Skip to content
-
Nam Mô A Di Đà Phật
Tàng Kinh Các

Sưu Tầm và Chia Sẻ Kinh Sách

Tàng Kinh Các

Sưu Tầm và Chia Sẻ Kinh Sách

  • Home
  • Kinh
    • Kinh Tạng Nam Truyền
      • kinh trường bộ
      • kinh trường bộ html
      • Kinh Trung Bộ
      • Kinh Tương Ưng Bộ
      • Kinh Tăng Chi Bộ
      • KInh Tiểu Bộ
      • Tạng Vi Diệu Pháp
      • Luật Tạng ( Nam Truyền )
      • Kinh Tạng Nam Truyền
        • KINH TẠNG NAM TRUYỀN (PALI TẠNG / NIKAYA)
        • Sơ Đồ Kinh Điển Tam Tạng Pāli (Tipiṭaka)
    • Linh Sơn Pháp Bảo Đại Tạng Kinh – Tạng Kinh Bắc Truyền
    • Càn Long Đại Tạng Kinh
    • TAM TẠNG THÁNH ĐIỂN PHẬT GIÁO VIỆT NAM
    • Đại Tạng Kinh Bắc Truyền Hán Tạng Việt Tạng
      • Bộ A Hàm – Tạng Kinh Bắc Truyền
      • Bộ Bản Duyên – Tạng Kinh Bắc Truyền
      • Bộ Bát Nhã – Tạng Kinh Bắc Truyền
      • Bộ Pháp Hoa – Tạng Kinh Bắc Truyền
      • Bộ Hoa Nghiêm – Tạng Kinh Bắc Truyền
      • Bộ Bảo Tích – Tạng Kinh Bắc Truyền
      • Bộ Niết Bàn – Tạng Kinh Bắc Truyền
      • Bộ Đại Tập – Tạng Kinh Bắc Truyền
      • Bộ Kinh Tập – Kinh Tạng Bắc Truyền
      • Bộ Mật Giáo – Tạng Kinh Bắc Truyền
      • Bộ Luật – Tạng Kinh Bắc Truyền
      • Bộ Thích Kinh Luận – Tạng Kinh Bắc Truyền
      • Bộ Tỳ Đàm – Tạng Kinh Bắc Truyền
      • Bộ Trung Quán Luận – Tạng Kinh Bắc Truyền
      • Bộ Du Già – Tạng Kinh Bắc Truyền
      • Bộ Luận Tập – Tạng Kinh Bắc Truyền
      •  Bộ Kinh Sớ – Tịnh Độ Tông – Tạng Kinh Bắc Truyền
      •  Bộ Kinh Sớ – Thiền Tông – Tạng Kinh Bắc Truyền
      • Bộ Luật Sớ – Tạng Kinh Bắc Truyền
      • Bộ Chư Tông – Tạng Kinh Bắc Truyền
      • Bộ Sử Truyện – Tạng Kinh Bắc Truyền
      • Bộ Sự Vị – Tạng Kinh Bắc Truyền
      • Bộ Ngoại Giáo – Tạng Kinh Bắc Truyền
      • Bộ Cổ Dật – Tạng Kinh Bắc Truyền
      • Bộ Nghi Tự – Tạng Kinh Bắc Truyền
      • Bộ Mục Lục – Tạng Kinh Bắc Truyền
  • Luật
  • Luận
  • Ebook – Mp3
  • Privacy Policy
  • Home
  • Kinh
    • Kinh Tạng Nam Truyền
      • kinh trường bộ
      • kinh trường bộ html
      • Kinh Trung Bộ
      • Kinh Tương Ưng Bộ
      • Kinh Tăng Chi Bộ
      • KInh Tiểu Bộ
      • Tạng Vi Diệu Pháp
      • Luật Tạng ( Nam Truyền )
      • Kinh Tạng Nam Truyền
        • KINH TẠNG NAM TRUYỀN (PALI TẠNG / NIKAYA)
        • Sơ Đồ Kinh Điển Tam Tạng Pāli (Tipiṭaka)
    • Linh Sơn Pháp Bảo Đại Tạng Kinh – Tạng Kinh Bắc Truyền
    • Càn Long Đại Tạng Kinh
    • TAM TẠNG THÁNH ĐIỂN PHẬT GIÁO VIỆT NAM
    • Đại Tạng Kinh Bắc Truyền Hán Tạng Việt Tạng
      • Bộ A Hàm – Tạng Kinh Bắc Truyền
      • Bộ Bản Duyên – Tạng Kinh Bắc Truyền
      • Bộ Bát Nhã – Tạng Kinh Bắc Truyền
      • Bộ Pháp Hoa – Tạng Kinh Bắc Truyền
      • Bộ Hoa Nghiêm – Tạng Kinh Bắc Truyền
      • Bộ Bảo Tích – Tạng Kinh Bắc Truyền
      • Bộ Niết Bàn – Tạng Kinh Bắc Truyền
      • Bộ Đại Tập – Tạng Kinh Bắc Truyền
      • Bộ Kinh Tập – Kinh Tạng Bắc Truyền
      • Bộ Mật Giáo – Tạng Kinh Bắc Truyền
      • Bộ Luật – Tạng Kinh Bắc Truyền
      • Bộ Thích Kinh Luận – Tạng Kinh Bắc Truyền
      • Bộ Tỳ Đàm – Tạng Kinh Bắc Truyền
      • Bộ Trung Quán Luận – Tạng Kinh Bắc Truyền
      • Bộ Du Già – Tạng Kinh Bắc Truyền
      • Bộ Luận Tập – Tạng Kinh Bắc Truyền
      •  Bộ Kinh Sớ – Tịnh Độ Tông – Tạng Kinh Bắc Truyền
      •  Bộ Kinh Sớ – Thiền Tông – Tạng Kinh Bắc Truyền
      • Bộ Luật Sớ – Tạng Kinh Bắc Truyền
      • Bộ Chư Tông – Tạng Kinh Bắc Truyền
      • Bộ Sử Truyện – Tạng Kinh Bắc Truyền
      • Bộ Sự Vị – Tạng Kinh Bắc Truyền
      • Bộ Ngoại Giáo – Tạng Kinh Bắc Truyền
      • Bộ Cổ Dật – Tạng Kinh Bắc Truyền
      • Bộ Nghi Tự – Tạng Kinh Bắc Truyền
      • Bộ Mục Lục – Tạng Kinh Bắc Truyền
  • Luật
  • Luận
  • Ebook – Mp3
  • Privacy Policy
Close

