không vì kết-hận, xét pháp xưa, nay, không có rối-loạn; kiến-lập năm mới cũng không có tâm giận tức, tự-đại. Tại sao? – Vì giới-cấm thanh-tịnh, tạo-lập ra năm mới, kiến-lập tối-đại-giới; không thanh-tịnh chẳng phải là đệ-tử Phật. Cũng như thây hình người chết để dưới đất, bỏ nơi mồ mả, chư Thiên, nhân-dân trong thiên thượng thế-gian, đều mang những thuốc tốt, hoặc Thần-chú, hảo-thuật lại, thương-xót chữa cho họ, cũng không thể làm cho họ sống lại được. Như thế, Tỳ-Khưu hủy-phạm giới-cấm, chính khiến họ vào trong chúng, được bao năm mới rồi, cũng không thể tự cứu, để kiến-thành năm mới được. Tại sao?- Vì người ấy hủy giới, hội quy tự nhiên, nhân ấy quay về chịu báo khổ-độc, chua xót, vất-vả vô lượng trong địa-ngục, ngã-quỷ, súc-sinh. Các vị nên siêng-năng, cẩn-thận!”
Đức Phật nói pháp ấy rồi, liền từ tòa đứng dậy, ra ngoài nệm cỏ. Tức thì ba nghìn đại thiên thế-giới, sáu phen chấn-động, đàn không-hầu, đồ kỹ nhạc, không đánh tự-nhiên kêu; chư Thiên trên không, tung những thứ danh-hương, rải các thứ hoa sặc-sỡ xuống.
Khi đức Phật nói phẩm giới-pháp ấy, bảo các vị Tỳ-Khưu, thời các vị Tỳ-Khưu, đều ngồi nơi bản-vị, nhờ uy-thần Thánh-chỉ về sự giáo-hối của Phật, công-huân sáng-suốt, soi sáng khắp cả, đều tự lập lên, tâm không vui-thích ở nơi thường ngồi như ghềnh núi, gốc cây, chỉ là tham-dục; mà đều từ tòa mình ngồi đứng dậy, cúi đầu lễ dưới chân Phật, miệng tự bạch rằng: “Hết thảy mọi pháp, đều từ nơi Phật mà lĩnh thụ; phép chính, gốc đạo, vì giúp hết thảy; con mắt từ-mẫn, tôn quý lạ-lùng; Thánh-đức vô thượng, siêu tuyệt chi bằng, nguy-nguy, đường- đường, tuyên-bố đạo-hóa.” Bấy giờ Như-Lai, dời nơi Tôn-vị, sám-tạ Thánh- chúng, thương-xót thiên-hạ, lại về nệm cỏ Phật ngồi lại rồi, Thánh-chúng cũng thế, đều về ngôi cũ, như pháp ngồi lại.
Lúc đó, đức Thế-Tôn thấy thời của năm mới đã đến, mẫn-niệm đến mọi người trong hội, Ngài ở trước các vị Tỳ-Khưu, ba lần tuyên-bạch về năm mới xong. Sau khi kiến lập năm mới rồi, năm vị Tỳ-Khưu từ tòa mình ngồi đứng dậy, để kiến-lập năm mới. Vừa kiến-lập năm mới, một vạn vị Tỳ-Khưu, được thành đạo-tích, tám nghìn vị Tỳ-Khưu được quả A-La-Hán; tám vạn bốn nghìn chư Thiên nơi hư-không, đều thấy sự khai-hóa, đều phát đạo-ý vô thượng chính-chân, giảng-thuyết kinh-pháp, không kể số được, những loài chúng-sinh kiến lập Tam-thừa, nay đức Phật từ-bi thương-xót, tạm khuất ngôi Chí-tôn, ngồi ở trong chúng, độ thoát nguy-ách, mười phương nhờ ơn tế-độ.
Cùng khi ấy, Nan-Đầu-Hòa-Nan Long-Vương… đều xả nơi mình ở, mang theo trạch-hương, chiên-đàn tạp-hương… đến chốn đức Phật và đến nơi đạo-tràng kiến-lập năm mới, đỉnh lễ đức Phật, cùng chư Thánh-chúng. Long-Vương cúi đầu sát dưới chân, đem chiên-đàn tạp-hương, cúng-dường Phật cùng các Tỳ-Khưu Tăng và làm bài kệ thán tụng rằng:
Vị ngồi trên ghềnh núi,
Hoặc ngồi dưới bóng cây;
Hoặc qua trên biển cả,
Mang lòng ít sân-hận.
Lại, kiến lập năm mới,
Ức tải chúng-sinh họp
Đều cúng-dường lên Phật,
Được thành Cam-Lộ môn.