Search

Home/Kinh Tạng Bắc Truyền/Bộ A Hàm/Tu Đạt Kinh – Bộ A Hàm
Bộ A Hàm

Tu Đạt Kinh – Bộ A Hàm

By admin
16 Min Read
Comments Off on Tu Đạt Kinh – Bộ A Hàm

Tu Đạt Kinh
[須達經]

Nguyên bản Hán văn – Bản khắc Càn long – Vĩnh Lạc Đại Điển – CBETA

Bản chia sẻ của CBETa

Tu Đạt Kinh
[須達經]

  thuộc tập T01, kinh số 73, tổng cộng 1 quyển, – Tiêu Tề Cầu Na Tỳ Địa dịch,

Tu Đạt Kinh [須達經]Download
Nguyên Bản Chữ Hán

Tu Đạt Kinh
[須達經]

( Bản khắc gỗ Càn long và Vĩnh Lạc Đại Điển )

Bản Khắc Càn Long

Tu Đạt Kinh [須達經] (1)Download

Vĩnh Lạc Đại Điển

Tu Đạt Kinh [須達經] (2)Download

Bản Dịch Tiếng Việt

Bộ A Hàm

Linh sơn pháp bảo đại tạng kinh

Tu Đạt Kinh
[須達經]

  thuộc tập T01, kinh số 73, tổng cộng 1 quyển, – Tiêu Tề Cầu Na Tỳ Địa dịch,

Kinh Tu Ðạt

Việt dịch: Thích Chánh Lạc

Nghe như vầy:
Một thời Bạt Già Bà ở tại vườn ông Cấp Cô Ðộc, rừng cây ông Kỳ Ðà, thành Xá Vệ. Bấy giờ cư sĩ Tu Ðạt đi đến chỗ đức Thế Tôn, đến rồi đảnh lễ dưới chân đức Thế Tôn xong ngồi qua một bên. Cư sĩ Tu Ðạt ngồi qua một bên xong, đức Thế Tôn hỏi rằng:
–Này cư sĩ, gia đình cư sĩ có thực hành hạnh bố thí chăng?
Cư sĩ trả lời:
–Dạ có, bạch Thế Tôn, gia đình con có bố thí nhưng chỉ bố thí những thức thô xấu, không phải diệu mỹ, như cơm lẫn với cám, canh lá gai chỉ có một miếng gừng để thí.
Ðức Thế Tôn bảo:
–Này cư sĩ, dù bố thí những thức thô xấu hay bố thí những thức mỹ diệu, cả hai đều có quả báo. Nhưng này cư sĩ, nếu bố thí những thức ăn thô xấu, kẻ ấy không có lòng tin mà bố thí, bố thí không đúng lúc, không tự tay bố thí, không tự mình đến để bố thí, không biết, không có tín tâm cũng không biết có quả báo mà bố thí, thì nên biết rằng sẽ thọ quả báo đúng như thế, ý không muốn cho phòng xá tốt đẹp, cũng không muốn cho áo quần tốt đẹp, cũng không muốn cho đồ ẩm thực ngon lành, cũng không muốn cho ngũ dục công đức tốt đẹp. Vì sao? Người cư sĩ này vì không chí tâm bố thí và có quả báo như vậy. Này cư sĩ đó là người không chí tâm bố thí.


Này cư sĩ, người thực hành bố thí mà có tín tâm, tùy thời mà bố thí, tự tay bố thí, đi đến để bố thí, có tri, có tín, biết có quả báo nhân duyên mới hành bố thí. Nên biết người ấy có quả báo như vầy: Ý muốn gia đình tốt đẹp, nghiệp báo cực tốt, đồ dùng cực đẹp, áo quần cực đẹp, muốn đồ ăn, thức uống ngon lành, muốn được ngũ dục công đức tốt đẹp. Vì sao? Cư sĩ nên biết, kẻ ấy chí tâm bố thí.


Này cư sĩ, nếu bố thí những thức mỹ diệu nhưng không có tín tâm mà bố thí, không tùy thời mà bố thí, không tự tay bố thí, không đến để bố thí, cũng không biết cũng không tin, cũng không biết có nhân duyên hành quả báo mà thực hành bố thí, nên biết kẻ ấy sẽ thọ báo đúng như thế, ý cũng không muốn cho gia nghiệp tốt đẹp, cũng không muốn cho y phục tốt đẹp, cũng không muốn đồ ăn ngon lành, cũng không muốn ngũ dục công đức tốt đẹp. Vì sao? Này cư sĩ, vì đây là không hết lòng bố thí.


Này cư sĩ, nếu bố thí những thức mỹ diệu, tín tâm ưa thích bố thí, tùy thời thí, tự tay bố thí, tự mình đến để bố thí, có trí, có tín, biết có hạnh quả báo mà hành bố thí. Nên biết kẻ ấy sẽ được quả báo đúng như vậy. Ðó là tâm muốn gia nghiệp tốt đẹp, cho đến muốn đồ ăn, thức uống, ngũ dục công đức tốt đẹp. Vì sao?
Này cư sĩ, nên biết như vậy vì kẻ ấy tùy thời bố thí nên có quả báo ấy. Vì sao?
Này cư sĩ, thuở xưa ở đời quá khứ có một bà la môn tên là Tỳ Lam, rất giàu có, của cải vô lượng, vị ấy đã làm một cuộc bố thí lớn như vầy: lấy tám vạn bốn ngàn bát bằng vàng đựng đầy bạc, vị ấy thực hành đại bố thí như vầy: l
ấy tám vạn bốn ngàn bát bằng bạc đựng đầy vàng,
vị ấy thực hành đại bố thí như vầy: lấy tám vạn bốn ngàn thớt voi được trang sức đầy đủ, voi trắng như tuyết,
vị ấy thực hành đại bố thí như vầy: lấy tám vạn bốn ngàn con ngựa được trang sức đầy đủ dây vàng xâu ngọc, thực hành đại bố thí như sau: lấy tám vạn bốn ngàn con trâu, lấy áo làm dây thừng, trâu thường cung cấp một hộc sữa,
vị ấy thực hành đại bố thí như vầy: dùng tám vạn bốn ngàn ngọc nữ đoan chánh, đẹp đẽ, trang sức đầy đủ châu báu,
vị ấy thực hành đại bố thí như vầy: ngoài ra còn có thức ăn mỹ vị nhiều vô số kể.
Ðó là, này cư sĩ, bà la môn rất giàu có tên là Tỳ Lam ấy đã thực hành đại bố thí như vậy: bố thí cho người phàm phu ở cõi Diêm Phù Ðề, nhưng phước ấy không bằng cúng thí cho một vị tiên nhơn.
Này cư sĩ, tuy bà la môn rất giàu có tên là Tỳ Lam ấy đã thực hành đại bố thí như vậy: thí cho nhơn tiên ở cõi Diêm Phù Ðề này, nhưng không bằng phước đức cúng cho một vị Tu Ðà Hoàn sẽ được nhiều hơn.
Này cư sĩ, tuy bà la môn rất giàu có tên là Tỳ Lam ấy cúng thí cho người phàm phu, tiên nhơn và một trăm vị Tu Ðà Hoàn cõi Diêm Phù Ðề không bằng cúng thí cho một vị Tư Ðà Hàm, phước đức nhiều hơn.
Này cư sĩ, tuy bà la môn rất giàu có tên là Tỳ Lam ấy đã thực hành đại bố thí như vậy, thí cho người phàm, tiên nhơn, một trăm vị Tu Ðà Hoàn và một trăm vị Tư Ðà Hàm ở Diêm Phù Ðề không bằng cúng dường cho một vị A Na Hàm được phước đức nhiều hơn.
Này cư sĩ, tuy bà la môn rất giàu có tên là Tỳ Lam ấy đã thực hành đại bố thí như vậy, thí cho người phàm,… một trăm vị A Na Hàm ở Diêm Phù Ðề không bằng cúng dường cho một vị A La Hán được phước đức nhiều hơn.