Và, cũng lúc ấy, Hải-Long-Vương mang ngọc Xích-trân châu, hóa làm lá chàng Giao-lộ-các rất đẹp, dài, rộng bốn trăm dậm, lấy ngọc Lưu-ly xanh tía, dát lại với nhau mà thành. Tay ông mang giữ, đi trong hư không. Từ Giao-Lộ-Các ra khỏi Long-cung, nước ao Bát-vị (tám mùi), tuôn chảy rưới đất, để cúng-dường Như-Lai cùng chúng Tỳ-Khưu. Đem lá chàng Giao-Lộ-Các cống hiến lên bậc Đại- Thánh cùng các vị Tỳ Khưu Tăng. Đem ngọc Anh-lạc rải cúng trên Phật cùng chư Thánh chúng. Cúng rồi liền nói bài kệ rằng:
Thanh tịnh như hư-không,
Như nhất, tự nhiên không;
Giới cấm rất thanh-tịnh,
Quý hơn Diệu-minh-châu.
Không biết bao nhiêu chúng,
Ngồi trong đại-hội này;
Đều cúng-dường an-trụ,
Cùng mọi Thanh-Văn chúng.
Bấy giờ, chư Bồ-Tát, Thiên, Long, Thần-vương ở mười phương, đều từ mười phương lại hội-họp, hóa làm không biết bao nhiêu những đồ cúng lạ-lùng, cúng- dường đức Thế-Tôn cùng chúng Tỳ-Khưu; cúi đầu quy-mệnh, lĩnh-thụ lời dạy trong kinh-điển. Tất cả đều như thế, bình-đẳng không khác, đều lại cúi đầu quy- mệnh, và đều phát ra đạo-ý Vô-thượng chính-chân. Khi ấy, Thiên, Nhân thảy đều phát tâm, cúng-dường Thế-Tôn cùng chư Thánh-Chúng, đọc bài kệ tán-thán rằng:
Tâm Ngài đã thanh-tịnh,
Đệ nhất không nghĩ, bàn;
Thánh-chúng tối tôn-trưởng,
Ngồi ngay trong hội này.
Bỏ lìa hết thảy tưởng,
Khéo trừ mọi cấu-uế;
Ngày nay dâng cúng-dường,
Nơi kính không thể bàn,
Khai-hóa, mọi nạn thường,
Hết thảy mọi trần-lao;
Giới cấm ấy thanh-tịnh,
Như ngọc báu Minh-nguyệt.
Tâm thường suy-nghĩ chính,
Dứt mọi buộc sân-hận;
Ngày nay Ly-cấu-tôn,
Hội-họp lập năm mới.
Răn tâm khó điều-hóa,
Tuân hành như Thái-sơn;
Tiêu ngại pháp thường làm,
Phật an-lập năm mới.
Sau khi chư Thiên-nhân nói bài kệ ấy rồi, cúi đầu lễ dưới chân Phật, bỗng nhiên không thấy hiện nữa, mọi người đều về cung mình ở và đều sung sướng lấy Phật pháp làm vui. Bấy giờ đức Thế-Tôn hiển-lộ làm không-khí mát-dịu lạ-lùng, cùng mọi báu xen bày, che rợp Thánh-chúng và Ngài liền nói bài kệ này:
Giới ấy rất thanh-tịnh,
Chỗ làm rất khó kịp;
Ngày nay vui mừng cúng.
Che khắp lập năm mới.
Dâng lên người an-trụ,
Hộ giới rất thanh-tịnh;
Như chim Hát mến lông,
Uy Phật giúp năm mới.
Đức Phật bảo các vị Tỳ-Khưu: “Nay, Phật, Thế-Tôn, tuy năm mới này một năm có một lần hội, song, các vị cần tu-hành theo đúng pháp-tắc, thanh-tịnh giúp đạo, nghiêm trì ba việc: thân, khẩu, ý không nhơ nhớp, vâng làm mười điều thiện (không sát sinh, không trộm-cắp, không tà dâm, không nói dối, không nói thêu dệt, không nói hai lưỡi, không ác khẩu, không tham, không sân, không si), bốn tâm bình-đẳng (từ, bi, hỷ, xả), sáu phép độ (bố-thí, trì-giới, nhẫn-nhục, tinh-tiến, thiền- định, trí-tuệ) và bỏ sạch sáu tình (tức 6 căn: mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý sinh ra tình-thức), ba độc (tham, sân, si), năm thứ ngăn che (sắc, thụ, tưởng, hành, thức) mười hai mối khiên-liên (tức 12 nhân-duyên: vô minh, hành, thức, danh sắc, lục nhập, xúc, thụ, ái, thủ, hữu, sinh, lão tử.), làm sao trong sạch như mặt trời soi khắp thiên-hạ, ánh sáng chiếu-diệu, mọi tối tiêu tan, vào nẻo đạo-minh Vô-thượng chính-chân, hết thảy hòa-đồng, khổ, vui không hai, mới hợp đạo-pháp.” Liền đó, đức Phật nói bài tụng rằng:
Chư Phật ra đời, vui,
Nói kinh-pháp cũng vui;
Thánh-chúng hòa đồng, vui,
Hòa, thường được an vui.
Đức Phật nói như thế, các chúng Tỳ-Khưu, chư Thiên, Long, Quỷ-thần, A-Tu- Luân, thế-gian nhân-dân, nghe đức Phật nói không ai là không hoan-hỷ, làm lễ mà lui.