Này cư sĩ, tuy bà la môn rất giàu có tên là Tỳ Lam ấy đã thực hành đại bố thí như vậy, thí cho người phàm,… một trăm vị A La Hán ở Diêm Phù Ðề không bằng cúng dường cho một vị Bích Chi Phật, được phước đức nhiều hơn.
Này cư sĩ, tuy bà la môn rất giàu có tên là Tỳ Lam ấy đã thực hành đại bố thí như vậy, thí cho người phàm,… một trăm vị Bích Chi Phật ở Diêm Phù Ðề không bằng cúng dường cho đức Như Lai, bậc Vô sở trước, Ðẳng chánh giác, được phước đức nhiều hơn.
Này cư sĩ, tuy bà la môn rất giàu có tên là Tỳ Lam ấy đã thực hành đại bố thí như vậy, bố thí cho người phàm phu,… một trăm vị Bích Chi Phật ở Diêm Phù Ðề không bằng tạo lập phòng xá để cúng dường cho bốn phương tăng, được phước đức nhiều hơn.
Này cư sĩ, tuy bà la môn rất giàu có tên là Tỳ Lam ấy đã thực hành đại bố thí như vậy, bố thí cho người phàm phu, cho đến… tạo lập phòng xá để cúng dường cho bốn phương tăng ở cõi Diêm Phù Ðề cũng không bằng đem ý thanh tịnh thọ Tam tự quy: Phật, Pháp và Tỳ kheo Tăng giữ giới, được phước đức nhiều hơn.
Này cư sĩ, tuy bà la môn rất giàu có tên là Tỳ Lam ấy, thực hành sự đại bố thí ấy, bố thí cho người phàm phu ở cõi Diêm Phù Ðề, cho đến đem ý thanh tịnh phụng hành ba tự quy: Phật, Pháp và Tỳ kheo Tăng giữ giới không bằng đối với tất cả chúng sanh cho đến loài trâu, bò trải lòng từ chỉ trong khoảnh khắc, được phước đức nhiều hơn.
Này cư sĩ, tuy bà la môn rất giàu có tên là Tỳ Lam ấy thực hành sự bố thí như vậy, đối với những người phàm phu ở cõi Diêm Phù Ðề, cho đến tất cả chúng sanh phân biệt hạnh từ, kể cả thương yêu loài trâu, bò trong khoảnh khắc, không bằng đối với tất cả hành, tư duy, cho dù trong khoảng khắc thấy nó là vô thường, khổ, không, vô ngã, thì được phước đức nhiều hơn.
Này cư sĩ, ý ông nghĩ sao? Bà la môn rất giàu có tên là Tỳ Lam ấy là ai khác chăng? Chớ có nghĩ như vậy. Vị ấy chính là Ta vậy. Lúc ấy Ta là bà la môn rất giàu có tên là Tỳ Lam.
Như vậy, này cư sĩ, lúc ấy ta tự làm lợi ích cho mình và làm lợi ích cho người khác, lợi ích cho nhiều người, thương xót thế gian, mong cầu ý nghĩa, khoái lạc, an ổn cho trời và người. Ta thuyết pháp như vậy nhưng vẫn chưa rốt ráo, chưa rốt ráo vô xấu, chư rốt ráo phạm hạnh, chưa rốt ráo thành tựu phạm hạnh, vì vậy lúc ấy ta chưa thoát khỏi sự sanh, già, bệnh, chết, ưu sầu không vui, cũng chưa thoát khỏi khổ đau.
Này cư sĩ, nay ta là Như Lai xuất hiện thế gian, bậc Vô sở trước, Ðẳng chánh giác, Minh hạnh thành, là Thiện thệ, Thế gian giải, Vô thượng sĩ, Ðạo pháp ngự, Thiên nhơn sư, là Phật, Thế Tôn. Nay ta tự làm lợi ích cho mình, cũng làm lợi ích cho người khác, vì lợi ích nhiều người, thương xót người thế gian, cầu nghĩa lý, khoái lạc, an ổn cho trời và người. Nay ta thuyết pháp đến chỗ rốt ráo, rốt ráo vô cấu, rốt ráo phạm hạnh, rốt ráo hành phạm hạnh. Nên nay ta đã thoát khỏi sanh, già, bệnh, chết, ưu sầu, khổ, bất lạc. Ta đã thoát khỏi mọi khổ đau.
Ðức Phật thuyết như vậy, cư sĩ Tu Ðạt nghe đức Phật dạy xong, hoan hỷ vui mừng.

Kinh Tu Đạt

Việt dịch: Huyền Thanh

Nghe như vầy. Một thời Đức Bà Già Bà (Bhagavaṃ) ngự trong vườn Kỳ Thọ Cấp Cô Độc (Jeṭavaṇe’nāthapiṇḍadasyārāma) tại thành Xá-Vệ (Śrāvastya).

Khi ấy, Cư Sĩ Tu Đạt (Anāthapiṇḍada: là trưởng giả Cấp Cô Độc) đến nơi Đức Thế Tôn ngự. Đến xong, lễ bàn chân của Đức Thế Tôn rồi lui về ngồi một bên. Cư Sĩ Tu Đạt lui ra, ngồi một bên xong.
_ Đức Thế Tôn bảo rằng: “Có thể có Cư Sĩ tại gia đem cho tài vật (thí dữ) chăng?”
“Dạ thưa Đức Thế Tôn ! Người tại gia có bố thí nhưng chẳng thể là thức ăn uống tốt đẹp (diệu thực). Chỉ có trộn lẫn Đại Mạch, hạt mè làm canh; hoặc một củ gừng…đem cho”
_(Đức Thế Tôn nói) “Này Cư Sĩ ! Người đem cho những thứ chẳng tốt đẹp (phi diệu thí) với người đem cho thứ tốt đẹp (hữu diệu thí). Cả hai đều có quả báo.
Này Cư Sĩ ! Người đem cho những thứ chẳng tốt đẹp (phi diệu thí).
Kẻ ấy chẳng có niềm tin khi đem cho, cũng đem cho không đúng lúc, chẳng tự tay mình đem cho, cũng chẳng tự đi đến nơi đem cho, chẳng biết, chẳng có niềm tin, cũng chẳng biết có sự báo đáp mà thực hành bố thí (hành thí)…. nên biết có sự báo đáp như vậy.
Ý cũng chẳng ở tại nhà cửa, buồng phòng thuộc Diệu Hữu (cái có của sự chẳng phải là có). Ýcũng chẳng ở tại các vật tốt đẹp.
Ý cũng chẳng ở tại quần áo, cũng chẳng ở tại thức ănthơm ngon.
Ý cũng chẳng ở tại năm Lạc Dâm (sự mê hoặc khoái lạc của năm Dục hoặc năm Tình). Tại sao thế ?
Vì Cư Sĩ này thực hành Phi Thí Báo (Chẳng phải là sự báo đáp do chân thật đem cho)
_ Cư Sĩ ! Người hành Phi Thí (? Đem cho thứ chẳng thơm ngon tốt đẹp) thì nên có niềm tin, tùy theo Thời đem cho, tự tay mình đem cho, đi đến tận nơi đem cho, có hiều biết, có niềm tin, biết có nhân duyên báo đáp mà đem cho. Nên biết điều ấy có sựbáo đáp này. Ý liền chẳng ở tại nghiệp báo của nhà cửa tốt đẹp, các vật dụng rất tốtđẹp, quần áo rất tốt đẹp; thức ăn rất tốt đẹp, Ý tác năm Lạc Dâm (sự mê hoặc khoái lạc của năm Dục hoặc năm Tình). Tại sao thế ? Này Cư Sĩ ! Nên biết kẻ ấy có sự đem cho chân thật (Hữu Thí).