Chú thích:
(1) Kinh này là cuốn kinh số 62 trong Đại-Tạng-kinh. Tân tuế là “năm mới”.
(2) 10 triệu là một kinh, 10 kinh là một cai.

Tags:

bộ a hàmkinh chữ hánKinh Tạng Bắc TruyềnThích Chánh LạcThích Tâm Châu
Author

admin

Follow Me
Other Articles
Thọ Tân Tuế Kinh [受新歲經]
Previous

Thọ Tân Tuế Kinh [受新歲經]

Giải Hạ Kinh
Next

Giải Hạ Kinh – Bộ A Hàm

Bồ Tát Long Thọ bộ a hàm Bộ A hàm - Tam Tạng Thánh Điển Bộ Bát Nhã Bộ Bản Duyên Bộ Bản Duyên - Tam Tạng Thánh Điển Phật Giáo Việt Nam Bộ Du Già Luận Bộ Trung Quán Luận chưa dịch Huyền Thanh kinh chữ hán kinh tiếng hán Kinh trung bộ kinh trường bộ kinh trường bộ html Kinh Tạng Bắc Truyền Kinh Tạng Chữ Hán Linh Sơn Pháp Bảo Đại Tạng Kinh luận Nguyên Huệ Nguyên Thuận Nguyễn Minh Tiến pdf TAM TẠNG PHẬT GIÁO BỘ PHÁI tam tạng thánh điển phật giáo Việt Nam Tam Tạng Thượng Toạ Bộ THÍCH THIỆN SIÊU Thích Bảo Lạc Thích Chánh Lạc thích minh châu Thích Thanh Từ Thích Trí Tịnh Thích Tuệ Sỹ Thích Tâm Châu Thích Tâm Hạnh Thất dịch Trường A Hàm Tùy Kiết Tạng Tùy Đạt Ma Cấp Đa Tăng Nhất A Hàm Tạp A Hàm Tạp Tạng Vô Trước Bồ Tát Đoàn Trung Còn Đại Tạng Kinh Tiếng Việt

Copyright 2026 — Tàng Kinh Các. All rights reserved.