_ Này Cư Sĩ ! Người hành Diệu Thí (đem cho thứ thơm ngon tốt đẹp) nhưng chẳng có niềm tin khi đem cho, đem cho chẳng đúng lúc, chẳng tự tay mình đem cho, chẳng đi đến chỗ đem cho, cũng chẳng hiểu biết, cũng chẳng có niềm tin, cũng chẳng biết có Nhân Duyên lưu chuyển tạo ứng quả báo mà thực hành đem cho. Nên biết kẻấy thọ nhận sự báo đáp như vậy. Ý chẳng ở tại nghiệp nhà cửa tốt đẹp, Y cũng chẳngở tại quần áo tốt đẹp, Ý cũng chẳng ở tại thức ăn tốt đẹp, Ý cũng chẳng ở tại năm Lạc Dâm (sự mê hoặc khoái lạc của năm Dục hoặc năm Tình). Tại sao thế ? Này Cư Sĩ ! Đây là sự đem cho chẳng chân thật (Phi Thí).


_ Này Cư Sĩ ! Diệu Hảo Thí (sự đem cho tốt đẹp mầu nhiệm) là tin tưởng ưa thích đem cho, tự tay mình đem cho, đi đến tận nơi đem cho, có hiểu biết, có niềm tin, biết có quả báo của sự lưu chuyển tạo ứng mà thực hành đem cho. Nên biết kẻ ấyđược sự báo đáp như vậy. Ý ở tại nghiệp nhà cửa tốt đẹp, cho đến năm Lạc Dâm (sựmê hoặc khoái lạc của năm Dục hoặc năm Tình) tốt đẹp, Ý ở tại thức ăn. Tại sao thế ? Này Cư Sĩ ! Nên như vậy, tùy theo thời được Thí Báo (sự báo đáp do chân thật đem cho).


Tại sao thế ? Này Cư Sĩ ! Xưa kia vào đời quá khứ có vị Đại Bà La Môn Tỳ Lam đại phú rất giàu có, nhiều tiền tài, nhiều các vật tạp.

Vị ấy như vậy làm Đại Thí (bố thí rộng lớn).
Đem tám vạn bốn ngàn cái bát bằng vàng chứa đầy bạc vụn.
Vị ấy như vậy làm Đại Thí. Đem tám vạn bốn ngàn cái bát bằng bạc chứa đầy vàng vụn.
Vị ấy như vậy làm Đại Thí.V ị ấy đem tám vạn bốn ngàn con voi, các vật dụng nghiêm sức voi, trắng như tuyết.
Vị ấy như vậy làm Đại Thí. Đem tám vạn bốn ngàn con ngựa, các vật dụng nghiêm sức, vàng ròng làm dây đeo.
Như vậy làm Đại Thí. Đem tám vạn bốn ngàn con bò, dùng áo cột buộc, vật khí chứa đầy trấu cho bò ăn.
Vị ấy như vậy làm Đại Thí. Đem tám vạn bốn ngàn Ngọc Nữ đoan chính xinh đẹp, tất cả các dây đeo rất nghiêm sức.
Như vậy làm Đại Thí. Còn lại, chẳng thể tính đếm thức ăn với các Vị khác.


_ Này Cư Sĩ ! Tuy vị Tỳ Lam Bà La Môn rất giàu có ấy đã làm Đại Thí như vậy, đem cho người phàm phu của cõi Diêm Phù Đề (Jampu-dvīpa), thời chẳng thà đem cho một vị Tiên Nhân (Ṛṣi) kia sẽ được Phước nhiều hơn.


Này Cư Sĩ ! Tuy vị Tỳ Lam Bà La Môn rất giàu có ấy đã làm Đại Thí như vậy, đem cho Tiên Nhân của cõi Diêm Phù Đề, thời chẳng bằng đem cho một vị Tu Đà Hoàn (Srotāpanna), việc này được Phước nhiều hơn.


Này Cư Sĩ ! Tuy vị Tỳ Lam Bà La Môn rất giàu có ấy, đem cho người phàm phu với Tiên Nhân, một trăm vị Tu Đà Hoàn của cõi Diêm Phù Đề, thời chẳng bằng đem cho một vị Tư Đà Hàm (Sakṛdāgāmi), việc này được Phước nhiều hơn.


Này Cư Sĩ ! Tuy vị Tỳ Lam Bà La Môn rất giàu có ấy làm như vậy, đem cho người phàm phu, Tiên Nhân, một trăn vị Tu Đà Hoàn, một trăm vị Tư Đà Hàm của cõi Diêm Phù Đề, thời chẳng bằng đem cho một vị A Na Hàm (Anāgāmi), việc này được Phước nhiều hơn.


Này Cư Sĩ ! Tuy vị Tỳ Lam Bà La Môn rất giàu có ấy, đem cho người phàm phu cho đến một trăm vị A Na Hàm của cõi Diêm Phù Đề, thời chẳng bằng đem cho một vị A La Hán (Arhat) sẽ được Phước nhiều hơn.


Này Cư Sĩ ! Tuy vị Tỳ Lam Bà La Môn rất giàu có ấy, làm như vậy, đem cho người phàm phu cho đến một trăm vị A La Hán của cõi Diêm Phù Đề, thời chẳng bằng đem cho một vị Bất Chi Phật (Pratyeka-buddha) sẽ được Phước nhiều hơn.


Này Cư Sĩ ! Tuy vị Tỳ Lam Bà La Môn rất giàu có ấy làm sự bố thí như vậy, đem cho người phàm phu cho đến một trăm vị Bích Chi Phật của cõi Diêm Phù Đề, thời chẳng bằng đem cho Đức Như Lai Vô Sở Trước Đẳng Chính Giác (Tathāgata¬arhate-samyaksaṃbuddha), việc này được Phước nhiều hơn.


Này Cư Sĩ ! Tuy vị Tỳ Lam Bà La Môn rất giàu có ấy làm sự bố thí như vậy, đem cho người phàm phu cho đến một trăm vị Bích Chi Phật của cõi Diêm Phù Đề, (thời chẳng bằng) làm phòng xá xong, đem cho Chiêu Đề Tăng (Cātur-diśa: phòng giành cho chư Tăng ở bốn phương) sẽ được Phước nhiều hơn.


Này Cư Sĩ ! Tuy vị Tỳ Lam Bà La Môn rất giàu có ấy làm sự bố thí như vậy, đem cho người phàm phu của cõi Diêm Phù Đề, cho đến làm phòng xá xong, đem cho Chiêu Đề Tăng (Tăng chúng ở bốn phương) thời chẳng bằng dùng Ý trong sạch, làm ba Tự Quy: Phật (Buddha), Pháp (Dharma) với Tỳ Khưu Tăng (Bhikṣu¬saṃgha), thọ nhận Giới ấy. Việc này được Phước nhiều hơn.


Này Cư Sĩ ! Tuy vị Tỳ Lam Bà La Môn rất giàu có ấy làm Đại Thí như vậy, đem cho người phàm phu của cõi Diêm Phù Đề, cho đến dùng Hạnh trong sạch, ba Tự Quy: Phật (Buddha), Pháp (Dharma) với Tỳ Khưu Tăng (Bhikṣu-saṃgha), thọ nhận Giới ấy. …thời chẳng bằng đối với tất cả chúng sinh thực hành việc yêu thương giúp đỡ (Maitra: Từ) cho đến một khoảnh trâu bò. Việc này được Phước nhiều hơn.


Này Cư Sĩ ! Tuy vị Tỳ Lam Bà La Môn rất giàu có ấy làm như vậy, đem cho người phàm phu của cõi Diêm Phù Đề, cho đến tất cả chúng sinh thực hành việc yêu thương giúp đỡ (Maitra: Từ) bên dưới cho đến một khoảnh trâu bò. Nói rằng: “Tất cả Hành (Saṃskāra:việc tạo làm) đều Vô Thường (Anitya: không có thường hằng), Khổ (Duḥkha: cái gì xấu bởi vì nó trống rỗng, không thật, bất toàn, vô thường, hư giả, không làm thỏa mãn), Không (Śūnya: trống rỗng), Vô Ngã (Anātman, hoặc Nir¬ātman: không có cái Ta)” rồi suy tư nghĩ nhớ, bên dưới cho đến một khoảng búng ngón tay thì việc này được Phước nhiều hơn.


_ Này Cư Sĩ ! Ông tác niệm như vầy: “Vị Cư Sĩ Tỳ Lam Bà La Môn rất giàu có ấy là ai khác chăng ?”. Đừng tác niệm này, vì Ta tức là vị Bà La Môn rất giàu có tên là Tỳ Lam ấy


Như vậy Cư Sĩ ! (Khi ấy Ta) tự làm lợi ích cho mình với làm lợi ích cho người khác, lợi ích cho nhiều người, thương lo cho Thế Gian, đem Nghĩa, đem niềm vui, sự an ổn cho hàng Trời với loài Người. Như vậy vì họ nói Pháp nhưng chưa đến sự tận hết tối hậu, chưa đến sự không dơ bẩn tối hậu, chưa đến Phạm Hạnh tối hậu, chưa đến sự hành Phạm Hạnh tối hậu. Vì điều ấy chưa thoát khỏi sinh, già, bệnh, lo lắng, ưa thích, chẳng vui …. Ta nói là chưa thoát được khổ.


Này Cư Sĩ ! Như Lai (Tathāgata) là bậc ra khỏi Thế Gian, là bậc Vô Sở Trước (Arhat: Bậc không có chỗ dính mắc, tức là là A La Hán), là bậc Đẳng Chính Giác (Samyak-saṃbuddha:Bậc chân chính hiểu biết đúng tất cả các Pháp), là bậc Minh Hạnh Thành (Vidyā-caraṇa-saṃpanna: Bậc có đầy đủ Trí Tuệ và Đức Hạnh), là bậc Thiện Thệ (Sugata: Bậc khéo đi đến nẻo lành), là bậc Thế Gian Giải (Loka-vid: Bậc đã thấu hiểu Thế Gian), là bậc Vô Thượng Sĩ (Anuttara: Bậc tối cao không có ai vượt qua) là bậc Đạo Pháp Ngự [hay Điều Ngự Trượng Phu (Puruṣadamyasārathi) tức là bậc đã điều chỉnh được mình và nhân loại], là bậc Thiên Nhân Sư (Śāstra-deva¬manuṣyānāṃ: Bậc thầy của cõi Trời và cõi Người), là Phật Thế Tôn (Buddha¬lokanātha: Bậc có Giác Tuệ được Thế Gian tôn kính). Nay tự mình làm, vì người khác, vì nhiều người, thương lo cho Thế Gian…cho nên đem Nghĩa, đem niềm vui, sự an ổn cho hàng Trời với loài Người.


Nay Ta vì ông nói Pháp đi thẳng đến sự tận hết tối hậu, đi thẳng đến sự không dơ bẩn tối hậu, đi thẳng đến Phạm Hạnh tối hậu, đi thẳng đến sự hành Phạm Hạnh tối hậu. Nay đã được thoát khỏi sinh, già, bệnh, lo lắng, ưa thích, chẳng vui khổ. …Ta nói đã lìa được khổ”.
Đức Phật nói như vậy. Cư Sĩ Tu Đạt nghe điều Đức Phật đã nói, vui vẻ ưa thích.
PHẬT NÓI KINH TU ĐẠT
_Hết_

Tags:

bộ a hàmHuyền Thanhkinh chữ hánKinh Tạng Bắc TruyềnThích Chánh Lạc
Author

admin

Follow Me
Other Articles
Tam Quy Ngũ Giới Từ Tâm Yếm Li Công Đức Kinh [三歸五戒慈心厭離功德經]
Previous

Tam Quy Ngũ Giới Từ Tâm Yếm Li Công Đức Kinh – Bộ A Hàm

Trưởng Giả Thí Báo Kinh [長者施報經]
Next

Kinh Quả Báo Trưởng Giả Bố Thí

Bồ Tát Long Thọ bộ a hàm Bộ A hàm - Tam Tạng Thánh Điển Bộ Bát Nhã Bộ Bản Duyên Bộ Bản Duyên - Tam Tạng Thánh Điển Phật Giáo Việt Nam Bộ Du Già Luận Bộ Kinh Sớ chưa dịch Huyền Thanh kinh chữ hán Kinh trung bộ kinh trường bộ kinh trường bộ html Kinh Tạng Bắc Truyền Kinh Tạng Chữ Hán Linh Sơn Pháp Bảo Đại Tạng Kinh luận Nguyên Huệ Nguyên Thuận Nguyễn Minh Tiến pdf TAM TẠNG PHẬT GIÁO BỘ PHÁI tam tạng thánh điển phật giáo Việt Nam Tam Tạng Thượng Toạ Bộ THÍCH THIỆN SIÊU Thích Bảo Lạc Thích Chánh Lạc thích minh châu Thích Thanh Từ Thích Trí Tịnh Thích Tuệ Sỹ Thích Tâm Châu Thích Tâm Hạnh Thất dịch Trường A Hàm Tùy Kiết Tạng Tùy Đạt Ma Cấp Đa Tăng Nhất A Hàm Tạp A Hàm Tạp Tạng Vô Trước Bồ Tát Đoàn Trung Còn Đường Khuy Cơ Đại Tạng Kinh Tiếng Việt

Copyright 2026 — Tàng Kinh Các. All rights reserved.